Thứ Hai, 17 tháng 1, 2011

Truyện thiếu nhi CHIẾC LÁ BIẾT BAY

    
           
Chiếc lá biết bay
Truyện thiếu nhi của Trọng Bảo
        Có một chiếc lá non nhỏ bé vừa nhú ra trên cành cây cao.
        Nó ngạc nhiên thấy các anh chị nó sinh ra trước cứ xúm xít xúm quanh che chở cho nó khi có gió lớn. Nó ngó nhìn bầu trời rồi hỏi:
        - Tại sao mây lại bay được mà chúng ta lại cứ bám chặt vào cành cây mãi như thế này?
        - Vì ta là lá thì phải ở trên cành cây chứ!

         Một người chị của nó bảo. Chiếc là non nói:
        - Nhưng em muốn được bay như những đám mây cơ!                       
        - Em không thể bay được đâu!
        - Nhất định em sẽ bay... sẽ bay...

       Chiếc lá non bướng bỉnh. Các anh chị khuyên giải thế nào nó không chịu nghe. Nó chỉ muốn được bay lên trời như những đám mây trắng kia. Nhất định khi bay lên cao nó sẽ tha hồ ngắm cảnh núi sông hùng vĩ, bao la. Nghĩ vậy nên nó không thèm nghe lời của các anh chị. Nó quyết tâm phải bay lên trời cao. Ý chí ấy luôn luôn nung nấu trong nó. Nó đã có cách.
        Hôm đó trời có giông bão lớn. Khi các anh chị gọi nó thu mình lại nép vào các anh chị để tránh gió mạnh nhưng nó không nghe. Các anh chị ra đời trước cuống lá đã cứng cáp, bám rất chắc vào cành cây nên gió to, bão lớn không hề chi. Còn chiếc lá non thì cuống vẫn rất yếu, bám chưa vững vào cành cây. Nhưng nó không sợ. Vì nó muốn bay nên mặc lời khuyên nhủ của các anh chị, nó cứ nhô ra trước gió lớn.
        Gió mỗi lúc một mạnh hơn. Chiếc là non reo lên:

         - Bay lên... bay lên đi...
        Mấy anh chị cố níu kéo nó vào lòng nhưng nó kiên quyết giằng thoát ra bằng được.
        - Bay lên đi... bay... lên...đi...
        Tiếng nó gào to hơn. Bỗng "phựt" một cái, chiếc là nhỏ bị gió mạnh bứt rời cuống khỏi cành cây cuốn bay vút lên trời. "A! Thích quá! Thích quá!" - Nó reo to khi thấy mình bồng bềnh giữa những đám mây. Đất trời mênh mông quá. Nó cười khanh khách khi quay lại nhìn thấy các anh chị của nó vẫn đang dúm dó ôm lấy nhau bám chặt vào cành cây. Nó càng cười to hơn khi thấy một đàn chim đang bay nháo nhác gọi nhau sà xuống tìm những tán cây để tránh bão.
        Vùn vụt với tốc độ của gió, chiếc lá nhỏ đã bay lên tới tận lưng trời.
        Nhưng giữa khi chiếc lá nhỏ đang lâng lâng sung sướng vì nó hơn hẳn các anh chị là đã biết bay thì chợt nghe tiếng rào rào. Nó hốt hoảng khi thấy những hạt mưa đang ầm ầm trút xuống. Mưa to quá. Chiếc lá nhỏ bị mưa ném vào tới tấp, đẩy nó quay cuồng rồi rơi xuống một dòng suối. Nước lũ réo ầm ầm cuốn nó trôi đi ngay. Một lúc sau chiếc lá nhỏ đã rách nát, tơi tả. Nó vật vờ rạt vào bờ suối đầy bùn lầy, bẩn thỉu. Một lão cua lấp ló ở cửa hang giơ càng ra định kéo nó vào làm chỗ cho lũ con bò lên chơi. Bây giờ chiếc lá nhỏ mới thấy đói và rét. Nó bật khóc nức nở. Nó chỉ muốn quay về với các anh chị trên cành cây cao nhưng không thể được nữa rồi. Nó thấy vô cùng ân hận. Sức lực mỗi lúc một yếu đi, màu xanh non của chiếc lá nhỏ không còn nữa.
       Thế là, chỉ vì một sự ảo tưởng, ngông cuồng, bột phát của mình mà chiếc lá non đã phải trả giá. Một cái giá rất đắt.
                                                                 Hà Nội, ngày 1-6-2009
                              

