Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản văn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2020

Tản văn RA PHƯỜNG MÀ HỎI


RA PHƯỜNG MÀ HỎI
Đầu buổi sáng, đang trồng phong lan ở vườn quê thì tôi nhận được hai cuộc điện thoại. Nhà báo Ngô Văn Học, nguyên Tổng biên tập Báo Quân khu 1 vừa điện thoại cho tôi đề nghị gửi cho anh những ghi chép về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 2-1979 để chọn in trong một cuốn sách về chiến tranh xong thì tôi nhận được cuộc điện thoại thứ hai. Đó là điện thoại của một cán bộ hội cựu chiến binh. Anh thông báo:- Hồ sơ đề nghị tặng huân chương của ông làm nhiệm vụ trên tuyến biên giới phía Bắc không đủ điều kiện khen thưởng, phường đã trả lại rồi nhé!Tôi vội hỏi lại:- Tại sao lại không đủ điều kiện?- Thì theo ông khai ông có đủ thời gian 3 năm nhưng lại không liên tục nhé!Thì ra vậy. Tôi công tác ở tuyến 1 biên giới phía Bắc từ đầu năm 1978 đến gần hết năm 1979, sau đó đi học nhưng hơn ba năm sau, đến giữa năm 1984 lại lên lên nhận công tác Quân đoàn 14 làm cán bộ đại đội một đơn vị ở khu vực cửa khẩu Chi Ma, Lộc Bình, Lạng Sơn. Thời gian này chiến tranh vẫn nổ ra rất ác liệt ở Vị Xuyên, Hà Giang và ở bình độ 400 Cao Lộc, Lạng Sơn. Ở khu vực cửa khẩu Chi Ma bọn Trung Quốc vẫn tung thám báo qua biên giới và bắn cối sang khu vực Bản Chắt, Đình Lập ngay sát khu vực đại đội tôi phòng ngự.Do tôi đã có ba năm ở tuyến 1 biên giới nhưng không liên tục nên không đủ điều kiện để tặng huân chương... Anh cán bộ cựu chiến binh giải thích thêm:- Phường trả lời rằng: Nếu tổng thời gian 3 năm mà có giãn cách dưới 6 tháng thì có thể chấp nhận được, đằng này ông lại rời biên giới đi học những gần bốn năm thì không được đâu?Tôi cố vớt vát:- Nhưng khi chiến tranh biên giới phía Bắc tháng 2-1979 nổ ra tôi ở trận địa cách cửa khẩu Bình Mãng (Hà Quảng, Cao Bằng) có 300 mét và trực tiếp chiến đấu trong vòng vây quân địch suốt một tháng trời đấy!Tiếng anh cán bộ cựu chiến binh nói khá rành rọt trong máy:- Tôi cũng đã trình bày nội dung báo cáo này của ông rồi, phường họ bảo chiến đấu trực tiếp hay không chiến đấu không quan trọng (?). Theo đúng quy định là cứ phải có đủ thời gian ba năm công tác liên tục ở tuyến 1 biên giới. Nếu không liên tục thì chỉ “linh động” chấp nhận được là thời gian gián đoạn chỉ dưới 6 tháng thôi... Tôi hơi to tiếng vì bức xúc:- Thế tôi chiến đấu trực tiếp thực sự ở biên giới, còn giấy chứng nhận đây mà lại không được khen thưởng gì à?Anh cán bộ cựu chiến binh cũng có vẻ bức xúc:- Ông còn thắc mắc gì thì cứ ra phường mà hỏi nhé!Tôi và anh cùng tắt máy. Tôi biết anh cán bộ hội cựu chiến binh vốn là một người lính chống Mỹ, rất tận tình trong công tác hội, anh đã cố gắng hết sức rồi. Và các cán bộ phường chịu trách nhiệm về việc tổng hợp khen thưởng cho người có công trong kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc cũng không phải là đã gây khó dễ gì. Họ chỉ làm đúng theo như quy định trong thông tư của cấp trên gửi xuống thôi. Họ cũng đã “linh động”, ưu ái những người lính chiến rồi còn gì. Tôi cũng đã xem qua các tiêu chuẩn, quy định ấy rồi. Khen thưởng, tặng huân huy chương thì phải có tiêu chuẩn rõ ràng như thế mới khen thưởng đúng được. Đây như là tặng huân chương niên hạn thôi, cứ ở tuyến 1 biên giới đủ thời gian là sẽ được tặng huân chương, không phải là huân chương chiến công theo đúng nghĩa của nó. Hiểu như vậy nhưng tôi vẫn thấy trong lòng dâng dâng lên một nỗi buồn sâu thẳm. Tuy không được tặng huân chương nhưng tôi còn hạnh phúc gấp vạn lần những người đồng đội hiện đang nằm dưới cỏ. Họ đã chết để cho chúng tôi được sống đấy. Chính sách, quy định vẫn còn nhiều sự bất cập, người có công thực sự chưa chắc đã được khen thưởng, người huân chương đầy ngực nhưng chưa chắc đã có công? Tôi chợt nhớ dịp kỷ niệm ngày thành lập quân đội 22-12 năm ngoái. Tôi được mời lên quận dự buổi gặp mặt vì là quân hàm đại tá nâng lương lần 2. Lúc về qua đầu ngõ thấy tôi mặc lễ phục đeo quân hàm, cuống huân chương rất trịnh trọng một ông già mặc quần đùi, áo lót, tay đầy dầu mỡ xà phòng đang rửa xe máy liền bảo:- Kỷ niệm ngày thành lập quân đội, thành phố gặp cấp tướng, quận gặp cấp đại tá nâng lương lần 2, phường gặp từ cấp thiếu tá đến cấp đại tá nâng lương lần 1, còn cấp đại úy trở xuống đến hạ sĩ quan binh sĩ thì chả thấy ai gặp gỡ chúc mừng cả...Tôi lặng người nhìn ông già rửa xe. Đúng là như vậy. Thành phố gặp cấp tướng thì tôi không biết tặng quà thế nào, quận gặp các đại tá nâng lương lần 2 tặng mỗi người 500 ngàn đồng, phường gặp từ cấp thiếu tá đến cấp đại tá nâng lương lần 1 tặng quà 200 ngàn đồng. Đấy là tùy từng địa phương, nơi nào kinh tế khá thì như vậy còn kinh tế kém phát triển thì tặng ít hơn. Nghe nói có nơi đồng nhất là 50 ngàn đồng mà cũng không phải là cho tất cả các cựu chiến binh. Tôi biết, ông già chuyên rửa xe máy đầu ngõ này vốn là một thiếu úy đặc công, một người lính chiến rất dũng cảm trong kháng chiến chống Mỹ. Ông mong có một cuộc gặp gỡ đến cấp binh nhì để được đeo lại những tấm huân chương và gặp lại những người bạn chiến đấu cũ...Sắp kỷ niệm 42 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc 2-1979, tôi sẽ đăng lại tiểu thuyết CƠN LŨ ĐEN để nhớ về những người đồng đội và những ngày chiến đấu đầy hy sinh gian khổ ấy.
Hà Nội, ngày 2/9/2020

