Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2020

Truyện ngắn TẤM VẢI LIỆM

TẤM VẢI LIỆM
Truyện ngắn của Trọng Bảo

Trong hình ảnh có thể có: 3 người

1- Tôi và Nam cùng nhập ngũ, lại là người cùng làng. Nam kém tôi một tuổi. Nếu xét về họ hàng xa bắn "ba tầm súng đại bác" thì Nam còn phải gọi tôi là anh họ. Nhưng vì cùng lớn lên chung ngõ, học với nhau từ lớp một cho đến hết cấp ba nên chúng tôi cứ mày tao quen rồi. Khi cùng học phổ thông, Nam học môn toán rất giỏi. Nhiều lần nếu không có nó cho nhìn bài thì chỉ còn nước nộp giấy trắng.
Tôi chỉ bực tính tình Nam nhút nhát, hay sợ ma. Ngày xưa ở làng quê không có điện. Đêm đến quanh năm ánh đèn dầu lù mù. Buổi tối ngồi học chúng tôi cũng chỉ có ánh sáng của những cái đèn dầu nhỏ như hạt đỗ. Tối nào học nhóm nếu tôi đi qua cổng không gọi thì Nam không dám đi vì con đường sang xóm bên với các bạn cùng nhóm phải đi qua một bãi tha ma chi chít mả cũ, mả mới có những con đom đóm to bằng hạt ngô bay chập chờn xanh lét.
Vào bộ đội tôi và thằng Nam vẫn ở cùng tiểu đội. Sau thời gian huấn luyện chiến sĩ mới, nhờ năng nổ, xông xáo, xung phong nhận các nhiệm vụ nên tôi được bổ nhiệm giữ chức vụ tiểu đội phó. Còn thằng Nam đã là quân nhân rồi mà mãi cũng không bớt được cái tính nhút nhát. Những ca gác đêm một mình một vị trí, hay đi chuyển công văn khẩn qua cánh rừng hoang vắng là nó rất ngại. Nhiều lần tôi phải đổi phiên gác cho nó, tránh bớt những thời điểm đêm khuya thanh vắng hay các vị trí đứng gác gần bãi tha ma hoặc chỗ ngôi miếu cổ cạnh doanh trại.
Thằng Nam vẫn có ước mơ làm sinh viên đại học. Đi bộ đội nó còn đem theo đến nửa ba lô sách giáo khoa lớp 10 để ôn tập. Nó bảo tôi: "Khi nào ra quân nhất định sẽ thi vào đại học. Em sẽ học ngành nông nghiệp để tìm ra một giống lúa mới có năng xuất thật cao phù hợp với vùng đất phèn chua, lầy thụt quê mình". Tôi bảo: "Mày chỉ viển vông, chiến tranh đến nơi rồi còn học hành gì nữa! Vứt mẹ mấy cuốn sách đi mà đeo thêm vài cân gạo...". Thằng Nam im lặng không tranh cãi với tôi nữa.
Tình hình biên giới căng thẳng, chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Mọi sự chuẩn bị cho cuộc chiến đều rất khẩn trương. Để phòng tình huống xấu xảy ra trong chiến đấu, mỗi người chúng tôi đều có một mã số riêng thêu trên nắp túi áo bên trái và in vào mảnh giấy nhỏ bằng ba đầu ngón tay ép plastic để trong túi quần, túi áo. Một hôm nhận quân trang chiến đấu gồm các loại tăng, võng, bi đông về, tiểu đội trưởng Quân tập trung cả tiểu đội lại cấp phát cho mọi người. Còn một cuộn vải cuối cùng anh bảo:
- Đây là hai tấm vải dùng để khâm liệm liệt sĩ! Tiểu đội giao cho đồng chí Nam và đồng chí Tuấn mỗi người giữ một cái.
Nghe vậy cả tiểu đội đều lặng đi. Thằng Nam mặt cắt không còn giọt máu. Tôi cũng hơi thảng thốt nhưng định thần được ngay. Chiến tranh là như vậy. Khi nó chưa nổ ra thì công tác chuẩn bị phải thật chu đáo, tỷ mỷ đến mức tối đa để người chiến sĩ khi vào trận có thể chiến đấu tốt nhất.
Nghe tiểu đội trưởng giao nhiệm vụ, thằng Nam chối đây đẩy:
- Em không... không giữ cái đấy đâu...
Nhìn mặt nó tái dại, đôi mắt hoảng hốt và như sắp phát khóc tôi thấy thương nó quá. Anh em khác trong tiểu đội cũng ngại phải giữ tấm vải liệm nên tìm cách lảng đi. Tôi bảo:
- Thôi được! Không ai muốn giữ tấm vải này thì để tôi giữ cả cho?