Thứ Năm, 13 tháng 1, 2011

Truyện ngắn Người thổi tù và trên bến sông

Người thổi tù và trên bến sông
    Trọng Bảo
                                                              
          Lão Vận bước vào chợ. Đàn nhặng xanh thấy động vù vù tạo nên những âm thanh u u u... Buổi chiều chợ không họp, chỉ có mấy phản thịt phía ngoài cổng của những tay chuyên giết mổ là bán cả ngày. Lão Vận ném cái chổi và cái xẻng cùn xuống đất. Việc đầu tiên của lão là cầm cái bao tải rách đi thu hồi "chiến lợi phẩm". Đó là những thứ mà những người mua bán buổi sáng còn bỏ lại. Lão nhặt những cái túi ni lông còn lành đem ra bến sông giặt sạch bán lại cho những người chuyên bán cá, bán cua đựng cua cá cho khách hàng. Hạt bí, hạt mít lão để riêng đem rửa sạch, phơi khô, tích lũy phòng khi giáp hạt hết gạo. Hạt nhãn, hạt vải lão nhặt đem lên đồi hoặc ngoài bãi hoang vùi xuống đất mong sẽ có hạt nảy thành cây, đơm hoa, cho quả.
          Sau khi nhặt nhạnh khắp chợ, lão bắt đầu quét dọn. Lão quét kỹ từng dãy lều quán, đùn rác về phía cuối chợ. Chợ quê nghèo, chỉ là những cái lán che bằng rơm rạ, thấp lè tè. Cách nhật chợ mới họp một phiên. Người ta gánh hàng đến, trải một mảnh ni lông ra bày bán. Những thứ thải loại, rác, vỏ dưa, vỏ dừa vứt ngay tại chỗ. Lão Vận quét dọn cật lực hơn một ngày chợ mới sạch sẽ. Rồi chợ lại họp, rác rưởi lại ngập ngụa, lão lại dọn dẹp vào buổi chiều và cả hôm sau ngày chợ không họp. Cứ như thế, lặp đi, lặp lại công việc của đời người quét chợ.
          Thực ra, lão Vận mới chỉ làm người quét chợ được độ bảy, tám năm nay. Trước kia, lão là người chở đò ngang sông Đáy. Dòng sông Đáy mỏng manh như một sợi chỉ nằm dưới chân núi Tam Đảo. Nhưng khi mùa mưa, nước lũ từ thượng nguồn đổ về, dòng sông phình ra, cuồn cuộn. Lúc mùa khô, những tháng cuối năm thì nước lại trong veo, sâu chỉ săm sắp bắp chân nhìn rõ cả cá, tôm và đá sỏi dưới đáy. Ngày ấy, lão Vận cũng chỉ chèo đò theo mùa nước. Mùa khô, lão lôi con thuyền lên bãi rồi vào rừng chặt củi bán kiếm tiền đong gạo. Khi người ta bắc một cây cầu to sừng sững ngang sông thì lão Vận thành người thất nghiệp. Lão bán con thuyền nhỏ cho những người nuôi cá bè, rồi lang thang đi làm thuê, gánh nước thuê cho mấy bà bán bún phở trong chợ. Chợ quê ngày ấy không có người quét "chuyên nghiệp" như bây giờ nên rác rưởi ngập ngụa. Mấy bà bán hàng thường phải thuê lão quét dọn quán của mình. Rồi gần như cả chợ mọi người đều thuê lão quét tước chỗ ngồi bán hàng.
 Dần dà, lão trở thành người quét chợ thuê. Tiếng là thuê, nhưng không phải ai cũng trả tiền cho lão, mà có cũng chẳng đáng kể. Bà bán cá thường trả công lão cái đầu cá mè. Anh hàng thịt đưa lão mẩu xương, hôm nào hứng lên cắt cho một đoạn dồi dài độ gang tay. Thường là người ta cho lão hai, ba trăm đồng. Nhưng phần lớn là làm ngơ, mặc dù buổi chợ, họ vẫn nhìn thấy lão gánh nước thuê vào các hàng quán. Lão Vận cũng chẳng đòi hỏi. Trước đây, lão quét thuê từng chỗ bán hàng cho các chủ sạp thì họ dứt khoát phải trả tiền. Bây giờ lão quét cả chợ thì lại như làm không công. Gần đây, chắc nhiều người có ý kiến, ông chủ tịch xã cân nhắc, nâng lên đặt xuống mãi mới quyết định "trả lương" cho lão bằng mười ki-lô-gam gạo một tháng. Nghe ra thì có vẻ to nhưng kỳ thực cũng chỉ bằng ba mươi nghìn đồng. Thôi thế cũng tốt, lão Vận có một khoản thu ổn định, đủ ăn, đỡ lận đận khi giáp hạt. Đời lão cũng đã xế chiều rồi, cần gì hơn nữa đâu.
          Quét xong tất cả các dãy quán trong chợ thì trời đã sập tối, lão Vận thu các thứ "chiến lợi phẩm" ra về. Đống rác góc chợ ngày mai lão mới đốt hoặc gánh ra đổ ngoài bờ sông. Lão xách cái đầu cá lần bước về nhà. Lão thôi chở đò nhưng túp lều của lão vẫn ở trên bến sông.
          Về đến gần nhà, lão huýt sáo và gọi:
          - Anh Cún đâu rồi!
          - Hực... - Một con chó to từ trong nhà phóng ra vẫy đuôi mừng rối rít. Nó ngoạm lấy ống quần lão kêu ư ử. Lão Vận vỗ về:
          - Đói lắm rồi hả! Để yên, tao nấu cơm cho mà ăn. Hôm nay có cái đầu cá trắm của bà Thơm cho đây này!
          Con chó phóng lên hè. Nó chồm hai chân trước đẩy cánh cửa mở ra rồi quay lại cào cào xuống đất ý mời lão vào nhà. Lão Vận châm đèn, tìm nồi nấu cơm. Con Cún cứ luẩn quẩn quanh lão. Thấy lão nhặt rau, nó cũng ngoạm một cọng rau muống cắn ra làm mấy đoạn. Lão vỗ vỗ vào đầu nó an ủi:
          - Yên nào! Mày không làm được đâu!
          Lão quay lại đun củi vào bếp. Con chó nhổm dậy. Nó dùng miệng ngoạm một cành củi đủn vào bếp. Đôi mắt nó sáng long lanh nhìn lão Vận như muốn hỏi làm như vậy có được không. Lão Vận gật gật đầu. Con Cún rên lên ăng ẳng vẻ phấn khởi lắm.
          Cơm chín, lão Vận chia ra làm hai phần. Một loa cơm của lão. Phần còn lại lão đổ vào cái lon sành cho con Cún. Cái đầu cá nấu canh lão chỉ gỡ được một chút thịt còn lại cho con chó cả. Con Cún vừa ăn vừa gừ gừ trong miệng. Nó có vẻ đói lắm. Cả ngày nó chỉ được ăn một bữa. Buổi sáng trước khi ra chợ, lão dặn nó: "Trông nhà nhé!" rồi đi. Buổi trưa lão ở luôn ngoài chợ. Ai cho gì, lão ăn nấy, khi thì bắp ngô, lúc khúc sắn luộc. Con Cún ở nhà, nó loanh quanh chui ra, chui vào túp lều. Đói quá thì nó lại lôi mấy khúc xương trâu, xương lợn khô khốc ra gặp suông để đánh lừa cái bụng. Biết thế nhưng lão Vận không thể đưa con chó ra chợ được. Nó to lớn chạy lông nhông ai cũng khiếp, với lại lão sợ nhất là bọn chuyên bắt trộm chó. Bữa tối, bao giờ lão cũng dành phần cơm nhiều hơn cho nó. Vài năm gần đây lão mới được ăn cơm. Trước kia khẩu phần của lão chủ yếu là sắn. Nồi cơm chỉ lơ thơ vài hạt gạo bám vào miếng sắn. Tàn tật, ốm yếu như lão có cái mà ăn là may lắm rồi. Con chó hình như cũng hiểu lão nghèo nên cho gì nó ăn nấy. Nồi cơm, nồi canh lão để ngay dưới đất nhưng dù có đói đến mấy nhưng không bao giờ nó lén ăn vụng. Nó là con vật trung thành. Lão Vận bảo nó coi nhà- mặc dù nhà lão chẳng có thứ gì đáng coi- thì đố ai dám lại gần túp lều của lão. Ngày chợ không có phiên, lão Vận mới cho nó đi theo. Trong khi lão dọn dẹp, quét tước thì con Cún lùng sục khắp chợ đuổi chuột hoặc tìm kiếm những khúc xương mà cánh giết mổ quăng ra đâu đó.
 Lão Vận chẳng còn vợ con. Vợ con lão chết trong trận bom bọn Mỹ rải xuống bến sông khi lão đang chặt củi trên rừng. Lão sống thui thủi một mình. Cạnh hố bom, lão chỉ đủ sức dựng lên một căn nhà nhỏ, gọi là túp lều cũng đúng. Con Cún là bạn thân thiết duy nhất của lão Vận. Lão sống gần như cô độc ngay cái làng mà thời mở cửa đang dần dần chuyển thành thị trấn này. Xung quanh túp lều của lão, những ngôi nhà cao tầng thi nhau mọc lên. Người ta bắt đầu ở sang, ăn sang và chơi sang nên càng ít người muốn gần với kẻ lam lũ, bần cùng. Trông lão lại có vẻ hơi dị dạng nên người ta càng ngại tiếp xúc. Chân phải lão không biết bị tật hay bị thương nên đi lại tập tễnh, khó khăn. Khi gánh nước thuê, thùng nước sóng sánh trào ra gần hết, nhưng khi quét chợ thì cái bước thấp, bước cao của lão lại làm cho nhát chổi dài hơn. Cùng trang lứa với lão bây giờ đều khá giả. Tuy họ không coi thường nhưng cũng chẳng ai muốn chuyện trò với lão. May mà lão còn có con chó làm bạn.