TRỌNG BẢO








Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2020

Tản văn 7 NGÀY TRÊN ĐẤT TRIỀU TIÊN

7 NGÀY TRÊN ĐẤT TRIỀU TIÊN
Tình hình bán đảo Triều Tiên trở nên căng thẳng khi dịch Covid-19 trên thế giới còn đang căng thẳng. Mong xung đột sẽ không xảy ra như việc cho nổ tung ngôi nhà hòa giải ở biên giới liên Triều. Đất nước Triều Tiên thật là bí ẩn với những điều mà thế giới chưa thể hiểu hết. Thập niên 90 tôi có dịp sang công tác tại Triều Tiên. Tôi nhớ đến cảnh vật và con người ở đây thật hiền hòa và mến khách. Thủ đô Bình Nhưỡng rất trật tự và thanh bình. Chúng tôi đã được leo lên tận đỉnh của ngọn Tháp Chủ thể, đứng ngay dưới ngọn lửa khổng lồ để ngắm toàn cảnh thủ đô Bình Nhưỡng, rồi đi tàu điện ngầm vượt qua dưới đáy sông Hàn, trèo lên núi Kim Cương, đến khu phi quân sự Bàn Môn Điếm, đi thăm các nhà máy quốc phòng, sân bay quân sự và căn cứ tàu ngầm ở sâu trong lòng núi đá, đến một quân đoàn của quân đội Triều Tiên ở phía Nam, xem diễn tập tại Học viện quốc phòng Kim Nhật Thành, thăm công trình lấn biển ở biển Tây. Đoàn chúng tôi cũng được tiếp xúc với những người dân đang xếp hàng mua nhu yếu phẩm trong cửa hàng bách hóa, vào khu biệt thự và được Chủ tịch Kim Nhật Thành tiếp, đi thăm nhiều danh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử ở miền Bắc Triều Tiên...
Sau chuyến đi với những ghi chép của mình tôi đã viết bút ký “7 ngày trên đất Triều Tiên”. Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị bảo tôi đưa cho ông đọc trước bút ký này. Đọc xong, ông gọi tôi lên và bảo: “Mày có con mắt quan sát tinh tường, có nhiều tư liệu và ghi chép, tìm hiểu sâu đấy. Nhưng bài viết này không thể đăng báo và không được cho ai đọc nhé!”. Tôi biết, những ghi chép của mình chỉ là những quan sát, cảm nhận chưa đầy đủ về đất nước Triều Tiên, nhưng quả là không thể đăng báo được. Hơn hai mươi năm qua rồi những ghi chép ấy vẫn nằm yên trong cặp tư liệu riêng của mình...
Hà Nội, 19/6/2020
TRỌNG BẢO
Ảnh (1): Ảnh chụp tại khu phi quân sự Bàn Môn Điếm.

