Thứ Năm, 26 tháng 4, 2012

Tản văn TRONG NIỀM VUI ĐẠI THẮNG

        Nhân dịp kỷ niệm 37 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, tôi xin post lại tản văn này. Tản văn đã đăng trên một số tờ báo và Website. (Trọng Bảo)


TRONG NIỀM VUI ĐẠI THẮNG
 Tản văn của Trọng Bảo

       Tôi nhập ngũ vào những ngày tháng cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thuộc lớp chiến sĩ tổng động viên cho cuộc tổng tiến công mùa Xuân 1975. Sau một tháng huấn luyện dưới chân núi Nghĩa Lĩnh, nơi có đền thờ các Vua Hùng trong đội hình của Trung đoàn Văn Lang, chúng tôi được điều động về Trung đoàn 246B. Ngày ấy, nhiều đơn vị quân đội đều có hai đơn vị A và đơn vị B. Các đơn vị A thường là khung ở miền Bắc chuyên huấn luyện tân binh giao quân cho các đơn vị ở mặt trận. Các đơn vị B là đơn vị sẽ hành quân thẳng ra chiến trường tham gia chiến đấu.
       Tôi còn nhớ như in buổi lễ xuất quân tại khu đồi bạch đàn thuộc xã Bình Thuận, huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái. Tại lễ xuất quân, Trung đoàn 246B (tên danh dự còn gọi là Trung đoàn Tân Trào) được trao hai lá cờ có thêu dòng chữ "Quyết chiến, quyết thắng". Đó là một lá cờ đỏ sao vàng là "Quân kỳ quyết thắng" của Quân đội nhân dân Việt Nam; một lá cờ nửa đỏ, nửa xanh là "Quân kỳ quyết thắng" của Quân giải phóng miền Nam.

               
Ảnh ngày mới nhập ngũ 1975  
                          Ảnh chụp ngày mới nhập ngũ năm 1975 tại Trung đoàn 246B.
                      Từ trái qua: Nguyễn Văn Đam (hy sinh), Hoàng Hùng và tác giả.
       
       Đơn vị chúng tôi nhận được lệnh khẩn trương huấn luyện và chuẩn bị sẵn sàng để lên đường bất cứ lúc nào. Những người lính thời chống Mỹ tất cả trang bị đều mang trên vai. Khẩu súng để chiến đấu, cái cuốc, cái xẻng bộ binh để đào công sự, hầm trú ẩn, làm bếp Hoàng Cầm. Cái bình tông đựng nước, cái hăng-gô để nấu cơm, đun nước uống, cái ruột tượng (bao) đựng gạo, cái võng, cái tăng (ni-lông) để ngủ giữa rừng và cáng thương binh, người ốm. Và khi hành quân không thể thiếu hai bó củi to bằng bắp chân dài độ ba bốn mươi phân để nấu nướng dọc đường. Cũng không thể thiếu một cái bao bằng ni-lông khi gặp sông suối cho tất cả ba lô, quần áo vào làm thành cái phao vượt qua sóng nước, khi lâm trận dùng làm đồ khâm liệm để chôn cất liệt sĩ.
       Nhưng đơn vị chúng tôi chưa kịp lên đường thì tin chiến thắng từ mặt trận dồn dập báo về. Trên tấm bảng tin của đại đội liên tục thông báo tin chiến thắng. Tờ báo QĐND, tờ báo Nhân dân được truyền tay nhau đọc đến nhàu nát vì ngày nào cũng có những thông tin sốt dẻo của cuộc tổng tiến công và nổi dậy.
       Chúng tôi nhận được tin miền Nam hoàn toàn giải phóng vào đầu giờ chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đơn vị đang lao động. Đại đội trưởng tuyên bố: "Tất cả nghỉ để ăn mừng đại thắng". Một con lợn tạ được mổ ngay. Tại nơi đơn vị trú quân dã ngoại tiếng reo vang khắp các làng, các xóm. Mặt người già, trẻ, gái trai đều hồ hởi trước tin Việt Nam toàn thắng. Vẫn biết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước dù có dài đến đâu, dù có gian khổ ác liệt đến đâu cũng sẽ đến ngày kết thúc thắng lợi. Nhưng khi đón nhận tin chiến thắng tất cả vẫn cứ thấy bàng hoàng vì bất ngờ. Có phải là sự hy sinh quá lớn nên mới có tâm trạng như vậy không. Ngày chiến thắng người người hân hoan. Đi đến đâu tôi cũng nghe tiếng hát "Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng". Bộ đội hát, thanh thiếu niên diễu hành trên đường hát, các cháu nhi đồng trong lớp mẫu giáo hát... Cả nước tổ chức ăn mừng vào một ngày giữa tháng 5. Không có pháo hoa, đơn vị tôi đã tổ chức bắn từng loạt pháo hiệu (loại dùng trong diễn tập) cùng nhân dân địa phương mừng vui trong ngày đại thắng.
       Cả hàng tháng trời cái không khí chiến thắng cứ lâng lâng trong lòng mọi người như vậy. Niềm vui chiến thắng thật là bất tận. Nhưng trong những ngày vui đó, tôi bắt gặp bao bà mẹ, người chị ánh mắt thẫn thờ khi nhìn những người lính từ miền Nam trở về trên nắp ba lô cài con búp bê, tay xách chiếc khung xe đạp. Đó là những người đã tham gia giải phóng Sài Gòn. Họ là những người có thân nhân không trở về sau ngày chiến thắng. Làng tôi có bà cụ Nghĩa, chồng chết từ lúc tóc còn xanh, ở vậy nuôi con. Anh con trai duy nhất lên đường nhập ngũ. Ngày anh đi cũng là ngày cuối cùng mẹ nhìn thấy mặt con. Ngày đại thắng anh không về, chỉ có tin báo tử anh về làng với mẹ. Hàng ngày bà cụ ngồi trên bậu cửa ngơ ngác nhìn ra sân kho hợp tác xã nhìn cảnh mít tinh, liên hoan hò reo chiến thắng. Rồi có một người cha là ông Hà Khắc Bảy, ngày ngày vẫn cứ lặn lội đạp xe đi tìm hỏi tin con là liệt sĩ Hà Khắc Cử qua từng người lính vừa từ miền Nam trở về, mong sao tờ giấy báo tử và cái bằng "Tổ quốc ghi công" vừa nhận kia là một sự nhầm lẫn.
       Trong niềm vui của ngày chiến thắng là nỗi đau xót của hàng ngàn, hàng vạn gia đình có người ngã xuống trong chiến tranh. Với họ cái không khí hân hoan của ngày hội non sông thống nhất không thật trọn vẹn. Đơn vị tôi ngày ấy - Trung đoàn Tân Trào - đã góp phần rất to lớn cho đất nước đến ngày toàn thắng cũng có biết bao nhiêu người lính không trở về như thế. Trung đoàn tôi có cả trăm người ngã xuống trước khi xung trận. Họ đã không chết vì bom đạn quân thù mà nhiều người đã chết vì đói. Một trung đoàn đói lả trên dãy Trường Sơn. Một trung đoàn lang thang đi đào củ rừng, tìm kiếm từng buôn làng, gặp từng người dân để xin lương thực, vay đồng bào từng cân thóc, củ sắn, bắp ngô. Những nắm thóc nhân dân san xẻ cho đem về những người còn chút sức lực dùng đá, dùng cành cây chà dập cho vỡ vỏ trấu, nhặt từng hạt gạo nấu cháo cầm hơi cho bộ đội, ưu tiên những người ốm. Đói thế, khổ thế và cái chết gần thế song những người lính "5 em" của trung đoàn tôi không một ai bỏ ngũ, thoái lui. "5 em" tức là 5 chữ M: Măng, me, môn, mỳ (sắn) và muối - những thứ lương thực, rau rừng cầm hơi của người lính trung đoàn tôi trên dãy Trường Sơn. Nhà thơ Hữu Thỉnh từng viết: "Đồng đội tôi ăn trụi những cánh rừng". Nhưng cũng chính những người lính đói lả ấy đã góp phần làm nên chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh năm 1968 khiến cả nước Mỹ rung chuyển. Một trong những cái tên vinh quang của Trung đoàn Tân Trào-Trung đoàn 246 chúng tôi chính là cái tên "trung đoàn cận vệ" vì từng là đơn vị bảo vệ Bác Hồ và Trung ương Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Người lính trung đoàn 246 từng theo Bác Hồ đi chiến dịch, từng cùng Bác có những đêm không ngủ thương anh chiến sĩ, lo cho đoàn dân công hoả tuyến. Trong cuộc hành quân vượt dãy Trường Sơn ra mặt trận, Trung đoàn 246 còn có thêm một cái tên mà mỗi lần gặp nhau, chúng tôi vẫn không quên nhắc đến và rưng rưng nước mắt nhớ về đồng đội, nhớ về những ngày gian khổ trên chiến trường đánh Mỹ, cái tên xót xa, đau nhói trong tim mỗi người đó là "trung đoàn hai bốn... đói". Cái đói đã đi vào "truyền thống" và tâm trí mỗi người lính của trung đoàn tôi như vậy. Chúng tôi đã đi qua mọi khốc liệt của cuộc chiến tranh để đến ngày đại thắng vinh quang của Tổ quốc. 
Để đến được Dinh Độc Lập trưa ngày 30-4-1975 có bao nhiêu người đã ngã xuống suốt ba mươi năm trước. Và để có được một Việt Nam sau hơ­n ba mươi năm như hôm nay cũng không thể không có những người đã tiến vào Dinh Độc Lập từ hơn ba mươi năm trước ấy.
                                                                                              