 Con chó là do lão nhặt được từ mấy năm trước. Hôm ấy, trời đã sâm sẩm tối, lão vẫn lội xuống sông giặt mấy cái túi ni-lông. Mưa ở thượng nguồn nên nước sông đang lên. Lúc lão đang chuẩn bị về thì chợt có một cái bao tải buộc túm miệng từ đâu trôi đến rạt vào chân lão. Lão giật bắn người vì trong đó có cái gì ngọ nguậy. Lão loạng choạng bước vội lên bờ, thở dốc. Ngày xưa bên kia sông là vùng tề, bọn giặc bắt được cán bộ du kích thường đưa lên phía đập nước tra tấn dã man. Có khi người bị đánh còn ngắc ngoải chúng cũng nhét vào bao tải thả trôi sông. Những xác người lập lờ dạt vào bến nước. Nhưng bây giờ là thời khác rồi. Lão Vận trấn tĩnh lại. Lão nhặt cành cây khều cái bọc vào lôi lên mở dây buộc dốc ngược. Lẫn trong đám giẻ rách tuột ra một con chó nhỏ. Nó ướt sũng nhưng vẫn còn ngọ nguậy. Lão đem nó về nhà đặt cạnh bếp lửa. Một lúc sau nó bắt đầu rên ư ử rồi ngóc cổ dậy. Nó nhìn lão, mắt chớp chớp vẻ biết ơn. Nhìn thân hình con chó còm nhom, sần sùi ghẻ lở, lão hiểu vì sao họ đã nhét nó vào bao vứt xuống sông. Lão Vận vét cơm nguội cho nó ăn. Hôm sau, lão xin diêm sinh về bôi trị ghẻ cho nó. Con chó ở với lão Vận từ đó. Mặc dù cũng bữa đói, bữa no, miếng được, miếng mất như lão nhưng con chó vẫn hồi sức và lớn nhanh. Sau một thời gian nó đã to lớn lộc ngộc. Nó khôn lắm. Có lần bọn trộm chó đem bả ném đợi nó ăn ngã xuống là tuồn vào bao tải đem đi. Nhưng nó chỉ ngửi mà không ăn. Ai cho cái gì nếu không được sự đồng ý của chủ thì nó không bao giờ tự ý ăn cả. Thấy con chó khôn, có người muốn mua, nhưng lão không chịu.
          Một đêm đầu mùa hạ, trăng sáng nhàn nhạt. Sau những cơn mưa liên tiếp, nước sông Đáy bắt đầu dâng lên cao ngập dần những bãi bồi ven bờ nơi mà khi mùa cạn người ta thường trồng ngô. Từng đàn cá trôi, cá chép bắt đầu kéo lên bãi bồi vật đẻ. Tiếng cá quẫy đành đạch. Chỗ nước nông, những con cá to hở cả lưng hoặc nằm nghiêng trắng lốp dưới ánh trăng mờ. Lão Vận gỡ cái nơm treo ở đầu nhà xuống, tìm một sợi dây để xâu cá. Trước khi ra bãi sông, lão còn rút chiếc tù và cài trên vách rúc lên mấy hồi báo cho dân làng biết có cá lên bãi.
          Lão Vận tay cầm đuốc, tay cầm nơm tập tễnh đuổi theo những con cá đang rạch phành phạch vào bãi bồi ngập nước. Lão chụp luôn được mấy con cá chép cỡ độ bàn tay. Xâu vội mấy con cá buộc vào thắt lưng, lão xách nơm đuổi theo một con cá khá to đang rạch ra phía sông. Lão giơ nơm chụp mạnh. Bỗng lão thấy hẫng một cái, nước ngập lút đầu. Lão bị trượt xuống một cái hố sâu mà khi sông cạn người ta đào moi lấy sỏi. Lão chới với buông cái nơm, bó đuốc tắt ngấm. Dòng nước xoáy cuốn ngay lấy lão. Lão cố ngoi lên, ú ớ kêu cứu. Bãi sông vắng làm gì có người mà kêu. Lão cố vùng vẫy. Nhưng cái chân dị tật của lão bỗng nhói lên thẳng đơ. Lão bị dòng nước xiết lôi dần ra xa bờ.
          Giữa lúc đó thì nghe "ùm" một tiếng như có người lao xuống nước. Con Cún đã đi theo lão từ lúc nãy, thấy chủ bị nạn nó liền lao xuống cứu. Nó bơi ngay đến chỗ lão. Nó ngoạm vào áo lão, cố kéo lão về phía bờ sông. Lão Vận ôm lấy con chó. Nó bơi rất khoẻ. Vào gần bờ, lão Vận túm được một cành cây mọc là là mặt nước. Con chó cũng vùng vẫy cố bơi vào bờ. Nhưng nó không có tay để túm lấy ngọn cây như lão Vận. Xoáy nước đẩy nó ra giữa sông.
          Lão Vận lóp ngóp bò được lên bờ ngồi thở rốc. Sực nhớ đến con Cún, lão hốt hoảng gào lên: "Cún... ơi! Cún... ơi...". Hình như có tiếng con chó kêu "ăng ẳng" mãi giữa sông, lẫn trong tiếng nước chảy ào ào. Lão Vận tập tễnh lần theo mép nước, xuôi phía hạ lưu. Vừa đi lão vừa gọi: "Cún ơi... mày đâu rồi... Cún ơi...". Tiếng lão nấc lên, yếu dần. Lão đau đớn thất thểu đi dọc bờ sông. Vừa đi lão vừa khóc. Lão khóc không thành tiếng. Đây có lẽ là lần thứ hai trong đời lão khóc. Lần thứ nhất là khi nhà bị bom, lão bới đất, tìm gom từng mảnh thi thể của vợ con. Lão đi đến mỏi chân theo dòng nước chảy. Dòng sông Đáy mỏng manh giữa những lũy tre xanh khi mùa cạn bây giờ đục ngầu, sôi sùng sục, hung dữ. Lão Vận ngồi phệt xuống sát mép nước. Lão cởi xâu cá vẫn đeo lủng lẳng bên hông ném xuống sông. Chưa bao giờ lão thấy căm thù dòng sông như thế.
Trời đã sáng hẳn, không hy vọng tìm thấy con chó, lão Vận đành quay về. Lão bước thập thõm trên con đê gồ ghề. Quần áo lão tả tơi, ướt sũng. Lão vừa đi vừa lầm rầm gọi con Cún. Nước mắt lão giàn giụa. Lão giơ tay chùi mặt. Lũ trẻ con chăn trâu trên đê rồng rắn chạy theo lão í ới:
          - Ê... Ê... có một ông điên chúng mày ơi!
          Mặc lũ trẻ ném bùn đất vào lưng, lão Vận cứ lầm lũi đi. Vừa về đến nhà lão ngã dụi xuống thềm. Lão lập cập cố cởi bộ quần áo ướt sũng và lấm lem bùn đất rồi lết lên giường.
          Lão ốm mấy ngày, bỏ cả quét chợ.
          Lão thương tiếc con chó. Lão cứ tự trách mình ham cá mà đã hại chết nó. Bữa bữa lão vẫn nấu nồi cơm nhỏ rồi xẻ làm đôi. Lão nhai trệu trạo vài miếng. Lon cơm phần của con chó sáng nào lão cũng phải bưng ra bến sông đổ xuống nước cho đàn cá mương đang lau nhau tìm mồi. Đêm chợt có tiếng chó kêu là lão lại bật dậy dỏng tai lắng nghe, chờ đợi. Một lần nhặt được khúc xương còn dính nhiều thịt lão đã bật khóc giữa chợ vì xót thương con chó. Lão như người mất hồn. Bà hàng bún mắng: "Lão này mắt mũi để đâu mà gánh nước đổ tràn cả bể, ướt hết chỗ ngồi thế này!". Bà hàng cá lại bảo: "Lão hồi này sang gớm nhỉ, cho đầu cá không thèm lấy!". Gã bán thịt thì vô tâm: "Bố cứ đưa con Cún ra đây, con mà làm món nhựa mận thì hết ý...".
          Buổi chiều quét xong chợ, lão Vận thấy chân tay rã rời. Lão chẳng buồn  thu nhặt các thứ "chiến lợi phẩm" như trước nữa. Lão đùn tất cả rác ra cuối chợ châm lửa đốt. Khi lão vừa về đến nhà thì có tiếng kẻng báo động gõ nhịp ba dồn dập "keng keng keng... keng keng keng... keng keng keng...". Tiếng người kêu dáo dác khắp thị trấn:
 - Cháy chợ... cháy chợ rồi!...
          Mọi người lao ra phía chợ. Lão Vận hốt hoảng vứt rá gạo tập tễnh chạy theo. Lửa đang cháy ngùn ngụt. Ngọn lửa hả hê tung hoành trên những mái lều quán lợp bằng tranh cỏ khô nỏ. Tiếng tre nứa nổ đôm đốp. Nguyên nhân cháy là do gió xoáy thốc vào đống rác lão Vận đốt ở cuối chợ đưa tàn lửa lên mái lều quán.
Mọi người xông vào chữa cháy. Nhưng gió to, lại không tiện nước nên mấy dãy quán liền kề nhau cháy trụi. Những dãy hàng quán xa hơn chưa bén lửa thì quá trình chữa cháy người ta rút lấy cây để dập lửa hoặc đạp đổ để tránh cháy lan. Thành thử đến khi dập tắt được lửa thì các quán chợ cũng tan tành hết.
          Trong đám người chữa cháy nhốn nháo, chợt có tiếng ai đó hét to:
          - Phải lập biên bản, bắt đền lão Vận!
          - Đúng đúng! Lôi cổ lão ấy ra đây! Lão làm ăn thế à!
          Lão Vận bị túm cổ lôi xềnh xệch ra bãi trống giữa chợ. Lão run cầm cập, mặt mũi tái nhợt.
          Giữa lúc nhiều người đang xúm xít xung quanh lão Vận giằng xé, xỉa xói, mắng chửi, dọa đánh thì có tiếng quát to:
          - Buông... ngay... ông... ấy... ra!
          Gã bán thịt gạt đám đông xông vào. Đầu gã tóc đang cắt dở nham nhở, tay gã lăm lăm con dao chọc tiết lợn nhọn hoắt. Gã bợp tai thằng đang túm giữ lão Vận. Thằng này kêu "á" một tiếng rồi lủi mất. Gã bán thịt giằn giọng:
          - Muốn bắt đền hả? Lên xã mà bắt đền! Bao năm nay các ông ấy thu đủ loại thuế, lệ phí, bao nhiêu lần hứa xây dựng chợ, nhưng đến giờ đã thấy động tĩnh gì chưa. Chợ với chiếc, mấy túp lều rơm rạ xiêu vẹo mưa gió táp mặt,  mấy lần tôi định phóng một mồi lửa cho đỡ bẩn mắt. May mà lần này nó cháy! Càng tốt.