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2020

MỘT KHÚC QUÂN HÀNH

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, ngoài trời và thiên nhiên

Chiều ngày 30-4-1975, chúng tôi nghe tin miền Nam được giải phóng khi đang đóng quân huấn luyện dã ngoại ở xóm Bình Khang, xã Bình Thuận, huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái. Chỉ huy đơn vị cho bộ đội dừng tập cùng nhân dân trong xóm reo hò, ăn mừng đại thắng. Trước đó mấy hôm Trung đoàn 246 chúng tôi đã làm lễ xuất quân vào miền Nam chiến đấu tại một khu đồi bạch đàn gần vị trí đóng quân. Đại đội chúng tôi được trao một lá cờ mặt trận giải phóng miền Nam nửa xanh nửa đỏ. Vậy là chúng tôi chưa kịp lên đường miền Nam đã giải phóng, đất nước đã thống nhất.
Sau những ngày chiến thắng từng bừng ấy, Trung đoàn 246 chúng tôi chia làm hai. Một nửa về Hà Nội tham gia xây dựng Lăng Bác, một nửa hành quân bộ vượt qua dãy núi Tam Đảo sang Vĩnh Phú làm nhiệm vụ hộ đê, chống lụt. Sau đó là những ngày hòa bình nhưng đầy sự gian lao, vất vả. Chúng tôi chặt cây làm trại tù ở Văn Chấn, Yên Bái rồi về Hà Giang đào đất, phá đá mở đường. Tôi không bao giờ quên những cơn mưa rừng, trận lũ lớn trên ngòi Lao, Văn Chấn. Chặt nứa, đan tranh lợp nhà mòn hết cả móng tay thấu đến tận thịt. Rồi những cơn đói cồn cào khi vác choòng, xà-beng leo lên vách núi giữa rừng Hà Giang đục đá mở đường. Người lính làm kinh tế, mong làm giàu cho đất nước nhưng trải qua bao nhiêu đói khát, gian lao giữa chốn đại ngàn. Trong thời gian ấy tôi có một lần được cử đi đào tạo tại Trường sĩ quan Thông tin. Mấy tháng liền đào đất, đóng cay, dẫy cỏ, trồng rau tăng gia ở Hiệp Hòa, Hà Bắc rồi tôi quay trở lại lên với Hà Giang cùng đồng đội xẻ núi mở đường.
Cuối năm 1978, đơn vị tôi lật cánh sang hướng Cao Bằng. Những người lính Trung đoàn 246 chúng tôi rời cái xẻng, cái cuốc đào đất làm kinh tế nhận lại khẩu súng chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc. Khi cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 2-1979 nổ ra tôi có mặt ở khu vực cửa khẩu Bình Mãng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng. Trải qua những trận đánh ác liệt, những ngày đêm thất lạc trong vòng vây khép chặt của quân Trung Quốc xâm lược, đói khát và kiệt sức. Có lúc tôi thấy vô cùng bi quan khi nhìn quanh mình chỉ còn vài chiến sĩ quần áo tả tơi, tay cầm những khẩu súng hết đạn, chiếc ba lô lép kẹp trên vai không còn một chút lương thực. Nhưng rồi chúng tôi cũng vượt qua được vòng vây của quân thù trở về với đơn vị. Sau chiến tranh biên giới tôi được về xuôi đi học. Hoàn thành khóa học tôi được điều lên Lạng Sơn làm cán bộ đại đội rồi về Hà Nội làm báo, viết văn. Bốn mươi năm- một khúc quân hành tôi đã đi qua. Không bao giờ tôi quên những người từng chia sẻ gian lao trong cuộc đời quân ngũ, trong cuộc chiến đấu ở Cao Bằng, trong những ngày tháng nằm hầm trực chiến ở Lạng Sơn, không quên những người đồng đội đã ngã xuống trong chiến tranh khốc liệt và những người đã mất trong hòa bình vì tuổi cao, bệnh nặng... Bạn bè, đồng đội tôi có nhiều người trở về quê trở thành nông dân, mỗi lần gặp lại nhau là cười vui hể hả. Có người lên cấp chức cao hơn tôi rất nhiều nhưng khi gặp lại cái bắt tay cũng lỏng. Có người lên đến chức thứ trưởng, bộ trưởng, song cũng có người hiện đang ngồi trong tù vì sai phạm...
Thế đấy, cuộc sống vẫn trôi đi, dòng đời như dòng sông không bao giờ ngừng chảy. Trong dòng chảy đó tôi cảm thấy lòng mình thanh thản bình yên khi đã đi trọn một khúc quân hành kể từ mùa Xuân năm 1975 ấy...
Hà Nội, 30/4/2020
TRỌNG BẢO

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2020

KÝ ỨC THÁNG HAI TRONG TÔI

KÝ ỨC THÁNG HAI TRONG TÔI

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và ngoài trời

Vậy là đã 41 năm rồi mỗi tháng hai về trong tôi lại dâng lên biết bao cảm xúc. Tôi không bao giờ quên tháng hai năm ấy (1979) cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc do quân xâm lược bành trướng Trung Quốc gây ra. Không quên những cảm xúc, hành động của mình trong ngày đầu tiên cuộc chiến khi chúng tôi đang ở sát ngay cửa khẩu Bình Mãng (Hà Quảng- Cao Bằng). Ngày chiến tranh đầu tiên ấy, có nhiều đồng đội, bạn bè của tôi đã ngã xuống. Họ đã mãi mãi giữ lại cho mình tuổi hai mươi trẻ trung, bất tử. Tôi nhớ không quên ngày 20-2-1979 giữa vòng vây trùng điệp của quân thù giữa thị trấn Sóc Giang chúng tôi đã chiến đấu kiên cường để chặn đứng quân thù, để chiến thắng và để sống sót. Trận đánh ngày hôm ấy Tiểu đoàn 3 chúng tôi chịu nhiều tổn thất, nhưng chiến thắng vẻ vang.
Tháng hai trong tôi còn là những ngày rút lui lên dãy núi đá giữa hai huyện Hà Quảng và Thông Nông với những đêm hành quân leo dốc đến kiệt sức, đói khát và bị quân thù truy kích ráo riết. Nhớ cái cảm giác bơ vơ, bi quan khi vượt vòng vây bị cắt đuôi, thất lạc khỏi đội hình đơn vị nhìn lại xung quanh mình chỉ còn vài chiến sĩ quần áo tả tơi, súng hết đạn, ba lô không còn lương thực. Nhớ những ngày chiến đấu, chia sẻ gian lao cùng anh em dân quân ở thung lũng Táp Ná, Thông Nông phải uống bát nước pha thuốc phiện để chữa bệnh trên đường tìm về đơn vị...
Thời gian vẫn dần trôi nhưng mỗi độ tháng hai ký ức trong tôi lại sống dậy những kỷ niệm chiến tranh không bao giờ quên ấy...
Hà Nội, ngày 10/2/2020
TRỌNG BẢO

Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2020

Tạp văn VUI BUỒN NGHỀ VIẾT

VUI BUỒN NGHỀ VIẾT
Tạp văn của Trọng Bảo

Không có mô tả ảnh.