Tôi nhận vì tôi là tiểu đội phó phải có trách nhiệm về công tác hậu cần của cả tiểu đội. Tôi trải hai tấm vải liệm ra để gấp lại cho gọn. Đó là những tấm vải mỏng gần giống cái vỏ chăn đơn nhưng người ta chỉ may kín hai cạnh, để hở hai cạnh. Tấm vải có đính sẵn ba giải dây vải ở giữa và hai đầu. Khi dùng khâm liệm liệt sĩ chỉ cần gấp lại và dùng ba giải dây đó để bó buộc.
Tôi nhét hai tấm vải liệm vào ba lô đeo về nhà ở.
Tôi mang cái ba lô về nhà ở, thằng Nam vội ôm chăn chiếu chuyển ra một góc nhà sàn nằm. Lâu nay nó vẫn nằm cạnh tôi. Cũng từ ấy không bao giờ nó lục ba lô của tôi tìm lương khô hay lấy kem đánh răng nữa.
2- Chiến tranh nổ ra. Những trận đánh vô cùng ác liệt. Quân địch bị tiêu diệt nhiều sinh lực nhưng đơn vị chúng tôi cũng bị nhiều tổn thất. Sau một tuần bị bao vây trong thị trấn Sóc Giàng, tiểu đoàn chúng tôi gần cạn hết đạn dược, lương thực, quân số bị tiêu hao. Đến ngày thứ tám, chúng tôi được lệnh chuẩn bị rút lui lên núi. Tiểu đội trưởng Quân căn dặn từng người:
- Nhớ là cố gắng đem hết súng đạn, lương thực. Cái gì không cần thiết thì bỏ lại vì khi vượt vòng vây chúng ta sẽ phải vượt qua suối và leo lên một vách núi dựng đứng rất khó đi và nguy hiểm.
Chúng tôi khẩn trương chuẩn bị. Quần áo ngoài bộ đang mặc trên người thì thêm một bộ để thay đổi, chỉ đem theo tăng võng, chăn màn vứt bớt, hai cái khăn mặt, hai đôi tất vừa mới phát cũng vứt một, giữ một cho đỡ nặng. Giấy tờ, nhật ký, sổ sách ghi chép chúng tôi đốt hết để đề phòng khi phá vây bị bắt lọt vào tay bọn địch. Trong túi quần, túi áo, trong ba lô chỉ còn có những mảnh giấy ghi mã số riêng của từng người.
Trong đêm tối, sau những đợt pháo địch bắn cầm canh, từng tốp nhỏ, chúng tôi tụt khỏi hang đá trên sườn ngọn núi giữa thị trấn băng qua cánh đồng lên dãy núi trùng điệp nơi mà bọn địch chưa chiếm được. Tôi được giao giao nhiệm vụ chỉ huy bộ phận đi cuối cùng khoá đuôi đơn vị, sẵn sàng lập thành một chốt đánh chặn địch truy kích cho đơn vị rút lui an toàn. Tôi bảo anh em trong bộ phận:
- Nhớ bám sát nhau! Lúc qua bản Nà Liền phải hết sức nhẹ nhàng tránh gây tiếng động chó sủa, bọn địch phát hiện.
Tôi kéo tay thằng Nam khẽ dặn:
- Đi sát ngay sau tao nhé!
- Vâng! A... n...h... cứ... yên... tâm.
- Sao mày có vẻ run lập cập thế?
- Em thấy hơi sợ...
- Không việc gì đâu, đừng lo.
Tôi động viên thằng Nam. Suốt tuần vừa rồi nó là chiến sỹ thông tin 2W chưa trực tiếp đánh trận nào.
Đúng như chỉ huy tiểu đoàn đã tính toán. Đơn vị chúng tôi bí mật vượt qua vòng vây của địch một cách an toàn. Chúng tôi phải mất gần như suốt đêm mới vượt qua được vách núi cheo leo, đá tai mèo sắc như dao để lên lũng Mật. Trời sáng rõ. Sương mù tan. Nhìn xuống dưới cánh đồng thấy rõ cả xe tăng và bộ binh địch đang lúc nhúc hành quân. Thỉnh thoảng tiếng pháo lại nổ chói tai vì bắn vào vách đá và gây nên những vọng âm mãi mới tan làm màng nhĩ tai u u rất khó chịu.
Chúng tôi được lệnh dừng lại nghỉ. Trời rét lắm lại ở núi đá nên càng thêm lạnh buốt. Tôi vội cùng anh em tìm những khe đá hơi bằng phẳng rải tăng võng ra để nằm tranh thủ ngủ để tối đến còn hành quân tiếp hoặc xuống bản tìm kiếm lương thực. Chợt thấy thằng Nam ngồi co ro ở một góc khe đá tôi hỏi:
- Mày tìm chỗ phẳng nằm mà ngủ một lát đi chứ! Tối nay còn đi lấy gạo đấy.
- Lúc vượt qua suối vì đỡ anh thương binh trượt ngã, cái ba lô của em bị trôi mất rồi.
- Thế thì nằm vào đây với tao cho khỏi rét mà ngủ.