          Nhiều người nhao nhao hưởng ứng theo gã bán thịt. Ông chủ tịch và anh trưởng công an xã vừa đến thấy thế liền quay xe máy đi luôn.
          Sau vụ cháy chợ, lão Vận cũng thất nghiệp luôn. Người ta không thuê lão quét chợ, gánh nước nữa. Lão mò cua, kiếm cá, mót khoai, mót lúa kiếm bữa qua ngày. Rồi lão ốm nặng. Mấy bà hay buôn bán ở chợ nghe tin cũng gửi cho lão vài cái bánh cuốn, mấy quả chuối.
 Có lẽ lão Vận chết phải đến nửa ngày dân làng mới biết do lũ trẻ con gọi không thấy lão trả lời đã báo cho ông trưởng thôn. Lúc chuẩn bị khâm liệm, người ta thu dọn cái quan tài gỗ tạp đóng sẵn kê giữa nhà thì phát hiện có một gói giấy nhỏ. Đó là một gói tiền. Đếm được hai triệu ba trăm nghìn đồng. Toàn là bạc lẻ. Ai đó nói: "Lão này thế mà giàu và kín tiếng quá!". Rồi lại có người kêu lên: "ối! Còn có cả thư lão để lại đây này!".
          Ông trưởng thôn cầm lá thư tìm thấy trong quan tài lên đọc. Chữ lão Vận viết ngoệch ngoạc, xiêu vẹo:
Kính thưa bà con!
Tôi ngàn lần xin bà con đại xá cho tội làm cháy chợ.
Tôi gom góp được ít tiền, năm trăm nghìn gọi là có chén rượu nhạt cho anh em đào huyệt và vài miếng trầu chay để bà con đưa tôi ra đồng. Còn một triệu tám trăm nghìn đồng, là tiền xã trả công quét chợ năm năm qua, tôi không dùng đến, xin được góp vào xây dựng lớp mẫu giáo thôn ta.
          Vô cùng đội ơn bà con, làng xóm.
                                                                     Kính thư
                                                              Nguyễn Văn Vận
          Đám ma lão Vận khá đông. Nghĩa tử là nghĩa tận. Nhiều người bỏ cả buổi chợ để đi đưa đám lão.
          Lão Vận chết được ba hôm thì con Cún đột nhiên trở về.
 Đêm ấy bị nước lũ cuốn ra giữa sông, nó cố vùng vẫy, may bám vào được một đoạn cây chuối. Dòng nước đưa nó về mãi phía hạ lưu cho đến khi dạt vào một bãi cát bồi. Con Cún lết lên bờ, thoát chết. Nó liền tìm đường quay trở về. Có lẽ nó đã phải vượt đến cả trăm cây số qua bao nhiêu thành phố, thị xã, làng mạc. Vừa đi vừa kiếm ăn, mấy phen nó suýt bỏ mạng vì bọn săn trộm chó. Nó bị bọn chúng đánh què một chân, nên bước đi tập tễnh.
          Cứ lần hồi ngược dòng sông, con Cún về được đến nhà. Vừa tới cửa, nó đã rên lên ư ử sung sướng, đuôi vẫy rối rít. Chắc nó nghĩ lão Vận đang chờ nó trong nhà. Nhưng rồi nó chợt nhận ra có điều gì khác lạ. Nó dùng mõm ẩy cánh cửa lao vào nhà. Nó khịt khịt sục mũi vào đống tro lạnh trong bếp, ngửi mấy cái quần áo cũ của lão Vận treo trên vách. Rồi nó chạy ra giữa nhà. Nó chợt nhận ra chiếc áo quan không còn kê ở đấy nữa. Dưới gầm chiếc quan tài ấy là chỗ nó vẫn nằm coi nhà mỗi khi ông chủ ra chợ.
          Con Cún hộc lên một tiếng, co rúm lại. Rồi nó tru lên đau đớn.
          Mấy đêm liền nghe tiếng con chó tru lên rên ri trong căn nhà lão Vận, đám thanh niên bảo nhau: "Con chó điên rồi! Đập chết đi kẻo nó đớp vào ai thì khốn". Thế là chúng hò nhau vác gậy gộc, xẻng cuốc bao vây nhà lão Vận. Con chó đứng trên thềm nhe răng, mắt gườm gườm nhìn đám thanh niên. Nó có vẻ gầy hơn nhưng đôi mắt thì sáng quắc. Khi đám thanh niên ập vào thì nó phóng vút xuống sân, làm một thằng hoảng quá vứt gậy ù té chạy. Con chó lao lên bờ đê. Bọn thanh niên hò hét, rầm rập đuổi theo. Con chó hình như quên hẳn cái chân đau, nó phóng vun vút về hướng đồi cây, nơi xã dành làm nơi yên nghỉ cho những người quá cố. Vào trong nghĩa trang, nó vừa ngửi vừa chạy và đến đúng mộ lão Vận. Nó nằm phục xuống cạnh ngôi mộ mới. Đám thanh niên hò hét xông đến. Con chó vẫn nằm yên mặc mọi người áp sát hầm hè, vây quanh. Đám thanh niên dừng lại, gậy gộc lăm lăm trong tay. Giữa lúc đó thì ông già quản trang từ đâu hớt hải chạy đến. Ông hổn hển gọi:
          - Đừng đánh nó các cháu ơi! Nó không bị điên đâu. Nó là con vật có tình, có nghĩa với con người đấy các cháu ạ, đừng giết nó mà phải tội...
          Nghe người quản trang năn nỉ, can ngăn mãi, đám thanh niên mới chịu rời khỏi nghĩa trang. Lúc này con Cún mới đứng lên. Nó đi quanh mộ lão Vận mấy vòng, vừa đi vừa rên ư ử. Có lẽ nó khóc.
          Mấy ngày sau, vẫn thấy con chó quanh quẩn chỗ mộ lão Vận. Người quản trang để ít cơm trên miếng lá chuối nhưng nó không ăn. Nó chỉ liếm chút nước đọng trong mảnh bát vỡ. Đêm đêm, người ta nghe tiếng kêu rền rĩ của nó trong nghĩa trang.
          Con Cún nhịn ăn mà chết.
 Người quản trang đào một cái hố phía dưới mộ lão Vận rồi trải miếng ni lông rách đặt xác nó xuống lấp đất. Ông đắp cho con vật trung thành một nấm mộ nhỏ.
          Đoạn kết
          Sau vụ cháy, xã đã đầu tư mấy trăm triệu đồng xây lại chợ. Các dãy hàng quán bây giờ đều xây trát, vôi ve, lợp ngói khang trang. Người ta cũng thành lập một tổ thu gom rác thải và quy định các hộ kinh doanh phải nộp lệ phí vệ sinh hẳn hoi, không có chuyện thù lao được chăng hay chớ như thời lão Vận còn quét chợ.
          Một hôm, có chiếc xe du lịch sang trọng rẽ vào trụ sở uỷ ban nhân dân xã. Bước xuống xe là một ông cán bộ tóc bạc trắng. Có cả ông bí thư huyện uỷ đi cùng. Ông ta là một vị bí thư tỉnh uỷ một tỉnh phía Nam. Ông ra thăm Đền Hùng. Sực nhớ lại những ngày xưa hoạt động ở vùng Sơn Dương, Vĩnh Yên nên ông bảo lái xe ghé qua Lập Thạch. Câu chuyện của ông lớp cán bộ xã bây giờ không ai biết. Ông kể chuyện ngày ấy hoạt động trong lòng địch. Từ Hà Nội ông được lệnh lên Việt Bắc nhận nhiệm vụ mới. Ông qua đò sông Đáy và nghỉ lại một cơ sở bên này sông. Bọn chỉ điểm đã phát hiện nơi ông đang ở. Tên quan ba Pháp dẫn một tiểu đội biệt kích đóng giả làm một hiệp thợ mộc. Chúng bọc súng vào bao tải, gọi đò sang sông định tập kích bất ngờ.
 Phát hiện ra vẻ đáng ngờ của toán người, nhất là tên mà chúng gọi là thợ cả trùm khăn kín đầu nhưng vẫn thòi ra cái mũi lõ, anh lái đò vẫn bình tĩnh chở chúng qua sông. Khi bọn chúng lên bờ, lách cách cởi các bao đựng súng thì anh đẩy thuyền ra giữa sông. Anh rút chiếc tù và cài trong mui thuyền ra rúc lên liên hồi báo động. Dân làng vốn rất cảnh giác vì ở sát vùng Tề nên biết là có biến. Ông cán bộ kịp chạy thoát. Bọn địch bị lộ, chúng điên cuồng xả đạn vào làng và bắn ra sông chỗ con thuyền làm anh lái đò bị trúng đạn gẫy chân. Sau đận ấy, ông lên chiến khu an toàn. Giải phóng Điện Biên Phủ, ông vào miền Nam chiến đấu, rồi làm cán bộ lên đến chức bí thư tỉnh uỷ. Sắp nghỉ hưu, ông ra thăm lại miền Bắc. Chợt nhớ lại tiếng tù và của người lái đò, ông tìm về bến sông xưa.
          Nghe câu chuyện của ông bí thư tỉnh uỷ, mọi người đều đoan chắc người lái đò dũng cảm thổi tù và ngày ấy đích thị là lão Vận quét chợ.
 Ông bí thư tỉnh uỷ cùng mọi người đến nhà lão Vận. Trên cái bàn thờ tàn lạnh hương nhang, họ tìm thấy chiếc tù và bằng sừng trâu. Ông bí thư tỉnh uỷ trân trọng cầm chiếc tù và cũ kỹ lên xem. Anh cán bộ văn hoá huyện nói: "Xin bác cho chuyển về phòng truyền thống của huyện". Ông bí thư tỉnh uỷ gật đầu. Ông bảo anh thư ký mua hoa quả, hương nhang ra nghĩa trang viếng mộ lão Vận. Nghe nói trước khi ra đi, ông còn gửi lại xã mấy triệu đồng để hương khói và sau ba năm cải táng, xây mộ cho lão.
 Hôm ấy là đúng một trăm ngày mất của lão Vận...
                                                             Hà Nội, 6-2003
                                                            Trọng Bảo