Sáng nay, tôi bất ngờ nhận được điện thoại của Trung tâm Quyền tác giả Văn học Việt Nam thông báo là truyện ngắn "Ve con đi học" của tôi được tuyển chọn và in trong sách giáo khoa lớp 1 phổ thông. Ngay sau đó là tin nhắn của ngân hàng báo tài khoản của tôi được cộng thêm 1.806.400 VND tiền nhuận bút. Quả là một niềm vui những ngày đầu năm 2020 và tết Canh Tý sắp đến. Có thêm chút tiền tiêu tết, nhưng vui hơn là tác phẩm nho nhỏ của mình được đưa vào giáo trình học tập cho các em nhỏ.
Cái nghề cầm bút có lúc vui như thế nhưng cũng nhiều sự trăn trở và nỗi buồn. Bởi lẽ, hiện nay ở nước ta một chút "bản quyền" của người viết có được tôn trọng đâu. Mấy chục truyện ngắn viết cho thiếu nhi của tôi đều bị một số báo nói điện tử, thư viện truyện điện tử, các trang mạng sử dụng, đăng tải. Rồi họ dựng thành kịch truyền thanh, thành phim hoạt hình. Vậy mà tôi có được một xu nhuận bút nào đâu, bản quyền cũng chẳng được tôn trọng. Chả ai thèm hỏi ý kiến của tôi trước khi sử dụng. Có một vài lần tôi comment vào trang của họ rằng "đây là tác phẩm của tôi, phải thanh toán nhuận bút cho tôi". Họ hoặc không phản hồi, hoặc comment lại giải thích "đây là truyện sưu tầm nên không có nhuận bút?", có nhiều trang điện tử, sách nói, thư viện điện tử họ trả lời có vẻ "văn minh" hơn là: "Xin tác giả thông cảm, đây là trang điện tử cung cấp thông tin miễn phí cho mọi người (hoạt động phi lợi nhuận, không có thu) nên không có nhuận bút... Rồi họ liền "tuyên dương" rất trang trọng: “Tác phẩm của bạn đã góp phần phát triển văn hóa đọc cho nhân dân???". Trời ạ! Nếu vinh dự như thế thì ai lại còn đòi nhuận bút nữa? Họ sử dụng miễn phí tác phẩm của các nhà văn nhưng trên trang điện tử của họ có các quảng cáo. Họ ăn là ăn ở tiền quảng cáo ấy đấy. Bi hài hơn có một lần thấy giới thiệu truyện ngắn của mình trong một chương trình nghe đọc qua điện thoại, tôi liền bấm máy đến tổng đài. Họ hướng dẫn bấm tiếp hai số nữa để nghe truyện. Nghe xong, tôi kiểm tra lại tài khoản điện thoại thấy bị trừ mất 14.000 đồng. Tôi bực quá gọi lại, họ lại hướng dẫn tôi bấm hai số tiếp để nghe tác phẩm. Hóa ra cái tổng đài ấy là họ đặt tự động. Mình mà cãi với nó chẳng khác nào cãi với robot. Trên mạng Internet cũng vậy. Thấy tên truyện ngắn của mình muốn mở ra xem, muốn copy lập tức xuất hiện bảng chữ "Bạn phải nộp tiền vào tài khoản để đọc truyện"...
Chuyện vui buồn nghề viết còn nhiều. Có lần thấy một tờ báo lớn đăng một truyện vui của mình nhưng lại với một cái tên tác giả khác, tôi liền phóng xe đến tòa soạn hỏi. Anh biên tập viên nói: "Đây là một sáng tác mới của một cộng tác viên "gạo cội" của báo tôi đấy. Anh nói là tác phẩm của anh thì chứng cứ đâu?". Tôi bảo: "Cho tôi mượn tập báo lưu của tòa soạn hai năm trước một lát". Anh biên tập viên tìm cho tôi tập báo lưu từ hai năm trước. Tôi lật giở một lúc rồi chỉ cho anh thấy cái truyện vui này ghi tên tôi đã đăng ở chính tờ báo này hai năm trước, không sai một dấu phảy. Anh biên tập viên xem xong cũng bức xúc và dặn tôi: "Hôm nào ông tác giả này đến lấy nhuận bút mời anh ra đối chất nhé?". Thì ra cái ông cộng tác viên kia đã lấy truyện của tôi trên mạng ghi tên mình vào rồi gửi cho nhiều báo và cả tờ báo mà truyện của tôi đã đăng từ mấy năm trước rồi. Tôi bảo anh biên tập viên thôi “đối chất” làm gì vì đã có nhiều truyện vui, tiểu phẩm của tôi họ đăng lại ghi là “sưu tầm” rồi, lần này họ ghi tên vào nên tôi mới có ý kiến. Sau chuyện này tờ báo nọ cũng không thấy đăng tải các bài của ông cộng tác viên “gạo cội” kia nữa...
Hôm nay, nhân lần đầu tiên được nhận nhuận bút từ Trung tâm Quyền tác giả Văn học Việt Nam tôi xin có vài dòng như vậy tâm sự cùng các bạn. Chúc các bạn một năm mới luôn mạnh khỏe, an khang, hạnh phúc và mời đọc “Truyện ngắn VE CON ĐI HỌC” được đưa vào sách giáo khoa của trẻ con...
Hà Nội, ngày 10-1-2020