Thằng Nam vừa chui vào nằm xuống cạnh tôi đã bật ngay dậy hốt hoảng:
- Anh... anh... đắp bằng tấm vải liệm à?
Thì ra nó vừa nằm xuống thì cái dây buộc của tấm vải liệm loằng ngoằng vướng ngay vào cổ. Tôi phì cười:
- Nó chỉ là một tấm vải thôi, việc gì mà sợ! Nằm xuống đi cho ấm!
- Thôi... thôi... anh ngủ đi... em chịu thôi...
Tôi cáu vì cái tính nhút nhát của nó:
- Thế thì mặc xác mày!
Nói vậy nhưng tôi cũng không ngủ được. Tôi ngồi dậy lột cái võng đang rải ném cho nó. Đoạn tôi chui hẳn vào trong tấm vải liệm, nửa rải, nửa đắp rồi ngủ thiếp đi vì mệt.
3- Đơn vị chúng tôi cứ ban ngày thì ẩn nấp trong các thung lũng, khe đá, buổi tối thì chuyển quân sang vị trí khác tránh sự truy kích của bọn địch và tổ chức cho các bộ phận đột nhập xuống bản tìm lương thực. Nhiều hôm chạm địch không lấy được lương thực mà còn tổn thất thêm lực lượng. Quân số của đơn vị cứ vơi dần sau những chặng hành quân gian khổ trên vách đá núi cao đói rét và bị địch đuổi đánh. Một số anh em lực lượng thanh niên xung phong bị thất lạc chạy lên núi cũng nhập luôn vào đội hình đơn vị chúng tôi.
Sau trận đơn vị bị lực lượng tinh nhuệ của địch tập kích vào đội hình trú quân thì cả hai tấm vải liệm của tiểu đội tôi đều được sử dụng hết. Cũng từ sau hôm ấy thằng Nam mới dám nằm gần tôi. Hai đứa đắp chung một cái võng mỏng manh. Lúc tạnh thì tăng rải làm chiếu, võng làm chăn cho ấm. Lúc mưa thì rải võng làm chiếu, tăng làm chăn đắp cho khỏi ướt. Mùa Xuân năm ấy sao mà mưa rét đến thế. Cái rét, cái đói hành hạ chúng tôi ngày càng khốn khổ. Rồi cả cái võng hai đứa đắp chung ấy cũng không còn. Chúng tôi không nỡ để một cô thanh niên xung phong nằm xuống không có cái gì bó buộc.
Một buổi sáng còn sương muối còn mù mịt thì tiểu đội trưởng Quân gọi tôi:
- Hà ơi đi ngay!
- Đi đâu!
- Đi xuống bản Cốc Nghịu! Bộ phận của thằng Nam tối hôm qua xuống bản lấy lương thực đến giờ vẫn chưa thấy về! Có chuyện không hay rồi.
Tôi vội vàng xách súng cùng tiểu đội trưởng Quân và một chiến sĩ trinh sát tiểu đoàn tụt xuống dốc núi. Chúng tôi tìm được chiến sĩ Lai nằm gục ở chân dốc. Cái ba lô gạo đeo trên lưng thấm máu. Lai bị thương nhẹ vào đùi nhưng vì đói quá nên lả đi không leo lên núi được. Lai thều thào cho chúng tôi biết hai người vào bản lấy được gạo, ngô quay ra thì gặp địch. Nam đã quay chặn địch và bảo Lai rút lui. Nam đã dũng cảm chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Nam bị bọn địch bắn chết bên bờ suối.
Mãi đến tối chúng tôi mới tiếp cận được chỗ Nam hy sinh. Chúng tôi đưa Nam qua suối, rửa mặt cho Nam. Chúng tôi lang thang dùng dây võng buộc chặt Nam vào người cõng nó lên núi.
Chúng tôi dùng xẻng bộ binh đào một cái rãnh trong khe đá đặt Nam xuống. Không còn một tấm vải liệm nào, tôi rút cái khăn mặt duy nhất của mình trong ba lô ra phủ lên mặt cho Nam.
4- Ba mươi năm qua rồi, Nam đã được đưa về quê hương. Hài cốt của nó được gói trong tấm lụa đặt trong hộp gỗ sạ hương phủ quân kỳ và mai táng trong nghĩa trang liệt sĩ. Nhưng câu chuyện về Nam và tấm vải liệm bây giờ tôi mới viết...
Hà Nội, tháng 3-2009

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2020

Truyện ngắn MÙA XUÂN LẠNH LẼO

MÙA XUÂN LẠNH LẼO
Truyện ngắn của Trọng Bảo

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, mọi người đang đứng, ngoài trời và thiên nhiên

Mưa phùn lất phất. Gió bấc thổi ù ù. Tôi phải giảm tốc độ xe máy cho đỡ rét buốt và đỡ bị những giọt mưa lạnh lẽo bay táp vào mặt. Cái rét khiến tôi như thấy con đường về quê như kéo dài ra xa hơn.