Thứ Ba, 11 tháng 1, 2011

Truyện thiếu nhi BÀI HỌC TRONG RỪNG

 
Bài học trong rừng
Truyện thiếu nhi của Trọng Bảo
Bài học trong rừng     Buổi sáng, nhím con theo mẹ đi tìm nấm.
      Hai mẹ con đi vào một khu rừng cây cối xanh tươi. Nhím con xách chiếc làn nhỏ chạy tung tăng. Lúc thì nhím con chạy phía trước, lúc thì lùi lại phía sau, lúc thì rung cho cây sim rụng đầy trái chín, khi thì lại chui vào một bụi mâm xôi chi chít những chùm quả ngọt. Trong khi nhím mẹ cần mẫn nhặt nấm thì nhím con chỉ mải chơi. Giỏ nấm của nhím mẹ đã gần đầy mà chiếc làn của nhím con vẫn chỉ có mấy quả sim chín và vài bông hoa rừng héo quắt.       
        Giữa lúc nhím con đang định gặm một ngọn măng vừa nhú lên khỏi mặt đất thì nghe "hộc" một tiếng và ai đó quát to:
        - Thằng nhãi kia! Ai cho mày xâm phạm vào khu rừng của tao hả!
        Nhím con giật mình hốt hoảng nhìn lên. Một lão lợn rừng lông lù xù dựng ngược trông rất bẩn thỉu đang trợn mắt đứng ngay trước mặt.
        - Cháu... cháu...
        Nhím con lắp bắp và sợ hãi lùi lại. Lão lợn rừng nhe nanh gầm gừ. Nhím con run cầm cập gọi to: "Mẹ ơi! Cứu... cứu... con...". Lão lợn rừng cào cào hai chân trước xuống đất rồi hung hăng phóng đến. Tiếng chân của lão phầm phập. Tiếng cành cây khô gẫy răng rắc. Nhím con sợ quá ôm mặt nhắm mắt lại ngã lăn ra đất.
        Chợt nhím con nghe tiếng lợn kêu "eng éc". Nó mở mắt ra nhìn. Phía trước mặt nó là nhím mẹ đang xù lông tua tủa như chông che chở cho con. Lão lợn rừng hung hăng lao ngay vào những chiếc lông nhím nhọn hoắt. Lão đau đớn rú lên thảm thiết rồi quay đầu chạy mất. Nhím con lúc này mới hoàn hồn. Nhặt những chiếc nấm bị rơi ra bỏ vào giỏ, nhím mẹ dặn con:
        - Đừng chạy lung tung và nhớ luôn đi gần mẹ nhé!
        - Vâng ạ!
        Nhím con đáp và ngước đôi mắt trong veo nhìn mẹ vẻ khâm phục. Nó không ngờ lão lợn rừng to lớn hung dữ thế mà phải thua mẹ. Mẹ thật là dũng cảm. Mẹ thật là vĩ đại. Nhím con nghĩ. Thấy vui quá, nhím con líu lo hát bài hát "Buổi sáng trong rừng". Trong khi đó nhím mẹ vẫn cặm cụi nhặt nấm.
         Chợt lại có tiếng nhím con kêu oai oái: "Mẹ ơi! Đau quá, mẹ ơi!". Nhím mẹ vội chạy đến. Nhím con ngồi bệt xuống đất giơ chân lên giẫy giụa. Nhím mẹ nhìn kỹ, trong kẽ chân của nhím con có những chú kiến lửa đang ra sức dùng gươm giáo đâm chém loạn xạ.
        Thì ra, giữa lúc đang vui vì mẹ vừa đánh bại lão lợn rừng to lớn thì nhím con chợt nhìn thấy mấy con kiến lửa bé tí đang làm tổ. "A! Mấy thằng nhóc con..." - Nhím con nghĩ vậy và giơ chân đạp mạnh vào tổ kiến. Bị phá tổ, đội quân xung kích trong đàn kiến lửa lập tức cầm gươm giáo xông lên ngay.

        Vừa gỡ những chú kiến đang tức giận ra khỏi bàn chân của nhím con, nhím mẹ vừa nói:
         - Con phải nhớ là ở đời, đừng thấy những kẻ to lớn mà vội nghĩ mình là nhỏ bé, yếu đuối, buông xuôi, khuất phục. Nhưng cũng đừng nhìn những người nhỏ bé mà cho rằng mình to lớn, coi thường  rồi lên mặt hống hách con ạ!
         Nhím con vừa xoa xoa những chỗ đau vừa lí nhí đáp:
         - Vâng... vâng! Con... con hiểu rồi mẹ ạ!
         Buổi đi hái nấm trong rừng đã cho nhím con một bài học thật là thấm thía và bổ ích như thế đấy.
                                                                                     Hà Nội,1/6/2009
                                                                                     