VE CON ĐI HỌC
Truyện ngắn của Trọng Bảo
Có một gia đình nhà ve sầu ở trong khu vườn. Một chú ve sầu con đang tuổi ham chơi. Suốt ngày chú là cà, lêu lổng lang thang khắp vườn. Chú làm quen được với một thằng dế mèn con. Cả hai quậy phá khắp nơi, khiến bố mẹ chúng thường xuyên phải nghe lời phàn nàn của hàng xóm, láng giềng.
Một hôm, bố ve sầu bảo:
- Ngày mai con phải đi học thôi!
- Học để làm gì ạ?
Ve con hỏi lại. Bố giải thích:
- Học để biết chữ con ạ!
Mẹ ve sầu thì âu yếm:
- Mẹ sẽ mua cho con cuốn vở, cây bút và cả một cái cặp sách thật đẹp nhé!
Thế là ve sầu con chuẩn bị đi học. Nhưng nó lại nghĩ đi học rồi thì không biết có còn được đi chơi nữa không, mà không được đi chơi thì học để làm gì nhỉ?
Buổi sáng hôm sau, mẹ phải gọi mãi ve con mới tỉnh giấc. Nó quáng quàng ăn sáng rồi vội vàng đeo cặp sách đến lớp. Đang đi, nó chợt nghe tiếng gọi giật:
- Này! Đi đâu mà vội vã thế?
Nó nhìn quanh. Thì ra đó là thằng bạn thân dế mèn đang khua thanh gươm gỗ chém lia lịa trong đám cỏ non bên đường.
- Tớ đi học đây!
- Học để làm gì?
- Thì… học là để biết chữ! Cậu cũng phải đi học đi…
Dế con băn khoăn:
- Nhưng tớ không có sách vở. Cậu đợi tớ chạy về nhà lấy nhé!
Ve sầu con đứng chờ dế con. Mãi chả thấy dế con ra, nó đành một mình đi đến lớp trước. Trong lớp, các bạn kiến, chuồn chuồn, ong mật đang chăm chú học bài. Thầy giáo đã dạy đến chữ “e”. Ve sầu con vội vàng ghi luôn chữ “e” vào vở rồi hí hửng chạy luôn ra khỏi lớp. Vừa chạy nó vừa reo to:
- A… a… mình… đã… biết… chữ… biết… chữ… rồi…
Lúc đó dế con mới cầm cuốn vở nhàu nát chạy đến. Nhìn thấy ve con, dế con vừa thở vừa hỏi:
- Cậu đã học được chữ chưa?
- Được… được rồi! Cậu vào lớp ngay đi, thầy vẫn còn đang dạy đấy!
Dế con len lén bước vào lớp học. Lúc này thầy giáo đã dạy đến chữ “i”. Dế con cũng vội ghi ngay lấy chữ “i” vào vở và lao luôn ra khỏi lớp gào to:
- Biết…biết… chữ… đã biết chữ rồi…
Dế con gặp ve con ở bãi cỏ. Cả hai rất phấn khởi vì đã biết chữ. Chúng đâu có hiểu là ngoài chữ e và chữ i ra còn có nhiều chữ khác nữa mà chúng chưa biết. Chúng liền xé luôn sách vở, ném bút đi, coi sự học hành như thế là đã đủ rồi, xong rồi. Từ đó chúng thường xuyên rủ nhau trốn học, đi chơi. Gặp ai chúng cũng tự hào khoe khoang là mình biết chữ, là người có học. Càng ngày chúng càng trở nên kênh kiệu và tỏ vẻ khinh người ra mặt.
Cũng bởi ngộ nhận và lười biếng vậy, cho nên cả đời ve con và dế con mỗi đứa chỉ biết đúng có một chữ duy nhất. Vì thế ngày ngày trên cành cây cao chỉ nghe thấy tiếng ve sầu ra rả đọc mãi một chữ “e…e…e… e…” và dưới mặt đất thì dế chỉ biết ri rỉ lẩm nhẩm mỗi một chữ “i…i…i… i…” mà thôi...
Ngày 1/6/2009

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2019

Tạp văn ÁM ẢNH

ÁM ẢNH
Tạp văn của Trọng Bảo

Trong hình ảnh có thể có: 3 người, mọi người đang đứng, núi, trẻ em, bầu trời, bãi biển, ngoài trời, thiên nhiên và nước