                                                                                    Hà Nội, tháng 4-2009

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

LANG THANG - thơ

        Cây đa
    
      Lang thang

        Lang thang chốn thôn quê
        Trên con đường rơm rạ
        Tôi như quen, như lạ
        Giữa cánh đồng quê hương.
        Có điều chi thân thương
        Khi trở về lối cũ
        Sông bên bồi, bên lở
        Bến vẫn đợi, vẫn chờ
        Vẫn xanh thắm bãi ngô.
        Con đò xưa cũ kỹ
        Mà tháng ngày bền bỉ
        Đưa bao người sang ngang.
        Cây đa nơi đầu làng
        Lá vẫn xanh màu lá
        Đàn chim về ăn quả
        Đem hạt đi muôn phương.
        Tôi nhặt được trên đường
        Sợi rơm vàng kỷ niệm,
        Bao tháng năm tìm kiếm
        Tôi đã gặp lại mình…

               VP, mùa hè 2011
                  TB

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

Truyện đăng Báo Tuổi trẻ cuối tuần

    
     Càng bệnh nặng càng tốt
         (Báo Tuổi trẻ cuối tuần số 15-2012)
       
        Bà mẹ già được ông con làm quan to đón từ quê lên tỉnh chơi. Vốn bản chất là một nông dân chăm chỉ nên lên thành phố không có việc gì làm bà cụ thấy chân tay như thừa thãi.
        Đã như thế ngày nào cụ cũng được ăn ngon, toàn những thứ khi còn ở quê cụ chưa được ăn bao giờ. Ông con làm quan to nhưng về quê tỏ ra rất khiêm tốn để khỏi bị dị nghị.       
        Thấy ăn không ngồi rồi mãi bà cụ tỏ vẻ lo lắng nói với thằng cháu nội:
        - Cứ ăn mà không làm gì thế này thì sạt nghiệp mất cháu ạ!
        - Bà khỏi phải lo... - thằng cháu lấc cấc nói - Bố mẹ cháu đón bà lên đây là để bà sẽ “tạo nguồn thu tài chính mạnh” cho nhà mình đấy ạ!
        Bà cụ ngạc nhiên:
        - Bà già cả rồi còn làm được cái gì ra tiền nữa...
        - Ối... bà làm ra nhiều ấy chứ!
        - Nhưng bà cứ ốm yếu liên tục thế này thì còn làm gì được?
        - Thì chỉ cần bà cứ... bệnh liên tục là được, càng bệnh nặng càng tốt, càng làm ra nhiều tiền bà ạ! Hôm trước bố cháu bị “đau lưng” một tí vào viện mấy hôm “thu hoạch” đã bằng ngày xưa bà cấy một mẫu ruộng hai ba năm liền đấy!
         Bà cụ không hiểu thằng cháu nói như thế nghĩa là thế nào. Nhất là khi bà cụ nghe lỏm con dâu nói với con trai bà:
        - Gay quá ông ạ! Bà lên đây được ăn uống sướng lại khỏe ra, chả ốm đau gì, thế này khéo mà... lỗ vốn mất ông ạ!
        Ông con trai bảo:
        - Cứ yên tâm, cụ già rồi thể nào mà chả có lúc ốm! Hay là bà đưa cụ đi khám rồi nằm viện vài hôm để thông báo cho mọi người trong cơ quan đến thăm...
        - Nhưng cụ bảo chả ốm đau gì không chịu đi viện đâu!
        Ông con trai đành nói:
        - Thôi đành chờ vậy!
        Cụ nghe hai vợ chồng ông con trai trao đổi mà không hiểu gì. Một hôm do mắt kém lại sơ ý cụ bị ngã cầu thang gãy chân. Trong khi chờ xe cấp cứu đến, thằng cháu gọi điện cho bố mẹ báo tin:
       - Tốt quá rồi bố mẹ ơi! Bà đã bị gãy chân, vỡ đầu chảy máu lênh láng, bố mẹ về ngay để đưa bà đi viện nhé!
                                                                                                  TRỌNG BẢO

           http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Thu-gian/index.html

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

Truyện cười CÁC BÁC KHỔ THẬT


                   
             Các bác khổ thật!
                  Truyện cười của Trọng Bảo
            
             Một ông lão nông dân miền núi cưỡi con trâu ra đồi chăn thả. Gặp một chiếc xe du lịch bóng lộn đang dừng cạnh đường, ông lão tò mò dừng lại hỏi xem cái xe này của ai và giá cả bao nhiêu. Anh lái xe hào hứng giới thiệu về cái xe đẹp, hiện đại, chạy êm và có máy lạnh mát mẻ như thế nào rồi bảo:
            - Cụ ơi! Giá cái xe này những hơn hai tỷ đồng đấy cụ ạ! 
            Nghe vậy, ông lão nông dân lẩm nhẩm tính toán một lúc rồi gật gù suýt xoa vẻ rất thán phục:
            - Thế thì các bác sướng thật! Cái xe bằng những hơn 500 con trâu mộng. Cả đời lão cũng chỉ được cưỡi có một con trâu thôi, đằng này các bác lại cưỡi liền một lúc những... 500 con trâu thế này thì sướng thật! Các bác cán bộ đúng là sướng thật!
          Ông cán bộ đang cầm lon bia uống nghe thấy thế giật mình. Ông ta liền lên tiếng giải thích, động viên an ủi ông lão:
          - Chả sướng bằng cụ đâu ạ! Cụ cưỡi trâu đi trên đường quốc lộ không phải nộp phí giao thông. Rồi cưỡi trâu băng qua đồi núi thoải mái, chẳng cần có đường cũng vẫn đi được. Chúng tôi ngồi ô tô thì phải đi trên đường quốc lộ và bây giờ phải nộp phí giao thông cao lắm. Mỗi năm mất đứt hai con trâu đấy cụ ơi!
          Ông lão tròn mắt:
          - Nhiều những thế cơ à?
          - Không những thế, cụ cưỡi trên lưng trâu luôn luôn có gió thiên nhiên mát rười rượi, chúng tôi ngồi trong ô tô nóng bức nên phải mở máy điều hòa hay bị đau viêm họng lắm!
          - Thế hóa ra các bác cũng khổ nhỉ?
          - Khổ ghê lắm cụ ạ! Trâu của cụ lỡ có lao vào gốc cây hỏng thì còn thịt ra để ăn được, chứ ô tô lao vào gốc cây hỏng không thịt ăn được mà có khi còn chết người nữa cụ ạ!
          Ông lão chép miệng:
          - Thế này thì công nhận đúng là các bác khổ thật! Tôi quanh năm cưỡi trâu sống lâu vui vẻ chứ các bác cán bộ suốt ngày đi trên cái ô tô bằng cả trăm con trâu thế này cũng nguy hiểm quá…. Mà tôi còn nghe nói có bác vừa mới hôm trước thôi còn cưỡi ô tô phóng bon bon, mấy hôm sau đã phải đi làm cái việc “bóc lịch” gì đó đến mỏi tay những mấy chục năm liền cơ đấy!
          Nói xong ông lão cưỡi trâu đi mất còn ông cán bộ nọ thì cứ há hốc mồm ra quên cả lon bia đang uống dở…
                                                               Ngày 10/4/2012

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

Truyện ngắn GÃ HOẠN LỢN (phần cuối)


                      
          