Thứ Hai, 10 tháng 1, 2011

Truyện ngắn CÁI CHẾT CỦA LÃO DỞ NGƯỜI

         Cây sấu HN

Cái chết của lão dở người
Truyện ngắn của Trọng Bảo
Lão dở người vác cái bao tải rách lên vai. Hôm nay lão gặp may. Một ngôi nhà là trụ sở công ty tư nhân đang đục phá, sửa chữa. Đám thợ vứt ra hè đường một đống sắt vụn cong queo. Ông chủ công ty nhìn thấy lão đang móc tìm kiếm ở cái thùng rác bên đường liền gọi sang và hào phóng cho lão luôn đống sắt vụn. Chỗ sắt vụn đầy sét gỉ phải đến hai chục cân. Lão oằn lưng vác cái bao tải nặng ra phía bờ sông. Số sắt vụn này lão kiếm được hơn trăm ngàn là cái chắc.
Cân xong bao tải sắt vụn, lão dở người lại vào phố. Con mụ Béo chuyên thu mua đồ phế liệu chê ỏng chê eo sắt gỉ quá chỉ đưa cho lão một trăm hai mươi ngàn đồng. Thôi thế cũng tốt. Lão nghĩ. Lão sẽ vào phố chén một bát phở ngon hết hai mươi ngàn đồng. Còn một trăm ngàn lão sẽ cất kỹ dành dụm thành một khoản để đem về quê. Ở quê, lão còn một thằng cháu là con cô em gái út. Nó ốm yếu thường xuyên phải đi viện. Lão thương nó lắm. Lão ra thành phố bới rác kiếm tiền, dành dụm từng trăm gửi về giúp em gái chữa bệnh cho cháu. Hôm lão đi, thằng bé cứ túm lấy áo lão rơm rớm nước mắt:
- Bác đi Tết nhớ về với cháu nhé!
- Ừ! - Lão xoa đầu nó và dặn: - Ở nhà cu nhớ không được ra bờ ao chơi, nhỡ ngã xuống ao thì khốn đấy!
Thằng bé bị bệnh tim. Một hôm lão vừa đi bắt cua về xuống cái ao đầu ngõ rửa chân thì thấy thằng cháu đang ngớp ngớp vùng vẫy ở dưới cầu ao. Lão vứt cả giỏ cua nhào xuống ao lôi nó lên. May mà nó mới ngã xuống chỉ uống vài ngụm nước. Bệnh tim của nó nặng dần. Năm lên lớp bốn thì hay bị ngã ngất nên không tiếp tục đi học được nữa. Nghe nói muốn mổ tim phải mất hàng chục triệu đồng. Chồng cô em gái út tai nạn sập lò gạch chết sớm, nhà nghèo lấy đâu ra mấy chục triệu đồng để chữa bệnh cho con. Tiền mua thuốc hàng tháng còn chả đủ nữa là. Lão nghe người ta nói thành phố dễ kiếm tiền. Thế là lão bỏ sào ruộng lại cho cô em gái út rồi theo đám thanh niên lên thành phố. Lão sẽ kiếm tiền, thật nhiều tiền giúp cô em út.
Lên đến thành phố lão ra ngay chỗ “chợ người” tìm việc. Nhưng những người tìm thuê “cửu vạn” thường chẳng bao giờ để ý đến lão. Có lẽ họ nghĩ là lão già cả chả làm nổi những việc nặng nhọc. Thế nên lão đành phải đi bới rác, nhặt nhạnh những đồ phế thải bán cho bọn thu mua sắt vụn. Nhặt những bao túi ni-lông, vỏ bia, vỏ chai, sắt vụn người ta vứt đi bán cho bọn ve chai mỗi ngày lão cũng kiếm được ngày nhiều ba chục, ngày ít hai chục, ăn uống rồi cũng để dành được chục ngàn mỗi ngày, hơn cả làm ruộng ở quê mỗi vụ được vài tạ thóc ăn chả đủ làm gì dám đem bán lấy tiền.
Bọn trẻ con, phụ nữ chuyên làm nghề nhặt rác thường tụ tập ngoài bãi sông Hồng. Họ gọi lão là lão dở người vì một chuyện xảy ra đối với lão. Hôm đó lão bới móc một cái túi rác cổng một ngôi biệt thự. Lão tìm thấy trong cái túi rác đầy vỏ hộp mỹ phẩm ấy một cái dây chuyền vàng. Lão cầm sợi dây chuyền đứng co ro chịu rét chờ bằng được bà chủ ngôi biệt thự ra đóng cổng để trả lại. Nhận lại sợi dây chuyền đến năm chỉ bà chủ nhà chả cảm ơn thì thôi còn xỉa xói, nghi lão là quân trộm cắp. Biết chuyện, đám “công nhân nhặt rác” cư trú ngoài bãi sông đều cười nhạo lão mãi. Chả ai khen lão thật thà mà họ bảo lão là đồ dở người. Từ đó cái tên lão Dở thành tên gọi của lão.
Lão Dở cũng có người con khá thành đạt. Đó là ông con trai duy nhất của lão. Vợ lão mất sớm, lão ở vậy nuôi con khôn lớn. Thằng con lão là chủ một doanh nghiệp lớn ở phía Nam. Ông con trai muốn đón lão vào Nam sinh sống nhưng lão không chịu. Lão giận con, nhất là từ khi ông con về quê đóng góp cả mấy trăm triệu đồng cho một công trình văn hoá của huyện để được tạc tên trên bia đá ghi công thế mà không dám cho thằng cháu bị bệnh nặng được lấy một đồng để chữa bệnh. Lão có ý nhắc nhưng nó làm thinh không nói gì.
Ăn xong bát phở, lão Dở tìm về chỗ mình vẫn ngủ qua đêm.
Năm nay trời sao mà rét đến thế. Các hàng quán đóng cửa nghỉ sớm. Gió lạnh thổi ù ù trên phố. Lão Dở lủi thủi đi về phía làng ven Hồ Tây. Mấy ngày nay lão không ra khu nhà trọ ngoài bãi sông nữa. Trọ ở nhà trọ bãi sông mất năm ngàn mỗi tối. Trước đây chỉ có ba ngàn một tối nhưng gần tết họ nâng giá lên năm ngàn đồng. Nói là nhà trọ thực ra chỉ có vài manh chiếu rách trải lên sạp, cả chục, cả trăm người-toàn dân cửu vạn chen chúc nhau nằm lăn lóc đầu chân lẫn lộn ngủ cho qua đêm. Mà có nhiều người chưa đến nửa đêm đã lồm cồm bò dậy đi gánh hàng thuê cho những người buôn hoa quả, rau ở các chợ đêm. Lão Dở ít ngủ và thính ngủ. Có khi đêm vừa chợp mắt được một lát đã giật mình vì tiếng lục sục gọi nhau của những người đi làm đêm. Vì thế lão chả dại gì mà mất thêm năm ngàn đồng mỗi đêm. Lão đã có một cách hay.
Lão đi về phía khu biệt thự ven hồ. Chỗ ngủ đêm của lão là cái cổng của một ngôi biệt thự rất sang trọng. Chủ ngôi biệt thự chắc là một người rất giàu có nên cái cổng xây rất hoành tráng. Mái cổng vươn chìa ra tạo thành một khoảng che mưa nắng rất rộng. Lão Dở trải manh chiếu rách ra góc cổng, cạnh gốc cây sấu sù sì. Thế là lão đã có một chỗ ngủ rất kín gió và ấm. Năm nay sao mà trời rét thế. Còn đúng hai mươi mốt ngày nữa là đến Tết. Lão Dở nhẩm tính. Trong cái bọc ni lông bẩn thỉu lão vẫn buộc chặt ở bụng đã có gần hai triệu đồng rồi. Đó là công sức mấy tháng trời nhặt nhạnh phế liệu của lão. Lão quyết định ngày mai sẽ về quê. Có gần hai triệu đồng mua thuốc cho thằng cháu cũng tốt rồi. Với lại cũng chỉ còn hai ngày nữa là đến ngày giỗ của vợ lão. Lão phải về để còn ra mộ thắp cho bà ấy nén hương. 
Đang thiu thiu ngủ thì có ánh đèn ô-tô rọi thẳng vào mặt. Một chiếc xe con bóng lộn rì rì chạy vào cổng. Lão Dở lồm cồm ngồi dậy. Chiếc xe bấm còi rồi dừng lại chờ mở cổng. Kính xe hạ xuống. Lão nghe rõ tiếng một người đàn ông gắt với người từ trong nhà ra mở cổng:
- Sao lại để cho một thằng ăn xin nó nằm ngay ở cổng thế hả?
- Dạ! Thưa bác đó là một ông già nhặt rác đấy ạ!
- Đuổi cổ đi! Không khéo lại là quân trộm cắp rình mò đấy, hiểu không?
- Vâng ạ!
Kính xe lại được kéo lên. Chiếc xe từ từ lăn bánh vào trong sân. Người vừa ra mở cổng đến chỗ lão Dở đang nằm khe khẽ nói:
- Cụ ơi! Cụ chuyển sang bên kia gốc cây mà nằm ngủ chứ cụ nằm ngay ở cổng thế này ông chủ nhìn thấy lại mắng cháu!
Nghe anh ta nói, lão Dở hiểu anh ta cũng chỉ là một người giúp việc cho ở ngôi biệt thự này. Anh ta nói mấy hôm trước ông chủ đi công tác vắng nên anh để cho lão được buổi tối đến nằm ngủ ở cổng. Ông chủ về rồi anh đành phải bảo lão đi tìm chỗ khác. Nghe anh ta năn nỉ như vậy lão Dở lồm cồm đứng dậy. Lão lôi mảnh chiếu rách sang phía bên kia gốc cây sấu già. Chỗ nằm mới của lão trúng hướng gió bắc, lại không được che nên mưa phùn lất phất bay nên càng lạnh. Lão Dở quấn cái chăn chiên rách thật chặt vào người cho đỡ rét. Suốt đêm lão Dở không ngủ được vì lạnh quá. Lão lẩm bẩm mong trời bớt lạnh cho đám cửu vạn ngoài bờ sông đêm dậy đi làm đỡ rét mướt. Ngày mai lão về quê rồi còn họ thì có lẽ phải làm thuê hoặc nhặt rác cho đến gần tết mới về. Lão tính, rét thế này ngày mai nhất định sẽ mua cho thằng cháu một cái áo khoác thật ấm. Rét mướt thế này trẻ con bị bệnh tim phải mặc thật ấm. Cái áo mà họ chất đống ở vỉa hè nói là hàng SIDA ấy chỉ đến một trăm ngàn là cùng thôi.
Gần sáng khi lão Dở vừa chợp mắt thì nghe có tiếng quát tháo ầm ĩ trong ngôi biệt thự. Hình như có tiếng kêu: “Trộm… trộm…”. Rồi lão lại nghe “huỵch” một cái như là tiếng người nhảy qua tường. Lão Dở mở mắt ra nhìn. Tên trộm vừa trèo qua cái cành cây bên kia cổng nhảy xuống hè đường. Nó lẩn qua phía lão nép vào gốc cây sấu quan sát rồi co giò định chạy. Lão nhỏm ngay dậy nhoài người quờ tay ôm riết được một chân của thằng trộm. Nó bị tóm chân bất ngờ nên chới với ngã lăn xuống hè đường. Cái hộp nhỏ nó đang cầm trên tay văng ra xa. Thằng trộm lồm cồm bật dậy. Nó càng cố giật chân thì lão lại càng cố ôm ghì thật chặt. Trong ngôi biệt thự có ánh đèn và tiếng chân nhiều người lao ra. Từ phía đầu phố có tiếng còi ủ của xe cảnh sát. Thằng trộm tống một quả đấm thật mạnh vào mặt lão Dở. Lão Dở đau điếng nhưng vẫn kiên quyết không buông rời chân thằng trộm. Một ánh thép loé lên. Lão Dở chới với buông chân thằng trộm gục xuống. Nhát dao của thằng lưu manh xỉa thẳng vào cổ lão Dở. Khi công an và mọi người chạy đến thì thằng trộm đã biến mất tăm vào bóng tối mịt mùng trong ngõ hẻm.
Lão Dở thấy mình chơi vơi như đang bay trên mây. Đúng là lão đang bay. Lão bay lên thật nhẹ nhàng.
Lão nghe thấy tiếng bà chủ ngôi biệt thự rú lên vui mừng vì tìm thấy cái hộp nữ trang cả chục cây vàng mà tên trộm bị lão Dỡ bất ngờ tóm chân ngã rơi văng chỗ rãnh nước bên đường. Lão lại nghe thấy tiếng ông chủ biệt thự. Vẫn cái giọng hách dịch như lúc tối mắng anh chàng giúp việc ra mở cổng. Ông ta đang nói với mấy anh công an:
- Các đồng chí kiểm tra ngay lão ăn mày này! Nhất định lão ta là đồng bọn với thằng ăn trộm đã đột nhập vào nhà tôi. Mấy ngày nay tối nào lão cũng lảng vảng ở cổng nhà tôi đấy.
 Có lẽ ông chủ ngôi biệt thự là sếp lớn nên các anh công an răm rắp chấp hành mệnh lệnh. Họ nhanh chóng khám nghiệm hiện trường rồi lập biên bản. Lão Dở cũng lờ mờ nhận ra người đang cố gắng băng bó, cầm máu cho mình chính là cái anh đã ra mở cổng ngôi biệt thự lúc buổi tối hôm qua. Lão cố nói để anh ta biết quê quán của mình và số tiền lão đang giấu trong bụng. Lão muốn nhờ anh ta đem về cho thằng cháu ở quê. Nhưng tiếng của lão sao lại bé hơn cả tiếng gió, tiếng mưa thế này. Hình như chẳng ai nghe được tiếng lão nói nữa.
Lão Dở cố mở mắt ra. Nhưng lão cũng chẳng còn nhìn rõ gì nữa cả. Trước mắt lão sao mọi thứ cứ mờ ảo, méo mó, dị dạng hết đi thế nhỉ! “Thôi chết! Thế này thì làm sao ngày mai mình về quê được đây!” - Đó là ý nghĩ cuối cùng của lão.
                             Hà Nội, 9/1/2011

Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2011

Truyện ngắn Thuyết khách

Thuyết khách
Truyện ngắn của Trọng Bảo
Nhận được thông báo nghỉ hưu, ông Đạt đùng đùng quyết định về quê ở. Bà vợ ông mắt chữ A, mồm chữ O quát:
          - Ông hâm à! Ở quê còn cái gì nữa đâu mà về. Một căn nhà sắp sập, một mảnh vườn chó ỉa, tôi đang rao bán. Ông về đó làm gì?
          Ông sửa lại cái quai ba lô, buộc lại một tập giấy tờ bản thảo. Xong xuôi, ông mới bảo:
          - Bà cứ ở thành phố mà bồng bế con cái, lo cơm nước cho chúng nó. Tôi về quê. Ở đây suốt ngày ngồi chót vót trên tầng 25 xem ti vi từ sáng đến tối tôi không chịu nổi.
          - Hay là ông cứ thư thư, để cuối tuần chúng nó về trước xem xét sửa sang, quét tước lại nhà cửa sạch sẽ rồi ông hẵng về!
          Bà vợ tìm kế hoãn binh. Ông xua xua tay:
          - Không cần! Tôi sẽ tự làm lấy.
          - Đúng là đồ gàn dở…
          Bà vợ ông lẩm bẩm. Con bé cháu gái từ nãy đến giờ vẫn đứng nhìn ông bà tranh luận với nhau giờ mới đến bên ông thỏ thẻ:
          - Bố cháu bảo ông sắp về vườn rồi. Ông cho cháu về với ông nhé!
          Ông Đạt bật cười xoa đầu con bé:
          - Ông về vườn đây. Nhưng cháu phải ở Hà Nội để còn đi mẫu giáo tập múa với các bạn chứ. Khi nào ông làm xong khu vườn cổ tích ở quê ông sẽ đón cháu về xem nhé!
          - Vâng ạ!
          Con bé ngoan ngoãn gật đầu.
          Thế là ông Đạt khoác ba lô về quê. Hơn bốn mươi năm trước, ông khoác ba lô rời làng ra đi. Bây giờ ông lại khoác ba lô trở về. Cái cổng làng rêu phủ ngày xưa nay chỉ còn là dấu tích. Cây đa đầu làng đã già lắm rồi. Cây đa ấy có hai rễ tạo thành hai cái gốc của cây. Khi mở rộng con đường quốc lộ, người ta đã cắt mất một cái rễ to. Thành thử cái cây trông như một người bị cụt một chân đang đứng lom khom nhìn con đường xe chạy suốt ngày đêm như mắc cửi.
          Ông Đạt dọn dẹp lại nhà cửa, vườn tược. Thằng cháu họ biết tin ông về sang thăm. Nó ngó nghiêng một lủc rồi đi mất. Một lát nó quay lại xách theo một xô vôi ướt giúp ông quét lại tường nhà. Ngôi nhà bớt mùi ẩm mốc. Thấy ông dọn cây cỏ ở vườn, một ông bạn đồng niên ngó vào hỏi:
          - Ông về làm trang trại để nghỉ dưỡng cuối tuần ở quê hả?
          - Trang trại gì. Tôi về làng ở hẳn đấy!
          Thế là tin ông về làng loang ra rất nhanh. Bạn bè đồng ngũ, đồng môn kéo đến. Ngôi nhà của ông rôm rả hẳn lên. Mỗi người giúp một tay. Khu vườn hoang phong quang hẳn lên.
          Ông Đạt về quê được mấy hôm thì có một vị khách quan trọng tìm đến. Đó là anh chủ tịch xã. Sau vài lời thăm hỏi xã giao, anh chủ tịch xã đề nghị:
          - Chúng cháu muốn bác giúp cho một việc ạ.
          - Việc gì thế! Giúp được việc gì cho làng, cho xã nhất định tôi sẽ cố…
          - Chả là xã ta chuẩn bị đón nhận huân chương kháng chiến hạng nhất. Các khâu đã chuẩn bị đầy đủ rồi. Chỉ còn khoản diễn văn là viết mấy lần đều không thông qua được. Chúng cháu là lớp con cháu, lịch sử xã thì ghi chép không đầy đủ nên viết không hay. Muốn nhờ bác giúp vì nghe nói khi còn ở bộ đội bác từng làm nghề viết sử…
          - Việc này thì được! Tôi sẽ viết giúp. Vài bữa là xong thôi.
          Anh chủ tịch xã phấn khởi mở cặp rút ra một tập bản thảo đánh máy đã cũ nói tiếp:
          - Đây là sơ thảo lịch sử xã ta. Bác cứ đọc trước đi, mai cháu sẽ cho cậu thư ký uỷ ban đem đến các bản báo cáo thành tích những năm gần đây để bác tham khảo thêm.
          Ông Đạt cũng cảm thấy phấn khởi vì được chính quyền địa phương tin cậy. Ông bắt đầu đọc những trang bản thảo cuốn lịch sử của xã. Càng đọc, ông càng thấy lịch sử của quê hương mình cũng thật hào hùng. Những chuyện từ thời tiền khởi nghĩa, trong kháng chiến chống Pháp và trong kháng chiến chống Mỹ bây giờ ông mới hiểu hết. Ông chỉ hơi ngạc nhiên là bản thảo cuốn lịch sử viết khá đầy đủ, văn phong cũng hay tại sao xã không cho in thành sách để lớp lớp con em mãi ghi nhớ, làm theo. Ông thấy lòng mình lâng lâng, hứng khởi. Ông vừa lôi giấy bút ra định bắt tay vào viết diễn văn thì ngoài cổng có tiếng ồn ào. Toán người kéo vào, có cả mấy cụ già tóc bạc phơ được đám thanh niên dìu đi. Ông Đạt ngạc nhiên:
          - Các cụ, các bác đến có việc gì đấy ạ?
          - Chúng tôi đến để kiến nghị với chú đây!
          Một người nói. Ông Đạt ngạc nhiên:
          - Kiến nghị về việc gì ạ! Có gì kiến nghị thì các cụ, các ông, các bác phải lên gặp chính quyền xã chứ ạ?
          - Kiến nghị về bài diễn văn chú đang viết đấy!
          Ông Đạt càng không hiểu. Một ông sau khi đã ngồi xuống ghế nói:
          - Trong diễn văn, chú phải viết rõ là ông Nguyễn Thoảng là người đã treo cờ đỏ ở cây đa đầu làng ta kêu gọi nhân dân nổi dậy khởi nghĩa nhé!
          Ông Đạt ớ người:
          - Nhưng trong bản thảo lịch sử của xã thì có hai người treo cờ là ông Vũ Văn Huân và ông Nguyễn Thoảng cơ mà?
          - Đúng thế! Nhưng người trực tiếp trèo lên cây đa treo cờ phải là ông Nguyễn Thoảng ở xóm Nội…
          Thì ra họ đều là người thuộc dòng họ Nguyễn với ông. Các cụ, các ông ra sức giải thích, chứng minh lời họ nói là đúng. Ông Đạt lúng túng không biết xử lý ra sao. Đám người đứng dậy ra về. Trước khi đi, một ông còn bảo: “Bác viết thế nào thì viết. Bác là người xóm này, bác phải luôn luôn ghi nhớ chiến công của người xóm ta đấy nhé!”.
Đám người ra về lâu rồi, ông Đạt vẫn ngồi thừ trên chõng không viết được thêm chữ nào. Ông đang định lên uỷ ban xã tìm anh chủ tịch để trao đổi thêm thì lại có một tốp người từ ngoài cổng kéo vào. Họ là những người thuộc dòng họ Vũ ở xóm Ngoại. Họ đến cũng vì bài diễn văn sẽ đọc trong buổi xã tổ chức đón huân chương. Họ cũng lại nói về việc treo cờ kêu gọi nhân dân vùng lên khởi nghĩa trên cây đa đầu làng. Sau một hồi giải thích, đưa ra chứng cứ chứng minh, một ông có vẻ là trưởng đoàn kết luận:
- Chắc chắn người trèo lên treo cờ trên ngọn cây đa là ông Vũ Văn Huân, người xóm Ngoại. Bác là người xóm Nội, họ Nguyễn nhưng nếu bác thiên vị, viết sai lịch sử là không được đâu.
Tốp dân xóm Ngoại ra về. Ông Đạt thấy hoang mang. Không ngờ một chuyện tưởng như đơn giản mà lại thành phức tạp quá. Ngày đón huân chương theo ấn định đã đến gần mà bài diễn văn vẫn chưa biết viết thế nào. Chả lẽ một sự kiện quan trọng nhất của xã lại không viết vào diễn văn. Sau khi nghe ông Đạt kể lại chuyện hai xóm cử người đến nhà, anh chủ tịch xã đành thú thật:
- Cuốn lịch sử của xã chính vì thế không xuất bản được mặc dù đã viết đi, viết lại nhiều lần. Trước đây giao cho ông Tứ xóm Nội dự thảo thì mọi thành tích của xã đều là của dòng họ Nguyễn cả. Giao cho anh Quân ở xóm Ngoại hiệu đính, sửa chữa lại thì dòng họ Vũ mới chính là những người có công lao nhất xã. Đem ra hội thảo trước thì tranh luận, sau thì cãi nhau ỏm tỏi, chẳng bên nào chịu bên nào. Sau phải nhờ đến các anh ở trên sở văn hoá tỉnh về viết lại và hiệu đính cho nhưng cũng chưa dám in vì sợ in ra sẽ phức tạp lắm.
Ông Đạt trầm ngâm suy nghĩ. Một lát sau ông bảo:
- Mai tôi sẽ mời đại diện cả hai xóm đến nói là để trao đổi về bài diễn văn. Anh cứ làm việc ở xã, đừng đi đâu xa, lúc nào tôi cho thằng cháu gọi thì đến ngay nhé.
- Bác có giải pháp gì hay ạ?
- Bí mật! Chủ tịch cứ yên tâm… tôi sẽ thử là “thuyết khách” để hoà giải giữa hai xóm xem sao?
Chả cần ông Đạt phải mời lần thứ hai. Hôm sau đại diện cả hai xóm đều có mặt đầy đủ. Họ ngồi thành hai phía trong nhà ông Đạt. Đã có tiếng tranh cãi lẻ tẻ. Ông Đạt bảo thằng cháu rót nước mời mọi người. Chờ mọi người yên vị, ông Đạt mới đứng dậy. Sau mấy câu thưa gửi trịnh trọng, ông hỏi:
- Phần mộ của ông Thoảng bây giờ đặt đâu ạ?
- Ở nghĩa trang liệt sĩ của xã, ngay dưới chân đài tưởng niệm.
- Thế còn ông Huân?
- Cũng ở nghĩa trang liệt sĩ xã ta. Hai người hy sinh trong cùng một trận càn của Pháp.
Mọi người nhao nhao nói. Ông Đạt giờ mới kể:
- Tôi đã đọc rất kỹ bản thảo về lịch sử của xã ta, lại tìm hiểu cả lịch sử của huyện, của tỉnh và nghe các cụ cao niên kể lại. Trong trận càn ấy ông Thoảng bị thương rất nặng, ông Huân đã cõng ông Thoảng rút lui. Khi bọn địch ập đến, ông Thoảng bảo ông Huân cứ để mình nằm lại trong làng rồi chạy thoát ra rừng nhưng ông Huân dứt khoát không chịu. Ông tìm cách đưa ông Thoảng cùng rút lui. Bọn địch khép chặt vòng vây. Biết không thể thoát được, hai người đã sát cánh bên nhau chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Khi bọn địch xông đến định bắt sống, họ đã ôm lấy nhau cho nổ một quả lựu đạn chết cùng mấy tên giặc. Máu xương của họ đã trộn với nhau. Họ đều là những người vô cùng dũng cảm đúng không!
- Đúng… đúng… đúng thế!
Nhiều người tỏ vẻ đồng tình. Ông Đạt nói tiếp:
 - Việc treo cờ trên ngọn cây đa đầu làng kêu gọi nhân dân đứng lên khởi nghĩa trong cách mạng tháng Tám cũng vậy. Ông Huân là người đã trèo lên lên ngọn đa treo cờ, ông Thoảng là người đứng dưới gốc cây cảnh giới bảo vệ. Họ đều có chung một chiến công. Không phải ông Thoảng đứng dưới gốc cây là kém nguy hiểm hơn người treo cờ trên ngọn cây. Chính ông Thoảng đã chủ động nổ súng đánh lạc hướng kéo bọn giặc đuổi theo mình để ông Huân kịp từ ngọn đa tụt xuống rút lui an toàn. Ông ấy đã nhận phần nguy hiểm nhất về mình rồi còn gì.
Mọi người gật gù. Ông Đạt tiếp tục nói:
- Trong chuyện treo cờ này còn phải ghi nhớ công lao của bố con ông lão ăn mày nằm ở đầu làng nữa. Chính bố con lão ăn mày là người đầu tiên phát hiện bọn giặc đang bí mật tiến vào làng mà gào to báo động cho dân làng biết. Cái chết của bố con ông lão ăn mày ở đầu làng ta đáng để ghi vào lịch sử của xã lắm chứ. Tại sao chúng ta lại không hề một lần nhắc đến họ? - Ngừng một lát nhìn mọi người, ông nói tiếp: - Chúng tôi sau này trong chiến đấu cũng vậy. Để có một người cắm được lá cờ chiến thắng lên sở chỉ huy bốt đồn địch là công lao, mồ hôi, nước mắt, sự hy sinh đổ máu của bao nhiêu người đấy. Nhiều người đã ngã xuống trước cửa mở khi dẫn đầu đội hình xung kích, có người trúng đạn, thi thể nằm vắt trên hàng rào dây thép gai. Vậy đó phải là chiến công chung chứ đâu chỉ là thành tích riêng của mỗi một người cắm cờ…
Mọi người lặng im. Giọng ông Đạt trầm hẳn đi:
- Ông Thoảng và ông Huân đang nằm yên nghỉ bên nhau trong nghĩa trang liệt sĩ. Họ mãi mãi sẽ là đồng đội, là những người bạn chiến đấu thân thiết nhất của nhau. Họ dám chia sẻ cả cái sống, cái chết cho nhau. Họ sẽ đau buồn  nhường nào khi biết chúng ta, những người còn sống, những lớp con cháu hôm nay đem họ ra so sánh với nhau xem ai hơn ai…
Có nhiều tiếng thở dài. Anh chủ tịch xã cũng đã đến. Anh ngồi giữa những người dân của hai xóm. Lúc nãy ông Đạt đã nháy thằng cháu chạy đi gọi anh đến. Ông Đạt bất ngờ hỏi:
- Tuy mới về làng nhưng tôi nghe bà con nói hai xóm ta thường xuyên xảy ra xích mích. Có nhiều chuyện không đâu vào đâu cũng cãi nhau, thậm chí xô xát đánh, chém nhau gây đổ máu, thù hận. Ruộng gần nhau mà không cho dẫn nước qua, trâu bò xóm này lạc sang xóm khác là bị đánh gãy chân, rồi chặt, nhổ phá hoại cả hoa màu của nhau nũa… Có đúng thế không?
Nhiều người ấp úng lúng túng. Nhưng không ai trả lời. Ông Đạt nói như kết luận:
- Viết xong bài diễn văn này tôi đề nghị anh chủ tịch xã gửi cho cả hai xóm xem, cùng góp ý kiến cùng bổ sung, sửa chữa. Chỉ có một điều tôi cần nói ngay là chúng ta phải viết cho trung thực, đúng sự thật lịch sử của làng, xã ta, không được tranh công, đổ lỗi cho nhau.
Mọi người ồn ào tán đồng. Không khí trong ngôi nhà nhỏ của ông Đạt vui vẻ hẳn lên. Một lúc sau thì chả còn ai nhắc đến chuyện bài diễn văn nữa. Họ bàn sang chuyện làm ăn, chuyện giúp nhau giống vốn, mời nhau ăn giỗ, sang cát. Có người bận việc ra về trước, có người kéo đến thêm ngồi chật ba gian nhà nhỏ, chẳng còn phân biệt ai là người xóm Nội, xóm Ngoại nữa.
Câu chuyện “thuyết khách” và viết diễn văn của ông Đạt là thế. Hôm đón huân chương hai xóm tổ chức thịt một lợn làm một bữa cỗ chung ăn uống rất vui vẻ. Đã từ lâu rồi mới lại có chuyện như vậy. Tiếng trống rộn rã hai xóm. Trên ngọn cây đa già đầu làng một lá cờ đỏ rất to tung bay phần phật trong gió Xuân.
                                                                        *
Một buổi sáng ông Đạt đang xới cây trong vườn thì có một đôi trai gái đến. Cô gái bẽn lẽn:
- Chúng cháu đến để cảm ơn bác ạ!
Ông Đạt ngạc nhiên:
- Cảm ơn về việc gì nhỉ?
- Dạ! - Chàng trai giờ mới lên tiếng: - Nhờ có bác mà chúng cháu mới lấy được nhau đấy! Hôm nay chúng cháu đến để cảm ơn và mời bác dự đám cưới của chúng cháu ạ!
Ông Đạt càng không hiểu. Chàng trai giải thích:
- Chúng cháu yêu nhau đã lâu rồi nhưng bố mẹ cả hai bên đều không đồng ý. Sau bài diễn văn đón huân chương của bác mà hai xóm đã đoàn kết, hoà thuận, chúng cháu mới đến được với nhau đấy ạ!
Ông Đạt chợt hiểu. Thì ra hai cô cậu này người ở xóm Nội, người ở xóm Ngoại. Vì mâu thuẫn bấy lâu mà gia đình ngăn cấm không cho yêu đương. Có lần chàng trai xóm Nội sang nhà cô gái chơi bị đám thanh niên xóm Ngoại đuổi đánh phải nhày xuống sông suýt chết đuối. Họ đã tính đến chuyện đưa nhau bỏ đi khỏi làng. Nay thì mọi chuyện đã tốt đẹp.
Đôi trai gái đi rồi ông Đạt vẫn đứng lặng đi. Tay cầm tấm thiếp hồng mà lòng ông thấy vui vui. Mùa Xuân đang đến. Có tiếng chim líu lo hót trên cành tre trước cổng.
                                                         Hà Nội, 17/12/2008