Qua thị trấn Hương Canh tôi dừng lại ở chỗ bán đồ gốm sứ ven đường. Tôi tính mua một cái chậu nhỏ để trồng cây phong lan rừng mà anh bạn đi Điện Biên về mới cho. Đang nhấc một cái chậu đất nung lên xem thì một ông mặc bộ quần áo mưa cũ kỹ, bám bẩn đầy bùn đất tay ôm một cái bát cắm nhang cứ ngó tôi trừng trừng rồi reo lên:
- Ôi… anh Hà! Đúng là anh rồi…
- Ơ… ơ… ông… - Tôi ngạc nhiên không hiểu vì sao ông ta lại biết tên mình. Tôi chăm chú nhìn ông ta một lúc rồi reo lên: - Ông là… À… à… tao… tao nhận ra rồi. Mày là thằng Thứ!
- Vâng! Đúng là em đây!
- Sao mày lụ khụ thế này hả?
- Thì em là nông dân, quanh năm lăn lê, bò toài ngoài ruộng, khổ hơn cả thời lính tráng ấy thì làm gì mà chả lụ khụ?
Nghe nó giải thích, tôi chợt nhớ là đã ba mươi mấy năm rồi còn gì. Thì ra trong tâm trí tôi lúc nào cũng cứ nghĩ nó còn trẻ như là ngày nhận cánh lính mới đưa lên biên giới dạo nào.
- Thế mày đi mua bát nhang đem về chuẩn bị bàn thờ tết à?
- Tết nhất gì! Em mua cái bát nhang này để đem ra mộ thằng Hào đây!
- Thằng Hào nào! Có phải thằng Hào cùng cánh lính bảy tám với mày phải không?
- Đúng là nó đấy!
- Thế đã tìm thấy và đưa nó về quê rồi à?
- Vâng…
- Mộ nó ở đâu?
- Ở gần đây thôi anh ạ!
Tôi quyết định:
- Thế thì mày dẫn tao đi thăm nó luôn nhé!
- Vâng anh đi với em! Anh em mình qua thị trấn mua ít hoa quả, kiếm lấy một cân xi-măng. Ta đem cái bát nhang này ra gắn trên mộ nó. Hôm trước, nhân dịp kỷ niệm ngày nhập ngũ em đến thăm mộ nó thấy cái bình cắm nhang bị đám trẻ con nghịch hay trâu bò phá đã bị vỡ rồi…
- Ừ…
Chúng tôi mua ít hương hoa, gói bánh quy và cân xi măng rồi ra mộ thằng Hào. Mộ nó ở chôn ở sườn một quả đồi nhỏ cạnh hai ngôi mộ khác. Đó là mộ của bố mẹ nó. Cả ba ngôi mộ đều đã được xây gạch cẩn thận. Thằng Thứ đốt một nén nhang rồi lầm rầm khấn khứa câu gì đó. Đoạn nó dùng con dao găm cũ kỹ nạy bỏ cái bát nhang vỡ gắn phía dưới mộ thằng Hào. Nó đặt cái bát nhang mới vào rồi trộn tý xi-măng gắn lại. Tôi thắc mắc là tại sao lại không đưa hài cốt thằng Hào vào nghĩa trang liệt sĩ. Thằng Thứ giải thích tại nhà nó tự ý đem nó từ biên giới về, giấy tờ không đủ nên địa phương chưa cho đưa vào nghĩa trang liệt sĩ. Bây giờ thì người thân nó không còn ai nên mọi giấy tờ, thủ tục vẫn chưa hoàn chỉnh. Với lại ý nguyện của bố mẹ thằng Hào muốn nó nằm bên cạnh mình ở nơi sườn đồi lộng gió này.
Châm mấy nén nhang cắm lên mộ thằng Hào và mộ của bố mẹ nó, tôi lại thấy lạnh thêm khi nhớ về những ngày đã qua ấy.
*
Cuối năm 1978. Tôi được giao nhiệm vụ đi tuyển quân ở tỉnh Vĩnh Phúc, quê hương của mình. Chúng tôi nhận tân binh ở Bình Xuyên. Bọn thằng Thứ và thằng Hào ở trong số tân binh chúng tôi đã nhận và đưa về đơn vị huấn luyện. Khi biên chế hai thằng ở trung đội 3, cùng đại đội với tôi. Tôi là cán bộ trung đội 1. Do đồng hương, lại quen nhau từ khi mới nhập ngũ nên hai thằng hay sang chơi với tôi. Được phân phối cân đường đỏ tôi sẻ cho mỗi thằng vài lạng pha nước uống khi đi tập về mệt nhọc.