            Gã hoạn lợn
            Truyện ngắn của Trọng Bảo

          Sau buổi tối mưa to gió lớn sấm chớp ầm ầm ấy kỹ sư Khoa càng thêm quyết tâm xin chuyển vùng công tác. Anh làm đơn xin về một huyện vùng núi cao của tỉnh Hà Giang. Đơn của anh đã được gửi lên cơ quan tổ chức chính quyền. Hàng ngày đến cơ quan anh tránh không gặp cô Thoa. Cô Thoa vẫn chằm bặp, lượn lờ quanh anh. Anh cũng hạn chế việc làm thêm cuối giờ để tránh gặp phải tình huống oái oăm như hôm trước. Cô Thoa bắt đầu đi học đại học tại chức vào các buổi chiều tối thì anh thấy yên tâm hơn khi ở lại làm thêm.
          Một hôm, ông trưởng phòng lại gọi kỹ sư Khoa lên gặp. Anh mừng thầm vì nghĩ đơn xin chuyển công tác của mình đã được trên chấp nhận. Nhưng khi nhìn thấy vẻ mặt buồn bã của ông trưởng phòng thì anh hơi chột dạ. Ông trưởng phòng hỏi:
          - Cậu và cô Thoa có chuyện gì phải không?
          - Không ạ!
          - Không là không thế nào! Cô ấy đang “kiện” cậu kia kìa!
          - Kiện cái gì ạ!
          - Tao… tao… cũng không rõ! Chỉ thấy ông chủ tich tỉnh gọi điện cho tao nói gần, nói xa có ý đe rằng cậu mà “bỏ của chạy lấy người” là chết cả nút hiểu không?
          - Sao thế ạ! Em và cô ấy chỉ là cấp trên với nhân viên thôi, không có việc gì đâu, bác cứ yên tâm!
          Ông trưởng phòng lắc đầu vẻ ngán ngẩm:
          - Thôi! Cậu về đi, nhớ là phải hết sức cẩn thận đấy, làm trái ý cô Thoa… à… à… làm mếch lòng cấp trên là hỏng bét mọi sự đấy!
          - Em chả việc gì phải sợ ai cả…
          Kỹ sư Khoa đáp rồi định đi. Chợt nhớ ra anh quay lại hỏi:
          - Việc em xin chuyển công tác giải quyết đến đâu rồi ạ!
          - Chuyển với chiệc cái gì… khéo mà hỏng hết rồi hiểu không?
          Ông trưởng phòng lắc đầu. Kỹ sư Khoa không hiểu hết cái lắc đầu của ông. Anh vốn là một người sống vô tư, đơn giản, chưa hiểu hết những phức tạp trong cuộc đời. Sau bận anh mắng thậm tệ cô Thoa vì tội lơ là công việc, nhất là chuyện hay ăn mặc hở hang vào phòng anh khi vắng người thì mọi chuyện càng trở nên tồi tệ hơn. Nhất là khi Vân-người yêu của anh lên thăm gặp đúng lúc cô Thoa đang ở cơ quan. Vân gặp cô Thoa ngoài cổng cơ quan. Vân hỏi thăm và tự giới thiệu là vợ sắp cưới của kỹ sư Khoa. Hôm ấy cô Thoa bỏ việc đi đâu mất là cả phòng nông nghiệp nháo nhào vì không có nước sôi pha chè. Và cũng không hiểu sao sau lần Vân lên thăm anh thì có tin đồn anh quan hệ “lằng nhằng” với cô nhân viên chuyên đun nước ở cơ quan đang bị kiểm điểm. Thế là Vân ngãng ra. Tình yêu của hai người nhạt dần rồi tan luôn. Kỹ sư Khoa cũng không hiểu tại sao lại có cái tin đồn ác ý ấy. Có lẽ chỉ có cô Thoa là hiểu. Cô Thoa đã gặp anh nói bóng nói gió về việc anh sẽ lên làm trưởng phòng nông nghiệp huyện nếu chấp nhận lấy cô ấy. Và, chỉ có như vậy hoặc thôi việc chứ không có chuyện chuyển vùng công tác. Khi đã rõ mọi chuyện, kỹ sư Khoa quyết định bỏ việc ở phòng nông nghiệp huyện.
          Về làng, kỹ sư Khoa cũng chưa biết làm gì để kiếm sống. Ruộng đất đã chia hết cho nông dân. Mẹ anh chỉ có một sào ruộng khoán, cày cấy năng xuất có hơn hẳn thời hợp tác xã thì cũng chỉ đủ cho một miệng ăn. Kỹ sư Khoa đành vác mai đi đào đất thuê cho mấy ông chủ lò gạch thủ công ngoài bãi sông. Một hôm ngồi nghỉ cùng mấy ông bà gánh đất thuê ở lò gạch thấy họ bàn nhau việc tìm thợ về thiến mấy con lợn để nuôi vỗ béo thì kỹ sư Khoa chợt nhớ ra mình chính là dân chuyên ngành thú y, chăn nuôi. Anh nhận sẽ giúp họ việc thiến lợn. Quả là kiến thức học ở trường đại học của anh vẫn còn có tác dụng. Sau lần thiến giúp đàn lợn của mấy ông bà cùng làm thuê ở lò gạch thủ công, nhiều người biết tiếng tìm đến mời anh. Thế là kỹ sư Khoa quyết định sắm sửa một bộ đồ nghề hoạn lợn. Anh rong ruổi khắp vùng với chiếc thòng lọng buộc dọc theo cái khung xe đạp và túi đồ nghề hoạn lợn đeo bên hông. Anh thiến lợn, cả chó, trâu bò nữa. Anh còn kiêm cả việc chữa chạy cho động vật nhất là lợn, trâu, bò ốm nhiều trường hợp thành công nên rất có uy tín trong vùng. Ngày ấy nhiều khi người ốm cũng không sợ bằng lợn ốm. Người bỏ ăn một ngày không sao, lợn bỏ máng một bữa là vợ chồng con cái đã lo méo mặt.
           Nghề hoạn lợn cũng lắm chuyện buồn vui. Có lần vừa cất tiếng rao: “Hoạn… lợn…ơ…” thì một thằng thanh niên gọi kỹ sư Khoa dừng lại ra bộ nghiêm mặt bảo: “Ông là loại người gì mà dã man như vậy hả? Nó là loài động vật đã khổ lắm rồi, có mỗi một “cái ấy” để sướng mà ông cắt mất! Thật vô nhân đạo quá! Tôi mà có quyền tôi ra lệnh hoạn hết những tên hoạn lợn...”. Rồi một hôm đến làng nọ có mất cô vừa nhìn thấy anh đã nhao nhao: “Chúng em đang đi tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình đây, đề nghị anh đi cùng. Nếu có ông nào không nghe tuyên truyền thì anh lập tức “xử lý cái ấy” tại chỗ giúp tụi em nhé!”. Nói xong, các cô cười ré lên.
           Kỹ sư Khoa không thèm chấp bọn thanh niên. Anh vẫn lang thang qua tháng ngày trên con đường hoạn… lợn. Và như thành định kỳ hàng tháng, anh đều cố gắng đi qua làng Xuân Nội bên kia sông Đáy một lần. Trước khi vào làng anh mua cân đường, hộp sữa và ít hoa quả. Anh vào một ngôi nhà giữa làng. Có một người đàn ông đang ngồi trên chiếc xe lăn ở thềm. Vừa nhìn thấy anh ông ta đã hỏi, miệng méo đi nói rất khó khăn:
          - Ẫn… i… oạn… ợn… à…? (Vẫn đi hoạn lợn à?)
          - Vâng!
          - Ó… iếm… ủ… ăn… ông…? (Có kiếm đủ ăn không?)
          - Em vẫn kiếm được đủ sống bác ạ!