Thứ Năm, 6 tháng 1, 2011

Truyện ngắn Làng Cả lên đời


Làng Cả lên đời
Truyện ngắn của Trọng Bảo
     Làng Cả đột nhiên vui như hội. Dân làng nô nức. Nhìn ai cũng thấy nụ cười thường trực trên môi. Họ vừa được biết là sẽ có một dự án công nghiệp rất lớn sẽ mở ra ở đây. Cánh đồng làng Cả rộng thẳng cánh cò bay hai vụ lúa chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành một khu công nghiệp, khu chế xuất lớn nhất tỉnh. Ông Nháo trưởng thôn hể hả thông báo tại buổi họp toàn thôn:
         - Theo như các nhà đầu tư đã cam kết thì tất cả những người còn độ tuổi lao động của làng Cả sẽ đều được bố trí công ăn, việc làm trong khu công nghiệp, khu chế xuất.
          Bà Chòe tai nghễnh ngãng, nghe tiếng được, tiếng mất. Bà lo lắng hỏi:
         - Dư... mà như tôi một chữ bẻ đôi chả biết, lại hơn bảy chục tuổi rồi vẫn phải lao động, sống nhờ vào hơn sào lúa, mất ruộng thì làm được việc gì trong cái "khu cay nghiệt, khu chết tất" ấy?
         Mọi người cười ồ lên. Ông trưởng thôn vội chữa lại:
         - Khu công nghiệp, khu chế xuất! Không phải là "khu cay nghiệt, khu chết tất"... - Ông khoát tay: - Bà sẽ được biên chế vào bộ phận vệ sinh môi trường chuyên cắt cỏ, chăm sóc vườn hoa, cây cảnh.
         Bà Chòe có vẻ yên tâm ngồi xuống. Đến lượt lão Cốc đứng dậy thắc mắc:
         - Tôi cả đời chỉ biết mỗi nghề... đánh dậm! Bây giờ mất ruộng, không còn chỗ kiếm con tôm, con cua, vào khu công nghiệp thì biết làm việc gì để sống?
         Ông trưởng thôn lúng túng:
         - Đánh dậm thì... giống ngành công nghiệp gì nhỉ... - Ông suy nghĩ: - À...  à, phải rồi! Nghề đánh dậm rất giống công việc đãi quặng. Vào khu công nghiệp ông sẽ ở bộ phận chuyên đãi quặng, luyện kim...
         Mụ Lường mở quán nước ở gốc đa đầu làng. Mụ chuyên ghi số đề và bán thơ đề cho cả làng và các làng bên cạnh đứng dậy xin phát biểu ý kiến. Mụ gãi đầu, gãi tai ấp úng:
         - Nghề của em thì bác đã biết rồi! Tới đây vào khu công nghiệp thì em biết làm gì ạ?
         - Thì... thì... đúng rồi, mụ sẽ vào bộ phận makétting, chuyên dự báo tình hình sản xuất, dự báo giá cả, thị trường. Nhiều lần thơ số đề của mụ dự đoán số đầu, số đít cũng đúng đáo để còn gì!
          Mọi người lại cười ồ lên. Nhiều cánh tay nhao nhao giơ cao xin phát biểu, nêu ý kiến thắc mắc. Ý kiến, thắc mắc nào của bà con cũng đều được ông trưởng thôn giải đáp thỏa đáng cả. Ai làm nghề gì ông cũng nghĩ ra một việc tương tự trong khu công nghiệp, khu chế xuất. Mọi người đều thấy thỏa mãn, hể hả. Cũng chính nhờ vậy mà khi có quyết định thu hồi ruộng, cả làng đều vui vẻ nhận tiền đền bù, giao đất cho ban dự án đúng thời gian quy định. Cũng nhờ số tiền đền bù đất rất cao mà cả làng tự dưng giàu sụ lên. Nhà nhà mua sắm xe máy đắt tiền, xây nhà cao tầng nguy nga hoành tráng. Làng Cả bây giờ giống như một góc phố Hà Nội. Mà Hà Nội có chỗ cũng chả bằng. Vì làng Cả đất thổ cư rộng, nhiều nhà xây như những biệt thự giữa vườn cây xanh trông rất đẹp. Làng Cả lên đời thật rồi!
          Trong khi đó thì việc san lấp cánh đồng, xây lắp các tổ hợp công nghệ trong khu công nghiệp, khu chế xuất cũng được các chủ dự án tiến hành rất nhanh. Cánh đồng rộng mênh mông ngày nào bây giờ đã lô nhô những nhà máy mới mọc lên. Người làng Cả ngàn đời chân đất, mắt toét đột nhiên cũng thấy mình sang trọng hẳn lên. Họ luôn tự hào về khu công nghiệp quê mình...
           Đúng như đã cam kết, đại diện chủ dự án tổ chức điều tra lao động trong làng để bố trí cho họ vào làm việc tại khu công nghiệp, khu chế xuất. Ai cũng háo hức mong chờ. Bởi chỉ nay mai thôi họ sẽ cởi bỏ bộ áo nâu quê mùa để mặc bộ quần áo xanh, áo trắng của người công nhân của thế kỷ 21.
                                                            *
          Buổi họp giữa đại diện khu công nghiệp, khu chế xuất với bà con làng Cả được tổ chức không lâu sau cuộc họp do ông trưởng thôn chủ trì bàn việc giao đất hôm nào. Ông đại diện dự án cầm một bản danh sách dài dằng dặc bắt đầu đọc tên những người được nhận vào làm việc tại khu công nghiệp, khu chế xuất. Ông ta xướng to:
          - Các ông bà Mai Thị Chòe, Trần Công Cốc, Lâm Quang Củ, Đào Văn Sắn, Nguyễn Thị Khoai, Vũ Trọng Ngô, Lê Thị Mía... tuổi đã trên bảy mươi sẽ vào làm việc tại khu vực sản xuất số 1, lương 1000 đô-la một tháng. Sau một năm sẽ tăng lên 1500 đô-la một tháng...
           Mọi người ào lên nhốn nháo hỏi nhau:
           - 1000 đô quy đổi ra tiền Việt bằng bao nhiêu nhỉ?
           - Theo tỷ giá bây giờ là gần 18 triệu đồng...
           - Ôi trời ơi...
           Có nhiều tiếng rú lên mừng rỡ. Ông đại diện dự án đọc tiếp:
           - Các ông bà Hoàng Trung Nháo, Hoàng Trung Nhác, Chu Văn Núi, Nguyễn Bờ Sông, Phạm Thị Ao, Hà Quang Ruộng, Đồng Tiến Chuôm... tuổi dưới bảy mươi sẽ làm việc ở khu vực sản xuất số 2, lương khởi điểm là... 1500 đô-la một tháng. Sau một năm sẽ nâng lên 2000 đô-la.
           - Ôi...ôi... - Trưởng thôn Hoàng Trung Nháo giơ cả hai tay lên trời sau khi đã lẩm nhẩm quy đổi 1500 đô-la ra tiền Việt. Cuộc họp ồn ào như chợ vỡ. Ai cũng mừng vì sẽ có tiền lương cao ngất sau khi vào làm trong khu công nghiệp, khu chế xuất. Bà Chòe thấy lo lắng quá. Nhà cửa còn tuềnh toàng, khi lĩnh lương hơn chục triệu đồng về bà biết cất vào đâu cho an toàn bây giờ. Bà  đứng dậy rụt rè nói:
           - Báo cáo bác đại tiện khu công... công... 
           Một người giật giật tay bà khẽ nhắc: "Đấy là ông đại diện chứ không phải là "ông đại tiện"! Mà ông ấy ở khu công nghiệp chứ không phải ở "khu công công" của thái giám đâu bà ơi!".
           Ông đại diện đề nghị mọi người yên lặng và mời bà Chòe phát biểu ý kiến. Bà Chòe thấy tự tin, mạnh dạn hơn. Bà hỏi:
          - Tôi xin được hỏi ở khu sản xuất số 1, chúng tôi sẽ làm công việc gì ạ?
          - À! Cụ thể thế này! - Ông đại diện khu công nghiệp giải thích: - Ở khu vực sản xuất số 1, công việc của các bác là điều hành hệ thống máy vi tính lập trình các phần mềm, hoặc sử dụng máy móc công nghệ cao sản xuất các loại vi mạch và con chíp điện tử...
          Bà Chòe giẫy nảy lên hốt hoảng:
          - Chết... chết! Sao mà chúng tôi làm được các công việc ấy?
          - Không sao! Chúng tôi sẽ tổ chức các lớp học cấp tốc để đào tạo tay nghề và ngoại ngữ cho các vị đáp ứng yêu cầu cao ở các khu vực sản xuất trong khu chế xuất...
          Mấy người nữa nhao nhao lên hỏi:
          - Thế còn ở khu vực sản xuất số 2?
          - Khu vực này đòi hỏi trình độ cao hơn... - Ông đại diện ngừng lời đưa mắt nhìn mọi người một lượt rồi nói tiếp: - Đây là khu vực chuyên vận hành các lò phản ứng hạt nhân nguyên tử, các máy phóng xạ, máy gia tốc cao...
           Mọi người sững sờ trố mắt, há hốc miệng kinh hãi. Ông đại diện vẫn tỉnh như không nói tiếp:
           - Bây giờ đề nghị mọi người ký vào bản hợp đồng lao động!
           Dân làng Cả nhìn nhau. Chả ai dám cầm bút ký vào bản hợp đồng lao động. Họ sợ nếu không đảm nhiệm được những công việc như ông đại diện nói sẽ bị phạt vì vi phạm hợp đồng lao động. Ông đại diện khu công nghiệp, khu chế xuất sau khi mời mãi chẳng ai chịu ký hợp đồng lao động liền ôn tồn bảo:
          - Đấy nhé! Chúng tôi đã làm đúng cam kết, tạo điều kiện sắp xếp công việc cho tất cả mọi người sau khi giao ruộng đất cho ban dự án. Việc mọi người không chịu ký hợp đồng lao động là lỗi tại bà con chứ không phải tại chúng tôi.
           Nói xong ông ta thu tất cả các bản cam kết hợp đồng lao động nhét vào cặp và chào mọi người ra về. Cuộc họp cũng giải tán.
                                                              *
          Một buổi sáng cuối năm. Mụ Lường vừa mở cửa quán thì gặp ông trưởng thôn Hoàng Trung Nháo và một tốp trung niên, thanh niên đang dắt xe đạp thồ ra khỏi cổng làng. Mụ đon đả hỏi:
          - Trưởng thôn và mọi người đi đâu đấy ạ?
          - Thì... còn đi đâu được nữa! Mất mẹ nó hết ruộng rồi, vào làm ở trong khu công nghiệp, khu chế xuất thì không có trình độ, chẳng có tay nghề. Chúng tôi lên Hà Nội làm cửu vạn, làm thuê kiếm tiền đây!
          - Thế ạ! - Mụ Lường cười tít mắt: - Hi... hi... hi... ơn trời, riêng nhà em thì lại may quá bác ạ. Cái "nghề" số đề của em không ngờ từ khi có khu công nghiệp, khu chế xuất lại ăn nên, làm ra hơn. Đám công nhân nhiều tiền thoải mái ghi đề, tiền đặt cũng lớn, không đánh cò con như các bác làng ta đâu!
          Ông trưởng thôn giơ tay cảnh cáo mụ Lường:
          - Mụ liệu hồn đấy! Tôi mới nghe công an xóm báo cáo là quán của mụ vừa mới có thêm cái khoản cà phê vườn, bia ôm phải không?
          - Dạ! Thì em cũng chỉ... phục vụ tận tình nhu cầu của anh em công nhân trong khu công nghiệp thôi ạ!
          - Mụ cẩn thận đấy! Đừng có rước tệ nạn về làng là không xong với tôi đâu!
          Mụ Lường hơi lùi lại. Chờ ông trưởng thôn và đám người làm thuê đạp xe đi được một đoạn mụ mới dám nói với theo:
          - Các bác cứ lên Hà Nội làm thuê kiếm thật nhiều tiền về đây em xin phục vụ thật chu đáo! Cây nhà lá vườn vừa rẻ, vừa an toàn hơn các bác ạ!
                                                                Hà Nội, đầu Đông 2010