Câu chuyện em bé lớp 1 ngây thơ những ngày đầu tiên đến trường bị bỏ quên trên xe đưa đón phải chịu nỗi sợ hãi, đói khát và ngạt thở đến chết cứ ám ảnh mãi trong tâm trí của tôi. Tôi không tài nào viết tiếp được câu chuyện về lão Cốc và ông Tô ở cái làng quê miền núi xa xôi ấy nữa.
Cái chết của em bé bị bỏ quên trên xe đưa đón của một ngôi trường mang tên quốc tế giữa thủ đô Hà Nội là một "sự ám ảnh về ngành giáo dục" nước ta. Sự ám ảnh ấy cũng hằn sâu trong tâm trí bao nhà sư phạm chân chính, bao phụ huynh học sinh và nhân dân. Những năm gần đây, ngành giáo dục xảy ra bao nhiêu chuyện đau lòng. Những cảnh "tra tấn" trẻ em ở lớp mẫu giáo, cảnh bạo lực học đường, thầy đánh trò, trò đánh thầy, trò đánh nhau không còn hiếm hoi gì nữa. Rồi chuyện tày trời có một không hai trong lịch sử ngành giáo dục nước ta là việc những đường dây điều hành gian lận thi cử, mua bán điểm đến hàng tỷ đồng ở các tỉnh Hà Giang, Hòa Bình, Sơn La; chuyện đóng góp, dạy thêm kiếm tiền khiến cho bức tranh của ngành giáo dục nước ta ngày càng thêm thê thảm. Sự xuống cấp của giáo dục khiến xã hội rất lo lắng. Bởi lẽ, giáo dục mà suy vong thì xã hội sẽ suy tàn. Ông Nelson Mandela, lãnh tụ của phong trào cách mạng Nam Phi đã rất đúng khi cho rằng muốn tiêu diệt một dân tộc, muốn phá hoại một đất nước thì hiệu quả nhất là phá hoại nền giáo dục của đất nước đó.
Người ta đã đi tìm và lý giải cho nguyên nhân sa sút của ngành giáo dục nước ta. Có ý kiến cho rằng kinh tế thị trường, đạo đức xã hội xuống cấp kéo theo giáo dục trượt theo. Có người cho rằng kinh tế khó khăn, đời sống giáo viên thiếu thốn khiến việc dạy học cũng kém dần đi. Theo tôi chưa hẳn là thế. Hãy nhìn vào lịch sử. Những năm chiến tranh khốc liệt, thiếu thốn đủ bề ngành giáo dục nước ta vẫn có những thành tựu đáng kể. Hiện nay, kinh tế nước ta đã phát triển, đời sống nhân dân có sự cải thiện, đầu tư cho ngành giáo dục tăng nhiều tại sao chất lượng lại càng ngày càng tụt thấp mãi xuống. Nguyên nhân chính là do đường lối giáo dục có vấn đề, quan niệm về dạy học có sự sai lệch. Ngày xưa, dạy học là để xây dựng một thế hệ con người có ích cho đất nước. Những con người, những học sinh đó sẽ góp phần xây dựng đất nước phát triển. Ngày nay dạy học hình như chỉ là để nhồi nhét cho đủ lượng kiến thức theo quy định của chương trình vào học sinh rồi phó mặc họ thành cái gì thì thành và nếu có thành tài thì phục vụ cho ai, ở đâu cũng được. Chính quan niệm đó đã làm hỏng không chỉ một hai thế hệ. Bộ máy giáo dục ngày càng trở nên khô cứng, thiếu tính nhân văn. Tôi chỉ xin dẫn một ví dụ nhỏ: Bao nhiêu năm rồi người đi học phải nộp học phí. Học sinh nghèo, tai nạn, khó khăn được xét giảm hoặc miễn học phí. Hai từ "học phí" tạo trong tâm trí người ta một sự yên tâm bởi có lý, có tình. Bây giờ các lãnh đạo đầu ngành giáo dục lại muốn đổi "học phí" thành "học giá" (giống như các "trạm thu giá" BOT đường bộ của ngành giao thông), tức là phải trả giá, phải mua bán kiến thức của nhà trường khi đi học. Chỉ mới nghe đã thấy quan niệm của các quan giáo dục ngày nay có vấn đề. Có lẽ cơ chế thị trường đã biến "nhà trường thành thương trường" chăng? Thế thì còn đâu tính nhân văn, tình nghĩa thầy-trò nữa? Chính cái quan điểm theo kiểu "con buôn" đã đẩy ngành giáo dục nước ta ngày càng thêm sa sút. (Xin lỗi những người làm nghề buôn bán. Tôi dùng hai từ "con buôn" ở đây là muốn nói về những người buôn gian, bán lận của thập niên sáu mươi, thế kỷ trước. Thời bao cấp ấy hàng hóa vô cùng khan hiếm, chủ yếu tuồn từ mậu dịch quốc doanh ra ngoài thị trường tự do bán kiếm lời với giá cắt cổ. Trong con mắt nhân dân ngày ấy "con buôn" có nghĩa không đẹp, không trong sáng. Bây giờ buôn bán hàng hóa nhiều, người bán tận tình, hàng síp tận nhà, hỏng hóc đổi ngay, bảo hành chu đáo). Tư tưởng giáo dục theo kiểu "con buôn" ấy đã có hậu quả tức thời, là căn nguyên của nhiều tiêu cực học đường. Hàng trăm trường đại học ra đời, các trường quốc tế khắp nơi nhưng chủ yếu là dạy cho học sinh trong nước. Cái quan niệm giáo dục ấy không chỉ có trong trường học mà nó lan ra cả xã hội. Một xã hội tràn ngập bằng cấp nhưng lại thiếu kiến thức thực hành hữu ích. Vì thế mới xuất hiện những nhà khoa học, giáo sư, tiến sĩ với những đề xuất sáng kiến phản khoa học như vừa qua mà tôi không muốn nhắc lại. Chính do sự xa rời mục tiêu đào tạo ra những con người phục vụ đất nước mình nên nhiều nhân tài đi du học tốn bao nhiêu tiền của nhà nước ta lại đi phục vụ nước khác, xây dựng nước khác. Có những chương trình tìm kiếm tài năng, giải thưởng hàng chục, hàng trăm ngàn đô-la, cho họ đi du học rồi họ mất hút luôn. Thôi như thế có tiếc nhưng cũng đành chịu vậy. Song, đáng buồn là nhiều người được cho đi đào tạo còn quay lại chống phá đất nước nữa. Điều ấy cũng là một nỗi ám ảnh của ngành giáo dục. Những nỗi ám ảnh ấy không chỉ riêng của ngành giáo dục mà nó có trong xã hội, có trong tôi, trong anh và trong tất cả mọi người chúng ta...
Hà Nội, ngày 7/8/2019