          - Ế… ì… ốt…! (Thế thì tốt!).
          Ông già đó bị tai biến mạch máu não nên nói năng rất khó khăn.
          Kỹ sư Khoa mở túi lấy ra cân đường, hộp sữa rồi ngồi xuống bân cạnh ông già xoa nắn chân tay cho ông. Nét mặt anh ngậm ngùi. Ông già chớp chớp mắt nhìn anh rồi bảo: “Ần… au… ến… ơi… ông… ải… oà… áp… ì… á…”.  (Lần sau đến chơi không phải quà cáp gì nhá!). Kỹ sư Khoa gật đầu để ông già yên tâm. Anh ngồi chơi với ông một lát rồi chào ông để đi.
           Ông già bị tai biến mạch máu não ấy không phải là ai khác. Đó chính là ông trưởng phòng nông nghiệp huyện ngày trước. Mấy tuần trước khi về nghỉ hưu thì ông bị tai nạn. Hôm ấy ông chủ trì buổi họp phòng để “tự kiểm điểm nghiêm khắc” về việc trong cơ quan xảy ra chuyện quan hệ nam nữ bất minh (mà việc này ông cũng không rõ sự thể là như thế nào) và để xảy ra vụ cung cấp nhầm giống “ngô không hạt” cho bà con nông dân. Việc kiểm điểm là từ trên chỉ đạo xuống. Khi đang họp kiểm điểm thì ông nhận được một bì công văn hoả tốc. Mở công văn ra xem ông liền đứng dậy. Tay ông run run. Ông chưa kịp đọc thì tờ giấy tuột khỏi tay rơi xuống đất. Ông cúi người giơ tay định nhặt tờ giấy đang nằm lăn lóc dưới đất thì chúi người ngã lao luôn đầu xuống nền nhà. Mọi người nhốn nháo xô ngay đến định đỡ ông ngồi dậy. Anh bác sĩ thú ý vội vàng ngăn lại. Anh đoán ra ngay là ông bị đột quỵ, tai biến mạch máu não. Ông là người có tiền sử huyết áp cao. Phải để nguyên ông nằm yên ở dưới đất sơ cứu rồi gọi bác sĩ chuyên khoa đến xử lý, đưa đi bệnh viện. Nhờ sơ cứu đúng cách như vậy mà ông còn sống và không bị hôn mê như một số bệnh nhân đột qụy khác.
            Khi trưởng phòng được đưa đi bệnh viện rồi mọi người mới tìm nhặt tờ công văn ông đánh rơi xuống đất lúc nãy lên xem. Hoá ra đó chính là tờ quyết định đề bạt cô Thoa giữ chức quyền trưởng phòng nông nghiệp huyện khi ông trưởng phòng sẽ nghỉ hưu vào đầu tháng tới. Cô Thoa đã tốt nghiệp loại giỏi đại học tại chức ngành trồng trọt.
            Khi biết tin ông trưởng phòng bị tai biến mạch máu não rồi về nghỉ hưu kỹ sư Khoa thường ghé thăm mỗi khi đi hoạn lợn rong qua quê ông. Ông trưởng phòng tỏ ra rất vui mỗi khi anh đến thăm. Có lẽ anh là người mà ông đã nhận ra ngay kể sau lần bị đột quỵ. Có nhiều người quen mà hỏi mãi ông mới lờ mờ nhận ra là ai. Những người dưới quyền ông trước đây chả thấy ai đến thăm ông bao giờ. Đời là vậy. Khi còn đương chức lắm kẻ vây quanh, khi đã thất sủng chẳng ai ngó tới. Người ta phù thịnh, chả ai phù suy. Khi đã về hưu thì tiệt nhiên chả ai còn nhòm ngó đến nữa. Tình đồng chí thường là rất nhạt. Tình đồng nghiệp thì chỉ có khi còn công tác. Chỉ có tình người là bền vững thì thời buổi này lại rất hiếm.
            Rời khỏi nhà ông trưởng phòng cũ kỹ sư Khoa vừa đạp xe vừa suy nghĩ mãi về điều ấy. Quành qua một khúc ngoặt chiếc xe đạp tồng tộc của anh phóng xuống một đoạn dốc cua của con đường đất đỏ ven đồi bạch đàn. Khi nhận ra có một chiếc ô tô con rất xịn đang đỗ ở bên đường thì đã quá gần. Anh cố miết cả hai chân xuống mặt đường mà không phanh nổi. Chiếc xe đạp đang đà đổ dốc đâm mạnh vào phía sau cái ô tô con. Kỹ sư Khoa ngã lăn ra mặt đường. May mà anh không việc gì. Anh lồm cồm ngồi dậy. Cánh cửa xe ô tô bật mở. Một tiếng quát:
           - Đi đứng kiểu gì thế! Mắt mù à?
           - Tôi… tôi…
           Tài xế chiếc xe con là một thanh niên còn trẻ. Hắn ta lao ngay về phía sau xe túm tay kỹ sư Khoa rồi chỉ vào đuôi chiếc xe con sừng sộ:
            - Mù à? Nhìn đây này! Xước một vết sơn rồi phải đền cho tôi ngay!
            Kỹ sư Khoa nhìn thấy một vết xước nhỏ trên đuôi chiếc xe con bóng lộn. Anh lập cập:
            - Vâng… vâng… tôi… xin…
            - Biết vết xước này phải sửa mất bao nhiêu không hả?
            - Không…
            - Ít nhất là mười triệu! Đưa tiền đây!
            Kỹ sư Khoa hốt hoảng:
            - Những mười triệu! Tôi lấy đâu ra… mà chỉ xước một tý thế này…
            - Không có tiền thì về đồn công an!
            Tên lái xe vẫn hùng hổ. Kỹ sư Khoa vã mồ hôi vì lo lắng. Giữa lúc đó thì có tiếng một người đàn bà lên tiếng can:
            - Thôi! Để cho anh ta đi đi…
            - Nhưng… - Tên lái xe miễn cưỡng buông anh ra.
            Kỹ sư Khoa nhìn về phía người đàn bà. Anh giật mình nhận ra đó là cô Thoa, nhân viên dưới quyền của anh khi còn là cán bộ của phòng nông nghiệp huyện. Cô Thoa bây giờ đã là phó giám đốc sở nông nghiệp tỉnh. Cô đang trên đường đi xuống cơ sở để kiểm tra tình hình sản xuất nông lâm nghiệp. Cô Thoa định hỏi thăm nhưng lại thôi. Kỹ sư Khoa đã ngồi lên yên cái xe đạp tồng tộc. Một tay anh cầm cái thòng lọng bắt lợn vừa bị văng ra. Cái thòng lọng chĩa ra phía trước đu đưa trông như một cái giá treo cổ nghiêng nghiêng.
            Kỹ sư Khoa lại đạp xe đi tiếp trên còn đường đất đỏ vắng bóng người qua lại. Chiếc xe con của bà phó giám đốc sở nông nghiệp từ phía sau phóng vụt qua. Bụi đỏ cuốn lên mù mịt trùm lấp cả người và xe của gã hoạn lợn lang thang…
            Tái bút: Câu chuyện về gã hoạn lợn xin được dừng lại ở đây. Hy vọng sẽ đem đến cho bạn đọc một ý nghĩa gì đó về cuộc sống thông qua cuộc đời một con người mà tôi đã biết. Tất nhiên gã hoạn lợn là nguyên mẫu của truyện ngắn này cuộc đời có khác hơn, khá hơn so với nhân vật. Nhưng chưa chắc trong cuộc đời thực gã có được những giây phút tuyệt vời như gã hoạn lợn trong câu chuyện của tôi… (Trọng Bảo).