Sau thời gian huấn luyện ở Ngân Sơn, đơn vị chúng tôi hành quân lên biên giới. Tình hình rất căng thẳng. Chiến tranh có thể nổ ra bất cứ lúc nào. Đơn vị chúng tôi làm nhiệm vụ phòng thủ ở khu vực biên giới huyện Hà Quảng. Khi chiến tranh biên giới xảy ra đơn vị chúng tôi đã đối mặt đánh nhau với bọn xâm lược ngay từ ngày đầu tiên. Cuộc chiến diễn ra rất ác liệt. Đến ngày thứ chín thì tiểu đoàn tôi bị bọn địch bao vây, chia cắt. Các đại đội trong đội hình tiểu đoàn đều bị nhiều tổn thất. Quá nửa quân số thương vong. Người chết, người bị thương vãn cả đội hình chiến đấu. Đạn dược, lương thực cũng đã cạn kiệt dần. Đơn vị nhận được lệnh phá vòng vây rút lui. Đại đội chúng tôi dồn đội hình lại còn hai trung đội. Lúc nhận các chiến sĩ về trung đội mình tôi khẽ reo lên:
- Thứ đấy hả! Vẫn còn sống là tốt rồi.
Thằng Thứ thì thào:
- Thằng Hào bị thương nhẹ vào phần mềm tay trái, vẫn cầm súng đánh nhau tốt anh ạ!
- Thế nó đâu rồi?
- Nó đi bảo vệ đưa thương binh về phía sau, nửa đêm sẽ quay lên!
- Thế tốt rồi! Nhưng hai đứa về bộ phận của tao là nguy hiểm lắm, chúng mày phải thật cẩn thật đấy!
- Bộ phận của anh làm nhiệm vụ gì ạ?
- Bộ phận này có nhiệm vụ đi trước mở đường. Khi bị địch truy đuổi thì sẽ dừng lại chốt chặn địch để đơn vị rút đi.
- Chúng em sẽ cố gắng!
- Tình huống nào cũng không được bỏ chạy hiểu không?
- Anh cứ yên tâm…
Nghe thằng Thứ nói vậy nhưng tôi không thấy yên tâm chút nào. Nói là một trung đội nhưng quân số chỉ có mười bốn thằng, chỉ bằng một tiểu đội tăng cường. Súng thì sắp hết đạn, lương thực thì cạn kiệt. Nhìn những bóng người nhỏ bé xác xơ sau gần mười ngày chiến đấu, đói ăn, không ngủ, tôi cảm thấy lo lắng. Gần sáng hôm sau thì thằng Hào trở về. Nó tìm đến chỗ tôi báo cáo việc một chiến sĩ cùng đi bảo vệ đoàn tải thương binh với nó về tuyến sau đã bỏ trốn luôn theo xe thương binh không trở lại đơn vị nữa. Tôi thở dài. Thế là trung đội của tôi chỉ còn có mười ba người. “Sẽ có một thằng chết! Con số 13 sui lắm!”. “Hay là một thằng nào xin chuyển sang bộ phận khác đi!”. - Tôi nghe có tiếng thì thào bàn tán phía sau gộp đá. Tôi không mê tín nhưng cũng chợt thấy hơi xao xuyến khi nghe chuyện của mấy chiến sĩ. Nhưng rồi tôi không thấy ai xin chuyển sang bộ phận khác cả. Anh em theo tôi đi chuẩn bị trinh sát đường và rải quân để đêm mai đưa đơn vị vượt vòng vây quân giặc.
Chúng tôi cử một tổ bám đường từ lúc chập tối. Trên đường quốc lộ bộ binh, xe tăng, xe kéo pháo của bọn địch qua lại tấp nập. Nhìn những toán quân xâm lược hăng hái rầm rập tiến sâu vào đất ta chúng tôi rất lo lắng. Thông tin liên lạc giữa tiểu đoàn tôi với cấp trên đã bị cắt đứt hoàn toàn. Không hiểu tình hình đang diễn ra thế nào. Tiếng súng vẫn rền vang ở xung quanh. Có lẽ những trận đánh lớn vẫn xảy ra ở phía Nguyên Bình, Mỏ Sắt và hướng thị xã Cao Bằng.
Quá nửa đêm thì tổ trinh sát bám mặt đường trở về. Thằng Thứ vẻ mặt buồn bã, hốc hác gặp tôi báo cáo:
- Thằng Hào hy sinh rồi anh ạ!
- Nó… nó chết thế nào?
- Bọn em đang vượt sang đường thì bị địch phát hiện. Thằng Hào đi trước liền nhào sang phía bên kia đường rồi nổ súng dụ bọn địch đuổi theo. Em và thằng Sùng Mí De còn nằm dưới rãnh thoát nước phía bên này nhờ thế không bị bọn địch phát hiện. Em nhìn thấy bọn địch lôi thằng Hào ra giữa đường. Hình như lúc ấy nó đã chết rồi anh ạ! Bọn chúng soi đèn rọi vào mặt thằng Hào. Mặt nó đẫm máu, nó nằm không thấy nhúc nhích cựa quậy gì nữa!