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2019

Tạp văn TRUNG QUỐC VÀ THẾ GIỚI

TRUNG QUỐC VÀ THẾ GIỚI
Tạp văn của Trọng Bảo 

Trong hình ảnh có thể có: đại dương, bầu trời, ngoài trời và nước

Trung Quốc bắt đầu nhìn thế giới với con mắt thống trị. Có lẽ họ tự cho mình đã đến lúc đủ sức "trỗi dậy..." để cưỡi lên đầu lên cổ nhân loại, đã đến lúc thể hiện vai trò là "con trời" của họ. Điều này không phải là sự võ đoán hay quy chụp cho Trung Quốc mà đó là những biểu hiện của chính họ đã minh chứng.
Hơn bốn chục năm trước sau khi Mao chết, Đặng Tiểu Bình vừa khôi phục quyền lực đã tính toán ngay đến chuyện này, có đường đi nước bước rõ ràng, có sự bàn giao thế hệ cụ thể. Cuộc chiến hồi tháng 2-1979 ở biên giới phía Bắc, Trung Quốc kéo quân sang đánh Việt Nam cũng chính vì lý do Việt Nam dám ngáng trở mưu đồ và những "thí nghiệm" việc thực thi cai trị thế giới của họ. "Thí nghiệm" thống trị toàn thế giới ấy họ đã thực hiện ở Campuchia. Mô hình thống trị thế giới của Trung Quốc chính là những gì họ đã đem ra áp dụng tại đất nước Chùa tháp thập niên bảy mươi của thế kỷ trước. Một mô hình là từng bước thủ tiêu dần dần lượng nhân khẩu các "dân tộc phi Hán" để tiến đến "Hán hóa" đất đai, lãnh thổ của từng nước một. Campuchia chỉ trong một vài năm đã bị tiêu diệt hơn hai triệu người. Campuchia sẽ bị giết hại đến người cuối cùng nếu Việt Nam không kịp thời can thiệp. Điều đó toàn thế giới đều biết, người Khơ-me cũng biết. Tiến đánh Việt Nam 2-1979, Trung Quốc muốn cảnh báo chúng ta đừng có ngăn cản con đường bá chủ thế giới của họ, đừng có phá hoại những thí nghiệm toàn cầu của họ. Hồi ấy họ tuyên bố "dạy cho Việt Nam một bài học" chính là vì lý do đó. Trung Quốc không bao giờ từ bỏ âm mưu bành trướng, dã tâm bá chủ thế giới. Đừng có một quốc gia nào hy vọng ở sự tử tế của Trung Quốc khi họ luôn mồm "hảo... hảo..." và mang hàng hóa giá rẻ đến bán mà như cho không ấy. Đến nay, chỉ sau vài chục năm, Trung Quốc đã thành công trong việc biến thế giới thành những cái chợ bán các loại hàng hóa giá rẻ, hàng giả, hàng độc hại mang nhãn hiệu "made in China". Hàng hóa đủ chủng loại của Trung Quốc ngập tràn khắp hang cùng ngõ hẻm của thế giới. Đó là một chiến lược lâu dài và có chủ ý nhất quán của họ. Họ đã làm cho thế giới ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc. Nhiều quốc gia châu Phi, châu Mỹ xa xôi đã chịu sự ảnh hưởng của Trung Quốc. Sự việc trợ, đầu tư kinh tế đã biến thế giới ngày càng "hàm ơn" và dính chặt vào nước Hán.
Nếu như tháng 2-1979, Trung Quốc không thể thắng được Việt Nam khi đưa hàng chục vạn quân bất ngờ ồ ạt vượt qua biên giới thì sau vài chục năm họ đã thắng được người Việt bằng các "ngón đòn kinh tế". Hóa ra năm xưa lăm lăm súng đạn lại không tiến được đến Hà Nội, nhưng nay tay cầm vỏ chăn hoa con công, tay xách chai bia Vạn Lực mà họ lại có thể vào tận thành phố Hồ Chí Minh, xuôi đồng bằng Sông Cửu Long, lên tận cao nguyên để tham gia đấu thầu các công trình xây dựng kinh tế trọng điểm, thuê đất trồng trọt trong các khu vực an ninh quốc phòng trọng yếu của nước ta. Theo thống kê của một tờ báo có đến hơn 75% các công trình xây dựng ở Việt Nam là do phía Trung Quốc thắng thầu. Họ bỏ thầu giá thật rẻ để thắng thầu rồi quá trình thi công nêu những phát sinh. Đến khi quyết toán có khi giá cả, chi phí công trình lại gấp mấy lần nhà thầu bỏ thầu cao khi mở thầu. Việc này người Việt Nam chúng ta cũng đã biết. Nhưng đáng buồn vẫn cứ bị mắc vào cái mạng nhện lợi nhuận mà Trung Quốc giăng ra. Đó cũng là lẽ dĩ nhiên. Đạn bom không thể phá vỡ các tuyến phòng thủ, nhưng đồng tiền lại có thể công phá được lòng người. Điều này cũng không chỉ người Việt chúng ta bị như thế mà người nước ngoài cũng bị như thế. Chúng ta đã từng nghe chuyện Trung Quốc chi vài triệu đô-la mà làm hỏng cả một hội nghị cấp cao khối ASEAN khi nước chủ nhà nghe theo họ không ra tuyên bố chung. Rồi vừa qua, khi Trung Quốc kéo giàn khoan Hải Dương 981 vào sâu trong thềm lục địa Việt Nam khiến cả thế giới ồn ào phản ứng. Thế nhưng nhiều người bạn từng "kề vai, sát cánh" với chúng ta trong những năm đấu tranh chống Mỹ nay lại im hơi lặng tiếng. Cũng dễ hiểu thôi! Họ đang khó nói. Tục ngữ Việt Nam có câu "há miệng mắc quai", "ngậm miệng ăn tiền". Các nước này họ đang nhận sự viện trợ dồi dào của Trung Quốc, không thể chỉ trích Trung Quốc mạnh mẽ được, có chăng là một vài biểu hiện, cử chỉ xã giao để Việt Nam yên tâm, kiểu như là "bày tỏ mối quan ngại sâu sắc", "sự lo lắng, quan tâm theo dõi"... Chúng ta cũng nên thông cảm cho các nước này. Và chúng ta cũng cần hiểu là trong tình thế hiện nay muốn giữ được độc lập tự do, toàn vẹn lãnh thổ là phải dựa vào chính sức mình, không trông chờ ở ai. Chúng ta muốn thắng được kẻ thù thì cần dân giàu, nước mạnh, phải có tiềm lực kinh tế, quốc phòng mạnh, chính quyền vững vàng, không tham nhũng và điều cốt yếu là có được lòng dân trên dưới một lòng.
Trung Quốc không bao giờ chịu xem xét kỹ lại lịch sử, hoặc là họ vẫn cho rằng lịch sử đã thiên vị các nước khác. Họ luôn luôn có ý nghĩ "thua trong lịch sử nhưng có thể sẽ thắng trong tương lai". Những bài học từ sông Bạch Đằng, từ ải Chi Lăng, gò Đống Đa của Việt Nam hình như không có ý nghĩa lắm đối với họ. Trong tư tưởng của người Trung Quốc chẳng bao giờ phai nhạt ý chí bành trướng, quyết tâm bá chủ hoàn cầu, "Hán hóa" toàn bộ thế giới. Đó là điều mà thế giới nên hiểu, nên cảnh giác. Nên hiểu rằng có thể hôm nay người Trung Quốc cho ta củ cà rốt nhưng chưa chắc ngày mai họ sẽ vẫn đưa cho ta củ cà rốt. Nếu thấy họ vẫn đưa cho ta củ cà rốt thì hãy thận trọng, củ cà rốt ấy nhất định là có độc dược...
(Bài viết là quan điểm riêng của tác giả. Bài viết khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong thềm lục địa Việt Nam)
Hà Nội, ngày 3/7/2014