                                                                     Hà Nội, tháng 3-2012
  

Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2012

Truyện ngắn GÃ HOẠN LỢN (phần 2)

         
               

              Gã hoạn lợn
            Truyện ngắn của Trọng Bảo

           Phòng nông nghiệp huyện có hơn chục người. Phần đa toàn là những kỹ sư hoặc tốt nghiệp cao đẳng nông lâm nghiệp. Thế mà đột nhiên lại có một cử nhân ngành sử học được đưa về biên chế vào bộ phận chuyên phụ trách theo dõi, chỉ đạo công tác chăn nuôi, thú y. Khi được thông báo tiếp nhận cô nhân viên mới này về bộ phận của mình kỹ sư Khoa rất ngạc nhiên và bức xúc. Anh phản đối thì ông trưởng phòng vỗ vai tặc lưỡi:
          - Con bé này là cháu ông phó chủ tịch tỉnh đấy!
          - Nhưng là một người không đúng chuyên ngành đã đào tạo thì về phòng nông nghiệp biết làm được việc gì?
          - Ôi dào! Cần gì đúng chuyên ngành... nó về đây chỉ là kiếm một chỗ đậu tạm để lấy biên chế là viên chức nhà nước thôi! Cậu đừng có lo, chờ vài hôm nữa sau đại hội, ông phó chủ tịch tỉnh lên chức chủ tịch là nó sẽ lập tức bay vút đi ngay ấy mà!
          - Thế thì bác cho cô ấy vào bộ phận khác nhé. Bộ phận chăn nuôi, thú ý không cần cán bộ nghiên cứu về môn lịch sử... - Kỹ sư Khoa nhấm nhẳng.
          Ông trưởng phòng hơi bực vì thái độ của kỹ sư Khoa. Ông sẵng giọng:
          - Các bộ phận khác đã đủ và dư người rồi! Bộ phận của cậu đang thiếu biên chế nên mới đưa về đấy chứ!
          - Nhưng… biết giao cho cô ấy công việc gì?
          - Thì... thì... cậu cứ giao cho cô ấy hàng ngày vệ sinh phòng làm việc, chùi rửa ấm chén, đun nước sôi cho các bộ phận trong toàn phòng không được à!
          - Nhưng đấy đâu phải là công việc chuyên môn chính! Chả lẽ lại bảo cô ấy đi nghiên cứu lịch sử hình thành của loài lợn, chiến công của loài chó hay quá trình tiến hóa của loài ngỗng à?
          Ông trưởng phòng bật cười, dịu giọng:
          - Đấy! Cậu cũng đã biết nghĩ ra việc để giao cho cô ấy làm rồi còn gì! Hì... hì... Mà thôi cậu đừng có băn khoăn suy nghĩ mãi, hao tâm mệt não. Bên phòng văn hóa thể thao còn có một thằng là kỹ sư hóa chất, phòng công nghiệp còn có hai đứa vừa tốt nghiệp cao đẳng sư phạm mới về nhận công tác đấy! Toàn là loại “CCCC” cả thôi, hiểu không!
          Thế là bộ phận chỉ đạo chăn nuôi, thú y có thêm một cô cử nhân đại học chuyên ngành nghiên cứu về lịch sử. Cô bé này tuy không thật xinh đẹp nhưng cũng ưa nhìn. Cô có nước da trắng như bột lọc, tính tình tuy hơi đành hanh nhưng cũng có vẻ chịu khó. Cô ta vừa học xong đại học tổng hợp chuyên ngành sử, được phân công về nhận công tác ở một tỉnh miền núi Tây bắc nhưng sợ khổ và không muốn đi xa nhà. Hàng ngày cô cử nhân lịch sử đến cơ quan sớm hơn mọi người để đun nước sôi cho các bộ phận. Cô đi từng phòng làm việc thu về mười cái phích rồi đun một nổi nước sôi to đổ đầy xong lại đem chia về các phòng. Hết giờ làm việc thì cô ta lại đi từng phòng để thu phích và tráng rửa ấm chén, đổ bô đựng bã chè. Còn trong giờ hành chính chủ yếu cô ta ngồi đan len và chờ ông trưởng phòng sai vặt việc chuyển thư từ, công văn, gọi người lên họp hành, hội ý... Kỹ sư Khoa rất bực vì tự dưng bộ phận của mình lại có thêm một nhân viên làm tạp vụ chung cho toàn cơ quan như thế trong khi người làm chuyên môn thì đang thiếu. Kỹ sư Khoa càng bực hơn khi một hôm tay phụ trách bộ phận kỹ thuật trồng trọt kéo anh cười cười bảo:
          - Cám ơn bộ phận của ông nhé!
          - Cám ơn vì việc gì?
          - Vì… từ ngày bộ phận của ông có một nhân viên chuyên trách việc đun nước sôi, vệ sinh chung cho cả phòng thì bộ phận của bọn mình cũng đỡ vất vả xì xụp đun nấu, cần nước sôi pha trà là có ngay. Thật thuận tiện quá…
          - Hừ… hừ…
          - Nhưng chúng tớ đề nghị ông phải chú ý tăng cường kiểm tra “trình độ chuyên môn” của nữ nhân viên mới này. Không hiểu nước sôi của bộ phận cậu cung cấp có đủ 100 độ hay không mà nhiều hôm uống vào đang họp mà cứ phải chạy đi đái rắt liên tục đấy… Ông là người phụ trách của cô ấy thì phải chịu trách nhiệm về chuyện này chứ? He he…
          Nghe tay phụ trách bộ phận trồng trọt nói như vậy kỹ sư Khoa tức đến nghẹn cả cổ họng nhưng không làm gì được hắn ta.
          Trong khi kỹ sư Khoa ghét cay ghét đắng cô nhân viên mới thì ngược lại cô ta lại có vẻ rất thích anh. Có lẽ là vì anh đẹp trai và thông minh, tài giỏi. Nhiều đề tài nghiên cứu về con giống, thức ăn chăn nuôi, phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm của kỹ sư Khoa được đánh giá cao, ứng dụng có hiệu quả. Uy tín của anh trong các hợp tác xã toàn huyện rất cao. Có tin đồn là khi ông trưởng phòng đến tuổi về nghỉ hưu anh sẽ được đề bạt thay thế. Ông trưởng phòng từ lâu đã rất tín nhiệm, tin tưởng và có ý định nâng đỡ, giới thiệu anh. Một hôm, anh gọi kỹ sư Khoa lên gặp. Rót cho anh một chén nước chè nóng ông bảo:
          - Ông chủ tịch tỉnh khen cậu lắm…
          - Ơ… làm sao mà ông ấy biết em là ai mà khen ạ?
          Ông trưởng phòng nháy mắt nhìn anh kỹ sư:
          - Này! Tớ hỏi thật nhé, cậu thích cô Thoa rồi hả?
          - Thích gì mà thích! - Kỹ sư Khoa bực: - Mà sao lần trước bác bảo là khi ông phó chủ tịch tỉnh lên chức chủ tịch thì cô ấy sẽ “bay vút ngay đi” cơ mà?
          - Nhưng bây giờ thì cô ấy sẽ không bay đi đâu nữa! Cô ấy sẽ ở lại lâu dài làm cán bộ ở phòng nông nghiệp đấy…
          - Sao lại thế được ạ?
          - Thế mà vẫn được đấy! Mà cậu đừng có ác cảm với cô ấy. Chính nhờ cô ấy luôn nói tốt, ca ngợi cậu nên ông chủ tịch tỉnh mới biết đến tài năng của cậu. Thời cơ ngàn năm có một đấy hiểu không?
          Nhìn vẻ mặt nhăn nhó đến thảm hại của kỹ sư Khoa, ông trưởng phòng an ủi:
          - Ở đời có những điều mình muốn cũng chả được, không mong mà nó vẫn cứ đến. Cái cô Thoa này có cái ô to, lại mê mẩn cậu. Thôi thế cũng là điều tốt. Vài hôm nữa tớ nghỉ hưu, cậu có ông chủ tịch nâng đỡ, thay chức trưởng phòng của tớ chả hay quá à?
          Kỹ sư Khoa bật dậy:
          - Em không cần ai nâng đỡ kiểu ấy! Thế thì sao ông ấy không để cho cô ấy lên mà làm trưởng phòng nông nghiệp luôn cho rồi…
          - Cậu ngồi xuống đi! - Ông trưởng phòng vẫn nhỏ nhẹ: - Cậu đừng có hấp tấp dại dột thế. Đúng là nếu cậu mà không thay tớ làm trưởng phòng thì cô ấy sẽ làm trưởng phòng đấy hiểu không?
          Kỹ sư Khoa trố mắt không hiểu. Ông trưởng phòng ngậm ngùi:
          - Tôi với cậu đều là dân chuyên làm khoa học thật thà, nhiệt tình với công việc chuyên môn thuần tuý mà không thấu hiểu hết những góc khuất, trúc trắc của cuộc sống, không biết những thủ thuật ở chốn quan trường. Cậu không biết chứ cánh tay của cô bé này dài lắm. Cô ấy mê cậu, có ý giúp cậu. Nếu cậu mà nhủng nhẳng lảng ra là hỏng bét hết cả đấy…- Ngừng một lát như để anh kỹ sư ngấm cái điều triết lý vừa nói, ông trưởng phòng bảo: - Từ tháng sau bộ phận của cậu phải bố trí, sắp xếp lại công việc, cô Thoa chỉ làm nửa buổi thôi còn nửa buổi chiều là cô ấy đi học đấy!
          - Cô ấy học cái gì nữa thế?
          - Cô ấy sẽ đi học đại học tại chức, ngành nông nghiệp...
          Kỹ sư Khoa há hốc miệng kinh ngạc. Thì ra quyết tâm ở lại làm cán bộ lâu dài tại phòng nông nghiệp huyện của cô Thoa là có thật. Kỹ sư Khoa đứng dậy chào ông trưởng phòng. Trước khi ra về anh định nói với ông trưởng phòng một điều gì đó nhưng lại thôi. Anh bước đi dọc theo con mương nước nhỏ về nhà nghỉ mà lòng ngổn ngang bao suy nghĩ. Anh nghĩ đến việc nhất định phải xin chuyển công tác đi nơi khác khi ông trưởng phòng về hưu. Bởi chắc chắn anh có ở lại thì sẽ khó làm việc nếu không lên được chức trưởng phòng. Thực ra anh chả ham hố gì cái chức trưởng phòng này. Có điều là nếu sau hơn một năm cái cô cử nhân đại học sử kia trở thành một kỹ sư nông nghiệp mà lên làm lãnh đạo thì anh không thể nào hợp tác được.
          Mấy ngày sau không hiểu làm sao mà cô Thoa biết khá chi tiết về buổi nói chuyện của anh kỹ sư với ông trưởng phòng. Cô hơi buồn. Nhất là khi thấy thái độ lạnh nhạt, coi thường của kỹ sư Khoa đối với cô. Nhưng cô Thoa vẫn hy vọng. Cô đã có một dự định khác.
          Cuối giờ làm việc hôm đó trời sắp mưa. Mây đen ùn ùn kéo đến nên bầu trời tối sập lại. Mọi người đã ra về hết nhưng kỹ sư Khoa vẫn còn cắm cúi mải mê ở phòng làm việc. Anh phải hoàn thành nốt bản báo cáo khoa học về dự án bảo tồn nguồn gien và phát triển đàn lợn cỏ bản địa có chất lượng tốt ở một xã ven chân núi Tam Đảo. Lúc anh định ra về thì cơn mưa to sầm sập đổ xuống. Tiếng sét đánh long trời, chớp loé lên lằng nhằng. Có tiếng như là cây đổ, đá lở ầm ầm trên núi. Anh kỹ sư vừa định rời bàn làm việc ra khép lại cánh cửa cho gió khỏi đập thì cô Thoa bước vào. Cô Thoa bao giờ cũng là người cuối cùng rời khỏi cơ quan vì còn phải làm các công việc tạp vụ của mình.
          Thấy cô Thoa vào, anh kỹ sư hỏi:
          - Cô chưa về à?
          - Em đang định về thì trời mưa to quá… mà… mà em thì sợ sấm sét lắm anh ạ!
          Kỹ sư Khoa hơi lo lo vì khu cơ quan vắng vẻ quá. Anh cảnh giác đứng dậy bảo:
          - Vậy thì cô ở lại rồi về sau nhé! Tôi về trước đây!
          - Nhưng trời còn đang mưa to lắm anh ạ!
          - Không sao! Tôi có áo mưa rồi.
          Nói đoạn, anh thu vội vã đống giấy tờ nhét vào cái cặp. Khi anh vừa với tay định lấy cái áo mưa treo trên vách thì có một tiếng sét nổ vang. Mặt đất chuyển rung. Đèn điện vụt tắt. Tiếng cô Thoa rú lên vẻ hoảng hốt. Kỹ sư Khoa nhào lại phía bàn làm việc định mở ngăn kéo tìm cái bật lửa và cây nến thì chạm ngay phải cô Thoa. Cô Thoa vội ôm chặt lấy anh kỹ sư. Kỹ sư Khoa hoảng quá ú ớ kêu không lên lời. Cô Thoa thở hổn hển và cũng kêu những tiếng không rõ ràng. Kỹ sư Khoa luống cuống gỡ hai cánh tay cô Thoa đang ôm riết rất chặt lấy mình. Bàn tay của anh chạm ngay vào cặp vú mềm mại căng tròn của Thoa. Anh giật mình vì hình như đó là da thịt thật chứ không phải là qua một lớp vải. Kỹ sư Khoa vội rụt ngay tay lại như vừa chạm vào than bỏng. Nhưng cô Thoa thì lại cứ cố chà sát ấn khuôn ngực của mình vào tay anh. Khi kỹ sư Khoa còn đang cố giằng thoát ra khỏi vòng tay của cô gái thì điện bỗng bật sáng. Kỹ sư Khoa hốt hoảng khi nhìn thấy cô Thoa đã mở phanh hết cả ngực áo ra. Cô không mang áo ngực, cũng không thấy cái thứ đó rơi xuống đất. Thì ra cô đã có ý định từ trước khi vào phòng của anh kỹ sư. Cô cũng không lấy tay che ngực khi ánh điện bật sáng. Làn da của cô trắng như bột lọc dưới ánh đèn điện nê-ông xanh lét.
          Rất nhanh, kỹ sư Khoa gạt cô gái sang một bên rồi lao ra khỏi phòng giống như một tên ăn trộm bị bắt quả tang phải tháo chạy thoát thân.
          Cô Thoa đứng như trời trồng giữa phòng một lúc rồi mới lặng lẽ cài lại khuy áo…
          Tái bút: Tác giả rất tiếc là phải kết thúc phần 2 mà chưa làm rõ được vì sao từ một kỹ sư nông nghiệp giỏi như Khoa lại trở thành một gã làm nghề hoạn lợn rong? Bởi vì thằng cháu nội yêu quý lại đòi bế và chơi với nó. Thế là tôi lại có lý do tạm dừng câu chuyện ở đây để kéo thêm một phần nữa rồi. Hi…(Trọng Bảo).