Tôi rùng mình thấy lạnh buốt trong lòng. Tôi dặn thằng Thứ trở về vị trí của mình chờ tôi đi báo cáo tình hình với chỉ huy đại đội. Thằng Thứ bảo:
- Em và một thằng sẽ trở lại chỗ thằng Hào hy sinh. Phải tìm cách lấy xác nó đưa lên trên núi mai táng anh ạ!
- Phải hết sức cẩn thận. Đề phòng bọn địch phục kích và gài mìn để bẫy ta đến lấy xác liệt sĩ. Nhớ là cảnh giới bảo vệ, chi viện cho nhau thật cẩn thận hãy hành động nhé!
- Vâng…
Giao nhiệm vụ cho thằng Thứ xong tôi trèo lên phía bên kia dốc núi, nơi chỉ huy đại đội và đội hình của tiểu đoàn đang ém quân. Nhìn xuống con đường, bọn địch đã bớt đi lại, anh đèn xe và tiếng gầm rú của xe tăng lắng hẳn.
Khi tôi quay trở lại đã gần sáng. Trời đã tan bởt mây mù, ánh trăng sáng lờ mờ. Thằng Thứ đón tôi ở ngay lối mòn. Nó bảo:
- Đưa được xác thằng Hào lên sườn núi rồi anh ạ! Nhưng…
- Thế thì ổn rồi! Chúng ta phải khẩn trương chôn cất cho nó rồi trở về đội hình của đại đội nhận nhiệm vụ mới ngay!
Thằng Thứ im lặng. Nó dẫn tôi đến chỗ hốc đá đang để xác thằng Hào. Thằng Hào đã được gói trong một tấm tăng rách. Thằng Thứ kể nó và thằng Sùng Mí De phải cột thằng Hào lên lưng để vừa bò lên dốc núi vừa sẵn sàng đánh trả bọn địch. Thằng Sùng Mí De quê ở Hà Giang, là người dân tộc Mông có tài leo núi nhanh nhẹn như con sóc. Nó là một người chiến đấu rất dũng cảm trong những trận đánh vừa qua.
Tôi rờ rẫm sờ tay kiểm tra thi thể của thằng Hào. Chợt tôi giật mình hốt hoảng hỏi:
- Đầu của thằng Hào đâu rồi?
Thằng Thứ hổn hển nói, giọng nó nghẹn ngào xúc động:
- Bọn giặc chặt đầu nó ném đi đâu mất rồi anh ạ!
- Vậy làm thế nào bây giờ… hay…
Thằng Thứ trấn tĩnh lại:
- Phải quay lại tìm đầu nó anh ạ!
- Nhưng chúng ta chỉ còn có gần ba tiếng nữa là phải hành quân về vị trí tập kết rồi. Bọn địch sẽ đánh ác liệt vào khu vực này sáng sớm ngày mai đấy!
- Ba tiếng vẫn kịp! Để em đi…
- Thôi được! - Tôi quyết định: - Tao với mày sẽ cùng xuống chân núi một lần nữa!
Nghe tôi nói vậy, thằng Sùng Mí De liền đề nghị:
- An cho en cùn xuốn tìn an Hao vơi nhe! (Anh cho em cùng xuống tìm anh Hào với nhé!)
Thằng Sùng Mí De nói tiếng Kinh chưa sõi. Tôi đồng ý vì nó nhanh nhẹn và dũng cảm. Ba chúng tôi lại lần xuống chân núi. Tôi phán đoán chỗ thằng Hào bị địch giết phía ta-luy dương là vách núi dốc, bọn chúng không thể ném đầu nó lên trên. Nhất định bọn giặc sẽ ném đầu thằng Hào xuống phía ta-luy âm, nơi có con suối cạn. Điều khó khăn là ban đêm, ánh trăng lờ mờ không soi rõ mọi vật và việc tìm kiếm dưới lòng con suối cạn phía bên kia đường rất dễ bị địch phát hiện. Tuy vậy, chúng tôi vẫn tìm cách vượt qua đường quốc lộ sang phía bên kia. Tôi bảo thằng Sùng Mí De nằm lại ở trên lề đường cảnh giới rồi cùng thằng Thứ tụt xuống suối. Con suối cạn dưới ánh trăng lổn nhổn những hòn đã tròn tròn rất khó phân biệt. Mò mẫm mãi hai chúng tôi vẫn không tìm được đầu của thằng Hào. Trời đã sắp sáng. Có tiếng gà gáy eo óc trong một bản gần đấy vọng ra. Thằng Thứ thì thào: “Làm thế nào bây giờ anh nhỉ? Nếu không tìm thấy đầu của nó thì sau này về gặp bố mẹ nó em biết ăn nói thế nào!”.
Tôi định động viên nó là chiến tranh biết làm sao được thì chợt nhớ đến câu chuyện mình đã từng nghe ở ngã ba Đồng Lộc có cô thanh niên xung phong bị bom Mỹ vùi mất tích nhờ một anh đọc lên bài thơ gọi hồn mà đã tìm thấy xác. Tôi liền lẩm bẩm khẽ gọi:
“Hào ơi Hào
Đầu mày ở chỗ nào?