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2019

NHỮNG NGƯỜI KHÔNG ĐẾN ĐƯỢC DINH ĐỘC LẬP 
Tản văn của Trọng Bảo

Trong hình ảnh có thể có: ngoài trời
LTG: Mấy ngày nghỉ lễ tôi về quê trồng phong lan không đem theo laptop. Bài viết cũ này lưu trong laptop và máy tính. Hôm nay, đã qua ngày đại thắng 30-4 nhưng vẫn xin được đăng lại trên blogs...
*
Anh trai tôi nhập ngũ năm 1966, là một trong những năm ác liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ. Năm ấy, trong làng, trong xã tôi cũng có nhiều thanh niên lên đường ra trận. Sau vài tháng huấn luyện ở tỉnh Bắc Thái, anh tôi và nhiều người được về phép 10 ngày rồi lên đường vào miền Nam chiến đấu. Anh tôi và phần lớn những người cùng quê ra đi năm ấy đã không trở về được nữa. Họ đã ngã xuống ở mặt trận vào năm 1968, 1969, nhất là năm 1972. Họ là những người không biết có ngày 30-4-1975, đại thắng mùa Xuân, tưng bừng đất nước. Họ là những người không bao giờ đến được Dinh Độc Lập cho dù sau này chỉ là một khách đến để tham quan…
Cũng như họ còn có hàng ngàn, hàng vạn chiến sĩ bỏ mình trên dãy Trường Sơn khi khai mở con đường chiến lược vào miền Nam cứu nước, ngã xuống trên đường phố Sài Gòn trong trận đách Mậu Thân-1968, thịt nát xương tan ở thành cổ Quảng Trị-1972, hay đói khát, chết mòn trong lao tù Côn Đảo, Phú Quốc… Tất cả họ cũng không hề biết có ngày 30-4 chiến thắng. Rồi nhân dân-máu của nhân dân rơi xuống ở khắp miền Nam, ở Vĩnh Linh, Quảng Bình, Khâm Thiên, Hà Nội. Mười cô gái ngã ba Đồng Lộc, những thanh niên xung phong ở Truông Bồn họ cũng không biết có ngày 30-4. Họ đã hy sinh trước giờ toàn thắng, không được hưởng niềm vui tột độ khi đoàn quân chiến thắng tiến vào Sài Gòn, không chứng kiến cái không khí tưng bừng ngày ăn mừng thắng giặc, không được hát say sưa câu hát: “như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Máu xương của họ đã lát đường cho những người cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập, ở Bộ Tổng tham mưu quân ngụy Sài Gòn. Họ không kể công, không đòi chế độ, không chờ sự tuyên dương ghi nhận. Sự hy sinh xương máu của họ chính là sự ghi nhận công lao của mình với Tổ quốc. Vậy mà còn có những người đi trên con đường xương máu của đồng đội, của nhân dân để đến ngày chiến thắng lại quên rằng họ có được vinh quang là nhờ hàng ngàn, hàng vạn người đã ngã xuống trước đó. Năm nào đến ngày 30-4 cũng là sự tranh luận, tranh cãi công lao “ai bắt tổng thống Dương Văn Minh”, “ai thảo lời tuyên bố đầu hàng cho tổng thống Minh”… Không ai chịu ai, sự kiện chưa xa, nhân chứng vẫn còn mà lịch sử thì trở thành mù mờ, bất nhất, đúng sai không rõ ràng, thật đáng buồn.
Là một người nhập ngũ chỉ trước ngày 30-4-1975 có vài tháng, tôi không có vinh dự tham gia chiến dịch cuối cùng giải phóng Sài Gòn nhưng được sống trong không khí hào hùng những ngày ấy. Tôi cứ nghĩ ngày 30-4 phải là ngày vinh quang của nhân dân, là máu xương của cả dân tộc, không của bất cứ riêng ai. Vậy mà vẫn có ai đó chỉ nghĩ là ngày của riêng họ. Nhớ một năm trước đây không lâu khi sắp đến ngày 30-4, khi còn đang tại ngũ, đang tại chức tôi nhận được lệnh tham gia trong đoàn cán bộ từ Hà Nội bay gấp ngay vào thành phố Hồ Chí Minh để dự cuộc hội thảo về “ai là người vào Dinh Độc Lập đầu tiên", "ai bắt nội các chính phủ Sài Gòn trưa ngày 30-4-1975”, "ai viết lời tuyên bố đầu hàng cho tổng thống Dương Văn Minh". Ngồi nghe tranh luận, nghe giải trình, đối chất chan chát, căng thẳng, không ai chịu ai. Những người là đồng đội cùng chung chiến hào trong chiến đấu mà bây giờ trong hội thảo cứ như đang ở hai chiến tuyến. Hôm ấy, tôi chợt thấy chạnh lòng nghĩ đến anh trai mình và bao nhiêu người đã ngã xuống trước giờ toàn thắng. Họ là những người không biết có ngày 30-4 năm 1975 lịch sử, họ không bao giờ đến được Dinh Độc Lập. Giả sử nếu đúng là có linh hồn người đã chết đang còn tồn tại quanh ta thì chắc là họ- những người đã ngã xuống trước ngày 30-4 năm 1975 ấy sẽ buồn biết bao nhiêu?
Để kết thúc tạp văn nhỏ này, tôi chỉ mong muốn rằng ngày 30-4 phải là một ngày vinh quang của nhân dân, là máu xương của cả dân tộc, là của mọi người Việt Nam mà không của bất cứ riêng ai...
Ngày 27/4/2015