           (còn nữa)                                                     Hà Nội, tháng 3-2012

Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2012

Truyện ngắn GÃ HOẠN LỢN (phần 1)

             

           Gã hoạn lợn
             Truyện ngắn của Trọng Bảo
          
         Buổi trưa mùa hè vùng trung du dường như nóng hơn. Cái nóng hầm hập đổ xuống mặt đường sỏi bốc lên táp vào mặt người. Những con đường ven đồi giữa trưa thường ít người qua lại. Thỉnh thoảng mới có những người đi hàn nồi, đổi muối lấy phế, mua lông gà lông vịt, bán kem que đạp xe lọc cọc vào từng ngõ xóm. Họ phải đi giữa ban trưa vì lúc đó các gia đình mới có người ở nhà. Những tiếng rao “Ai bán đổi, hàn nồi không!”, “Ai bán lông gà lông vịt, đổi dép nhựa hỏng không!”, “Ai đổi muối, mua chiếu không!”… nghe như bị hụt hơi vì mệt và nóng. Mấy bà lễ mễ xách lỉnh kỉnh những thứ đồ nhựa hỏng, lông gà, tóc rối ra ngõ đón. Một đứa trẻ con ôm cái lưỡi cày gãy chờ đổi kẹo mạ, kem que. Tiếng mặc cả vài trăm, vài nghìn lao xao buổi trưa ở cái xóm vắng ven đồi cọ già.
          Có một người đàn ông đạp chiếc xe tồng tộc vào làng. Ông ta không có đôi sọt thồ hàng hóa mà chỉ có một cái thòng lọng buộc dọc theo khung xe và một cái túi dếp nhỏ đeo bên hông. “Chắc lại là một gã đi mua chó về làm phở!” - Có một bác đoán già, đoán non.
          Khi vào đến đầu xóm ông ta cất tiếng rao:
          - Hoạn lợn ơ… hoạn lợn ơ…
          Thì ra đó là một gã hoạn lợn. Một anh nhao ra đầu ngõ gọi to:
          - Vào nhà tôi… nhà tôi cần hoạn con lợn nái để vỗ béo bán cho cửa hàng thực phẩm…
          - Nhà tôi cần hoạn hai con lợn con... - Một bà khác lên tiếng.
          Thêm mấy người nữa nhao nhao gọi gã hoạn lợn. Gã ngoặt ngay xe vào ngõ. Vào đến đầu ngõ có bụi tre râm mát, gã ta trật ngay cái mũ lá rách ra sau lưng. Một ông đang cầm cái quạt lá cọ phe phẩy nhìn theo gã chợt thốt lên :
          - Ơ... tôi trông gã này hơi quen quen...
          Ông nông dân chưa kịp nhớ ra gã này là ai thì đã thấy tiếng lợn kêu eng éc thảm thiết trong một ngôi nhà bên lối đi. Gã thao tác rất nhanh. Chú lợn con được buộc túm hai chân sau treo lên cành cây bưởi thấp. Gã mở túi lấy con dao “chuyên ngành” ra. Chỉ với một động tác rất nhanh gọn gã rạch một đường ở cuối bụng con lợn lấy ra hai hòn cà vứt vào bát nước lã rồi khâu vết mổ lại. Đoạn lão bảo anh chủ nhà lấy cái chảo ra cạo một ít nhọ than xoa xoa vào vết thương con lợn để khử trùng. Con lợn nái to thì cần có người giúp sức trói lại rồi đặt nằm trên tấm ván nghiêng để gã xử lý lấy ra hai buồng trứng. Khi gã đang tiến hành “phẫu thuật” thì có ai đó bảo:
          - Cô Hoan ở cuối xóm có hai con lợn đực giò đang rất cần thiến ngay để vỗ béo đấy!
          - Vâng... vâng...
          Gã ậm ừ trong cổ họng. Có ai đó cười khi khí phía sau: “Không biết cô ấy có cần như thế này không nhỉ….”. Gã chẳng hiểu và không để ý câu nói ấy. Thiến xong hai con lợn con và một con lợn nái sổi gã rửa tay nhận tiền công. Uống bát nước chè xanh gia chủ mời, cài chiếc thòng lọng vào xe đạp rồi gã  phóng ra khỏi ngõ.
          Đạp xe lên một con dốc thoai thoải gã vào đúng ngõ nhà cô Hoan. Gã vừa cất tiếng: “Ai hoạn lợn ơ…” thì cô Hoan đã đứng chặn ngay trước mặt. Cô đang bẻ một quả dứa chín ở khuất sau mấy tàu lá cọ sát lối cổng vào. Gã hơi giật mình khi cô Hoan bước ra bất ngờ. Chiếc xe đạp đang lên dốc phanh kít dừng lại đột ngột loạng choạng. Cô Hoan tay xách hai quả dứa chín thơm phưng phức bảo gã:
          - Mời bác vào, nhà em có hai con cần thiến gấp…
          - Ấy… - Gã vội chữa lại: - Tôi chỉ chuyên thiến lợn thôi…
          Cô Hoan bật cười khanh khách:
          - Thì biết bác chuyên hoạn lợn nên em mới nói tắt thế, chứ ai lại…
          Cô Hoan đong đưa đôi mắt liếc nhìn gã nói rồi tong tả bước đi trước. Gã dắt chiếc xe đạp theo sau. Mắt gã tự do nhìn như hút vào tấm lưng tròn và mịn của cô Hoan. Chiếc áo lót mỏng thấm mồ hôi làm nổi rất rõ cả bộ đồ lót cô mặc bên trong. “Cô này đang mang cái xu-chiêng màu đen” - Gã thầm nghĩ và khe khẽ nuốt nước bọt ực một cái.
          Vào đến sân, cô Hoan bảo:
          - Để em múc chậu cám cho hai con lợn ăn bác dễ bắt…
          - Thế cũng được!
          Cô Hoan vào bếp. Gã dựng xe rút chiếc thòng lọng và mang đồ nghề ra cái chuồng lợn ở phía góc sân. Trong khi chờ cô Hoan, gã tranh thủ quan sát. Ngôi nhà của cô Hoan ở cuối xóm nên vắng vẻ. Hình như chỉ có một mình cô ở nhà. Lúc nãy thiến mấy con lợn ở đầu xóm gã nghe loáng thoáng mấy người nói cô Hoan này góa chồng, có một cậu con trai ở với ông bà nội và đang học cấp hai trên thành phố.
          Cô Hoan bưng chậu cám lợn ra. Hai con lợn đang đứng rúm dó ở góc chuồng vì nhìn thấy người lạ là gã. Ngửi thấy mùi cám chúng liền ụt ịt xô ra phía cửa chuồng. Cô Hoan xúc cám lợn đổ vào cái máng. Hai con lợn vội xô ngay đến. Gã thò chiếc thòng lọng vào chuồng lợn lựa chân hai con lợn. Nhưng tay gã chợt run bắn lên. Tim gã đập loạn. Cô Hoan đang đứng sát bên cạnh gã. Khi cô cúi xuống múc cám lợn đổ vào máng cái cổ áo rộng chùng xuống trông rõ gần hết cả hai vầng ngực to căng tròn mịn màng đang đung đưa theo hoạt động của cánh tay của cô. Gã khua khua cái thòng lọng lựa chân sau con lợn. Mu bàn tay trái của gã chợt chạm vào một bên ngực của cô Hoan. Cô Hoan hơi giật mình khẽ thu người lại. Chiếc thòng lọng vướng vào chân sau một con lợn. Con lợn hoảng hốt bỏ máng kéo cái thòng lọng chạy vút vào góc chuồng phía trong làm bàn tay phải của gã trườn ngang cọ sát mạnh vào ngực cô Hoan. Cô Hoan vội đứng thẳng người lên nhìn hắn. Hắn luống cuống. Cả hai đều đỏ mặt lúng túng. Nhưng vốn là một người từng trải, gã làm chủ được tình hình ngay tức thì. Gã nhìn chằm chằm vào bộ ngực nở nang của cô Hoan. Cô Hoan vội ấp hai bàn tay lên ngực để giảm bớt độ căng và sự lộ liễu của mình đi chút ít. Gã buông cái thòng lọng còn đang vướng vào chân con lợn rồi đặt bàn tay mình chồng lên bàn tay úp trên ngực của cô Hoan xoa nhẹ một cái. Cô Hoan hơi lùi lại nhớn nhác ngó ra ngoài cổng…