Hãy gọi cho tao một tiếng!”
Thế là vừa tiếp tục rờ rẫm dưới lòng con suối cạn tôi vừa lẩm bẩm mãi cái câu mình chợt nghĩ ra ấy: “Hào ơi Hào/Đầu mày ở chỗ nào?/Hãy gọi cho tao một tiếng!”.
Thật bất ngờ khi quờ tay vào một vũng nước giữa hai hòn đá tôi chạm tay vào mái tóc của thằng Hào. Thật linh nghiệm. Tôi khẽ kêu lên: “Thấy rồi!”. Thằng Thứ liền nhào đến. Nó đỡ cái đầu của thằng Hào lên vuốt mái tóc xuôi về phía sau rồi thốt lên: “Hào ơi! Sao mày lại khốn khổ thế này!”. Đoạn nó để cái đầu thằng Hào vào cái ba lô lép kẹp đang đeo trên lưng. Tôi và thằng Thứ bò lên mặt đường khều thằng Sùng Mí De cùng vượt đường rút nhanh lên núi. Đã có tiếng xe tăng quân giặc gầm rú ở hướng biên giới.
Bộ phận ở lại dùng xẻng bộ binh đã đào xong một cái hố nông choèn trong khe đá và đặt phần thân thể của thằng Hào xuống. Trên sườn núi đã mà khoét được một cái hố như thế này cũng thật khó khăn. Thằng Thứ cẩn thận đặt cái ba lô xuống. Nó nhẹ nhàng nhấc cái đầu của thằng Hào ra. Một thằng đỡ lấy đặt vào phần thân thể của nó rồi định gấp tấm tăng gói lại. Thằng Thứ vội ngăn:
- Khoan, để rửa mặt cho nó đã!
Thằng Thứ lấy ra cái khăn mặt và cái bi-đông đựng đầy nước suối vừa múc lúc nãy. Nó đưa cái bi-đông cho một thằng bảo đổ nước ra để vò chiếc khăn. Một người từ phía sau len lên nói:
- Để em lau mặt anh ấy cho!
Tôi ngạc nhiên. Đó là tiếng con gái. Tôi vừa định hỏi cô gái này ở đâu đến thì một chiến sĩ cho biết cô ấy tên là Hằng ở đơn vị thanh niên xung phong. Đơn vị thanh niên xung phong bị địch đánh tan tác, cô bé thất lạc chạy lên núi may gặp bộ đội liền xin đi theo. Cô bé thanh niên xung phong lau chùi mặt cho thằng Hào rất cẩn thận.
Chúng tôi vun đất xuống cái hố. Phải moi đất xung quanh mới đắp được cho thằng Hào một nấm mộ nhỏ, đánh dấu cẩn thận. Không có hương nhang. Không có hoa. Cô bé thanh niên xung phong khẽ khàng đặt lên nấm mộ mới đắp một cành lá xanh. Thế là thằng Hào và bao chiến sĩ trẻ nữa chưa đủ một tuổi quân đã thành liệt sĩ. Đến giờ hành quân. Các chiến sĩ lục tục trèo qua gộp đá lên con đường mòn vắt ngang lưng chừng dãy núi. Mười ba người chúng tôi, mười hai khẩu súng đã gần hết đạn, ai nấy quần áo tả tơi, người còn ba-lô, người thì buộc túm cái quần dài lại đeo sau lưng để đựng đạn và lương thực thay cho ba-lô. Hai ống quần căng ra trông giống như một nửa thân người. Cô bé thanh niên xung phong đi gần cuối đội hình không có súng, cũng không có ba-lô. Tôi đưa cho cô một quả lựu đạn. Thế là quân số bộ phận chúng tôi lại đủ mười ba người...
Trời đã sáng nhưng sương mù vẫn bay mù mịt, che khuất bóng người đi. Chúng tôi lặng lẽ bám sát theo nhau trên con đường dài thăm thẳm của cuộc chiến tranh khốc liệt.
Mùa Xuân năm ấy sao mà lạnh lẽo đến thế?
Hà Nội, tháng 2-2012

Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2019

Truyện ngắn CHUYỆN MỘT NGƯỜI THẦY

CHUYỆN MỘT NGƯỜI THẦY
Truyện ngắn của Trọng Bảo

Trong hình ảnh có thể có: 1 người

Nhận được điện của Hằng báo tin thầy Lâm mệt nặng, tôi cố thu xếp rút ngắn chuyến công tác để có thế ra Bắc sớm hơn. Nhưng cũng phải gần một tuần sau tôi mới về đến Hà Nội. Ném vội hành lý vào nhà, tôi vớ xe máy phóng đến ngay nhà thầy. Hằng mở cửa đón, tôi hỏi ngay:
- Thầy thế nào rồi?