          Sau hôm thiến không công hai con lợn cho nhà cô Hoan gã thợ hoạn rất hay đến tiếp thị việc hoạn lợn tại cái xóm Trại miền đồi trung du này. Có lần chẳng thấy gã đem theo thòng lọng và đồ nghề, cũng không rao chào gì mà cắm cúi đạp xe về phía cuối xóm. Có hôm gã còn đi tắt từ phía xóm Bứa sang mà không qua xóm Trại để tránh trạm mặt người dân xóm Trại. Còn cô Hoan kể từ hôm hoạn hai con lợn tự dưng lại phây phây ra. Đặc biệt sau khi bán hai con lợn đực thiến tăng trọng rất nhanh ấy thì chuồng lợn của cô được mở rộng, nuôi thêm cả chục con lợn. Con nào con nấy đều hay ăn và lớn rất nhanh, chỉ độ vài tháng là đã có một lứa lợn xuất chuồng. Dần dà khi nông nghiệp chuyển sang cơ chế mới cô Hoan bỏ vốn đầu tư xây hẳn một dãy nhà làm khu chăn nuôi ở ven khu đồi cọ, thuê thêm hai cả người làm công chuyên lo cám bã cho lợn, vệ sinh chuồng trại nữa. Khi nhà cô Hoan hình thành một khu chăn nuôi mang tính công nghiệp dân làng vẫn thỉnh thoảng thấy gã hoạn lợn ở trong khu trang trại. Dân xóm Trại kháo nhau: “Hình như cô Hoan làm ăn, chăn nuôi thành công là nhờ gã hoạn lợn đã truyền cho bí quyết gì đó nên nuôi lợn mới nhanh lớn như thổi”. Ông Đông, là người ở đầu xóm mấy năm trước nghĩ gã là người quen quen chợt đập cái quạt lá cọ phạch một cái xuống chõng đang ngồi kêu lên:
          - A… a… tôi đã nhớ ra gã hoạn lợn này là ai rồi...
 *
          Đúng, gã hoạn lợn này không phải là một người quá xa lạ đối với dân vùng trung du này. Có điều là mọi người ít để ý nên không nhớ ra thôi.
          Ngày ấy còn chế độ sản xuất tập trung hợp tác xã nông nghiệp. Ruộng đất đều do hợp tác xã quản lý. Ngày ngày theo tiếng kẻng bà con vác cày cuốc, đưa trâu bò ra đồng cày cấy. Khí thế lao động thì hăng hái, phấn khởi, trống giong, cờ mở nhưng năng xuất lúa và hoa màu thì rất kém. Lúa cấy trổ bông mà chó chạy hở lưng. Mùa gặt sân kho chỉ thấy rơm, không thấy thóc. Hợp tác xã phát động thi đua lao động sản xuất giỏi để nâng cao đời sống cho xã viên. Thanh niên được chọn là lực lượng đi đầu xung kích. Phong trào phổ cập khoa học kỹ thuật được phát động trong các đội sản xuất. Bà con đội sản xuất xóm Trại rất tò mò khi thấy đám thanh niên say mê trao đổi học tập kiến thức khoa học và  chăm lo cày cấy, gieo trồng trên những thửa ruộng cao sản, lập trại chăn nuôi mang tên đoàn viên thanh niên. Cấp trên cử nhiều cán bộ về giúp đỡ hợp tác xã nông nghiệp. Trong số cán bộ trên cử về đội sản xuất xóm Trại có một anh kỹ sư trẻ. Anh này công tác ở phòng nông nghiệp huyện. Anh ngày đêm lăn lộn gắn bó với phong trào thanh niên xung kích trên mặt trận nông nghiệp của xã và của đội sản xuất xóm Trại. Thanh niên đội sản xuất xóm Trại đã tạo nên những thửa ruộng lúa có năng xuất cao, trại chăn nuôi có đàn lợn lớn nhanh, cho lượng thịt tăng hơn hẳn trước kia. Thế nhưng thành công của nhóm thanh niên xóm Trại chẳng có ý nghĩa gì khi cả một cơ chế quản lý sản xuất đã trì trệ lỗi thời. Hợp tác xã ngày càng đi xuống, thu nhập ngày công lao động ngày càng thấp, đời sống của nông dân ngày càng khốn khổ.
          Khi nông nghiệp chuyển sang cơ chế khoán 100 rồi khoán 10 thì bộ mặt nông thôn mới đổi mới, đời sống của người nông dân mới khấm khá dần lên. Anh kỹ sư nông nghiệp ấy thỉnh thoảng vẫn về xã hướng dẫn, giúp bà con sản xuất. Khi ruộng đất đã về tay nông dân thì năng xuất tăng cao hơn gấp bội. Người nông dân tự lo làm đất, phân giống, thuốc trừ sâu, tự tìm hiểu khoa học kỹ thuật để nâng cao năng xuất lao động. Và cũng kể từ đó ít thấy cán bộ cấp trên về lội ruộng, thăm đồng chỉ đạo nông dân như trước nữa. Bẵng đi một thời gian dài dân xóm Trại cũng không còn gặp anh kỹ sư nông nghiệp huyện trẻ trung, đẹp trai và năng nổ ấy nữa. Không ngờ sau hơn chục năm người kỹ sư ấy lại chính là gã hoạn lợn. Có lẽ người đã nhận ra gã đầu tiên chính là cô Hoan. Cô Hoan đã nhận ngay ra gã khi gã vừa bước vào cổng nhà mình. Khi gã về giúp thanh niên đội sản xuất xóm Trại nghiên cứu cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng xuất lao động thì cô Hoan chỉ là một đội viên đội thiếu niên tiền phong đang học lớp 6 trường làng. Tuy còn bé tý nhưng cô Hoan lại rất hay ra ruộng xem các anh chị đoàn viên thụ phấn cho ngô, chăng dây cấy lúa thẳng hàng. Cô Hoan ngày ấy đã rất thích anh kỹ sư trẻ, đẹp trai nhiệt tình với làng xóm quê hương mình. Vì thế cô nhớ gã chứ gã làm sao mà nhớ nổi cô bé thiếu niên ở cái xóm Trại heo hút ngày nào. Có lẽ cũng vì nhận ngay ra gã hoạn lợn là ai nên hôm đầu tiên gặp lại cô Hoan đã cố ý để cho gã trông thấy và chạm vào cặp tuyết lê vẫn còn rất tuyệt vời của mình khi cùng gã bắt lợn để thiến buổi trưa hè ấy.
          Cũng chính sau lần ấy, gã hoạn lợn đã giúp cô Hoan thiết kế, xây dựng một khu chăn nuôi khá khoa học và quy củ. Gã tư vấn, hướng dẫn kỹ thuật cho cô. Cái bằng kỹ sư nông nghiệp ngành chăn nuôi của gã ngày ấy là thật hột. Kiến thức chuyên ngành chăn nuôi của gã là kiến thức thực sự nên đã giúp nhiều cho cô Hoan. Từ khi trợ giúp cô Hoan xây dựng được một khu trang trại chăn nuôi rất có hiệu quả cao gã hoạn lợn mới chợt hiểu rằng cái kiến thức mình học được trong trường đại học, kinh nghiệm tích lũy được trong cuộc đời hóa ra bây giờ mới thực sự phát huy được hết tác dụng. Ngày còn trẻ, tương lai sáng tươi phơi phới gã cứ nghĩ mình sẽ trọn cuộc đời mang tri thức góp phần cho xã hội. Có ngờ đâu gã chả đóng góp được bao nhiêu. Cái vốn tri thức học được ở trường đại học nông nghiệp ấy sau này chỉ giúp gã trở thành một tay hoạn lợn giỏi nổi tiếng trong vùng mà thôi. Chính nhờ cái nghề hoạn lợn rong trong dân gian ấy đã nuôi sống gã qua cơn bĩ cực, đã giúp cho gã gặp lại một cô gái đã si mê mình từ khi còn là một cô bé thiếu niên quàng khăn đỏ ở một cái xóm núi xa xôi...
          Tái bút: Viết đến đây thì thằng cháu nội vô cùng yêu quý đã ọ ẹ đòi ông đến chơi và “nói chuyện” với nó. Vì thế nên phần tiếp theo của câu chuyện vì sao từ một anh kỹ sư nông nghiệp trẻ tương lai rạng rỡ vô cùng lại trở thành một gã hoạn lợn rong nơi các xóm làng vùng trung du sỏi đá cằn cỗi này thì phải chờ đến hôm sau tôi mới viết tiếp được! (Trọng Bảo).
          (còn nữa)                                      Hà Nội, tháng 3-2012

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

Truyện cực ngắn SĂN LÙNG LÃNH ĐẠO (phần II)


        
Săn lùng lãnh đạo (II)
Truyện của Trọng Bảo

          Rồi thì quan đứng đầu bộ phận sơ tuyển cũng dâng lên nhà vua bản danh sách 101 ứng viên vào ngôi vương sau khi đã sàng lọc 1001 bộ hồ sơ dự thi. Nhà vua mừng lắm. Ngài nhìn danh sách thấy toàn là các quan giữ vị trí trọng yếu trong triều, có uy tín. Vị quan đứng đầu bộ phận sơ tuyển được vua ban thưởng rất hậu hỹ.
          101 ứng cử viên vào ngôi hoàng đế được triệu vào cung để bộ phận trung tuyển bắt đầu làm việc. Trưởng quan trung tuyển vốn là một nhân tài của đất nước. Tuy vậy vị quan đứng đầu bộ phận trung tuyển vẫn rất cẩn trọng khi tổ chức kỳ “thi vua”. Ông bèn dâng tấu biểu xin nhà vua trực tiếp làm chủ khảo vòng thi thứ nhất để chọn lấy 11 người đưa vào vòng sau cho bộ phận cao tuyển bỏ phiếu bầu lấy 1 người làm vua.
          Nhà vua vui vẻ nhận lời làm chủ khảo.
          Vòng thi vấn đáp diễn ra ngay tại sân rồng. Các quan lần lượt trả lời các câu hỏi về chính sách xây dựng đất nước, an dân, mưu kế về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và thực hành việc giao đấu võ nghệ, thi thố tài năng bài binh bố trận.
          Ba vị quan sáng giá nhất vào đợt thi đầu tiên. Nhà vua đặt câu hỏi về chiến lược, sách lược trị quốc an dân và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Các câu hỏi đều ngang với trình độ tiến sĩ nhưng không ai trả lời được. Nhà vua hạ cấp câu hỏi xuống trình độ thạc sĩ cũng không ai trả lời được. Hạ xuống trình độ đại học rồi cao đẳng, trung cấp cũng vậy. Nhà vua ngạc nhiên và nghĩ chắc là các quan “khiêm tốn”. Ngài liền hạ cấp các câu hỏi xuống bậc phổ thông, lớp 12, lớp 11, lớp 10, lớp 9, lớp 8 rồi lớp 7, lớp 6 cũng không một ai có câu trả lời đúng. Khi hỏi về kiến thức lớp 3 mới có một quan cấp đầu tỉnh trả lời được. Nhà vua vô cùng cáu tiết. Ngài đập bàn thét:
          - Lôi cổ quan sơ tuyển ra đây!
          Lính cấm vệ lập tức lôi ngay vị quan đứng đầu bộ phận sơ tuyển ra bắt quỳ giữa sân rồng. Vị quan sơ tuyển run cầm cập không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Vua quát:
          - Nhà ngươi thật đáng tội chết! Tại sao lại chọn toàn những kẻ bất tài thế này đưa vào trung tuyển làm vua hả. Có phải nhà ngươi đã ăn đút lót nên tổ chức việc sơ tuyển không kỹ phải không? Thật đáng tội xử trảm…
          Quan sơ tuyển mặt cắt không còn giọt máu lập cập thưa:
          - Muôn tâu bệ hạ! Bộ phận của thần chỉ có nhiệm vụ kiểm tra nhân thân, xác định lý lịch và rà soát bằng cấp thôi ạ!
          - Vậy nhà ngươi kiểm tra thế nào mà toàn là những người có bằng cấp cao nhưng lại mù tịt tri thức thế hả! Hay là bằng giả?
          - Thưa không phải ạ! Đây toàn là bằng thật thôi! Các loại bằng giả, bằng không đúng trình độ thần đều đã loại hết cả rồi ạ… Cúi xin bệ hạ suy xét.
          Nhà vua lại quát:
          - Gọi ngay giám đốc “Học viện Trị quốc an dân” ra đây!
          Quan giám đốc Học viện Trị quốc an dân là thành viên bộ phận trung tuyển đang đứng chầu vội chạy ra quỳ ngay xuống trước mặt vua. Nhà vua hỏi:
          - Khanh xem các tấm bằng này có phải đúng là do Học viện Trị quốc an dân của khanh đã cấp không?
          Giám đốc Học viện Trị quốc an dân lập cập cầm mấy tấm bằng lên xem. Đó toàn là những tấm bằng tốt nghiệp loại ưu tú cấp cho các quan có luận văn trị quốc, an dân đạt loại xuất sắc. Giám đốc Học viện Trị quốc an dân bèn tâu:
          - Thưa bệ hạ! Đây chính xác là các bằng do học viện của thân cấp cho các quan ạ!
          - Đúng là bằng thật chứ?
          - Thưa vâng! Không thể là bằng giả được vì mỗi tấm bằng này đều có một con chíp bé tý chỉ bằng hạt kê thần đặt mua của các nước tư bản gắn ở bên trong và được quản lý bằng công nghệ thông tin nên không thể nào mà làm giả được.
          - Thế tại sao các quan lại có kiến thức thấp đến như thế. Hay là đội ngũ giảng viên của học viện quá kém hoặc là do quy trình đào tạo có vấn đề?
          - Dạ thưa học viện của thần nghiêm túc lắm. Không có chuyện giảng dạy qua loa, quay cóp khi thi. Các luận văn tốt nghiệp đều chấm qua ba vòng, bảo vệ hai lượt, phản biện bốn lần, không thể nào lọt luận văn kém được ạ!
          - Vậy thì tại sao bây giờ trẫm hỏi các kiến thức về trị quốc, an dân các quan lại không ai trả lời được hả?
          - Thần cũng không hiểu. Hay là để thần thử vấn đáp thêm mấy quan nữa xem sao ạ!
          - Thôi không cần… - Nhà vua gạt đi rồi quay sang những thí sinh đang quỳ mọp dưới sân quát:
          - Các ngươi trả lời cho ta nghe xem tại sao lại như vậy? Các người hãy thành thật thì ta giảm tội cho!
          Các thí sinh im lặng. Vua hỏi mấy lần vẫn không ai lên tiếng. Ngài cáu quá quát to:
          - Gọi ngay 101 đao phủ vào đây! Tội này là tội “khi quân phạm thượng”, chém đầu không tha! Chém hết!
          101 đao phủ mặt mũi dữ tợn rầm rập chạy vào trình vua. Có người vừa mới thực thi việc chém đầu tội phạm xong, thanh đại đao của họ chưa kịp lau chùi còn ròng ròng máu đỏ khiến các quan tái xanh hết cả mặt mày. Nhà vua dịu giọng bảo:
          - Bây giờ ta cho các ngươi hai sự lựa chọn. Hoặc là không nói thật để bị chém đầu hoặc là nhận tội gian dối để bãi chức về quê…
          101 quan ứng thí rối rít xin nhận tội. Hoá ra sự thật rất đơn giản. Các quan khi đi học tại Học viện Trị quốc an dân đều mang một văn phòng đi theo. Trong thời gian học tập họ đều có người đi học thay, làm luận án thay, thậm chí còn đi thực tập thay để các quan nghỉ ngơi, tiệc tùng, du hý. Gặp đề tài nào khó thì họ bỏ ra vài chục, thậm chí vài trăm lạng vàng thuê mướn các giáo sư, tiến sĩ, bác học làm giúp. Khi bảo vệ luận án thì họ chỉ việc đọc văn bản cho trôi chảy là xong. Mà việc đọc các văn bản viết sẵn thì họ đã rất quen rồi…
          Vậy là đã rõ. Sau chuyện này, 101 vị quan bị bãi chức về quê làm thứ dân. Thế là vòng trung tuyển chọn vua thất bại. Cuộc săn lùng lãnh đạo tại vương quốc nọ càng khó khăn, bế tắc. Nhà vua buồn bã lâm bệnh nặng khiến triều đình càng thêm bối rối lo lắng.
          Câu chuyện tiếp theo thế nào hôm sau tôi sẽ xin dịch tiếp.
                                                                               Ngày 18/11/2011