Hằng vừa giúp tôi đưa xe vào khoảng sân hẹp vừa nói, mắt đỏ hoe:
- Từ tối qua đến giờ thầy lúc tỉnh, lúc mê, chả còn nuốt nổi thìa sữa nữa!
Tôi vội vã theo Hằng vào nhà. Thầy Lâm nằm thiêm thiếp trên chiếc giường cá nhân trong căn phòng nhỏ, giữa bốn bề là sách. Tôi quỳ xuống cạnh thầy. Hai bàn tay tôi nắm lấy tay thầy. Tay thầy hơi lạnh, không còn ấm như mọi khi. Tôi khẽ gọi:
- Thầy ơi... con... An đây...
Thầy Lâm vẫn nằm lặng yên. Nhưng tôi cảm thấy bàn tay thầy khẽ động đậy trong tay mình. Tôi biết thầy đã nghe thấy tiếng tôi gọi. Hằng vẫn sụt sịt đứng bên cạnh. Tôi hỏi:
- Sao không đưa thầy vào bệnh viện?
Hằng lau mắt:
- Chúng em đã đưa thầy vào viện. Nhưng sau một tuần thầy cứ dứt khoát đòi về. Mấy hôm nay bệnh tự dưng bệnh thầy nặng thêm.
- Thế thuốc thang cho thầy bây giờ thế nào?
- Mấy anh chị học trò của thầy là giáo sư bác sĩ ở bệnh viện vẫn đến theo dõi, tiêm thuốc cho thầy. Các anh chị ấy cũng vừa mới về xong, lát nữa sẽ lại đến...
Tôi lặng nhìn thầy. Thầy nằm yên trên giường. Đôi mắt của người nhắm nghiền như đang ngủ. Mái tóc của thầy bạc trắng như bông, trắng hơn bui phấn đời người. Nét mặt thầy thanh thản như chưa hề có những cơn đau đang âm ỉ trong cơ thể. Có lẽ thầy hiểu. Cả cuộc đời gắn bó với bao lớp học trò như chúng tôi, con đò của thầy chở bao nhiêu chuyến sang sông nay đã đến lúc phải cập bến nghỉ ngơi, giã từ sóng gió. Nhìn thầy, tôi chợt nhớ lại khi còn là học trò của thầy. Nhớ về kỷ niệm những ngày xanh.
Đó là những năm chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở miền Bắc. Khi ấy tôi vừa lên lớp 8. Thời đó, lớp 8 là lớp đầu của cấp ba. Thầy Lâm vừa là chủ nhiệm vừa dạy lớp tôi môn toán. Thầy là người Hà Nội gốc. Hình như thầy có chuyện gì trục trặc về gia đình nên xin lên miền núi quê tôi dạy học. Thầy đem theo đứa con gái nhỏ. Hai bố con thầy ở một gian nhà nhỏ trong khu tập thể. Bé Hằng khi ấy mới năm sáu tuổi đang chuẩn bị vào lớp 1. Tính thầy Lâm rất nghiêm khắc nên chúng tôi không thích thầy lắm. Nhất là tôi lại là một đứa lười học, hay trốn tiết đi bơi ngoài sông hoặc lang thang ra thị trấn. Giờ toán của thầy đúng là một cực hình. Văn thì tôi chả kém mấy ai nhưng lại rất rốt môn toán. Đã thế thầy Lâm lại hay gọi tôi lên bảng. Bị nhiều điểm kém môn toán nên tôi rất lo, nhất là khi chi đoàn đang bồi dưỡng để kết nạp tôi vào đoàn. Học kém sẽ không đủ tiêu chuẩn để trở thành đoàn viên. Ngày ấy không là đoàn viên thì đi bộ đội cũng khó chứ đừng nói gì là vào đại học, cao đẳng. Tôi cũng đã cố tập trung học môn toán. Nhưng sự thông minh không phải cứ cố là có được ngay.
Bài kiểm tra giữa học kỳ môn toán thường là hệ số hai. Được một điểm khá, hay điểm giỏi tức là có hai điểm khá, hai điểm giỏi, khi chia trung bình nó kéo các điểm kém khác lên. Ấy thế mà bài kiểm tra giữa học kỳ một tôi lại làm không tốt. Bài làm tẩy xoá, sửa chữa be bét. Lúc hết giờ so sánh với các bạn giỏi trong lớp thì tôi làm sai gần hết. Chợt nảy ra một sáng kiến. Tôi liền đem đề bài đi tìm anh Bái. Anh Bái là anh họ tôi học trên một lớp. Anh rất giỏi môn toán. Kỳ thi học sinh giỏi toán toàn tỉnh anh đoạt giải nhì. Tôi nhờ anh giải cho các bài toán trong đề kiểm tra giữa học kỳ. Anh làm một loáng là xong. Tôi ngồi chép lại thật sạch sẽ. Buổi chiều, tôi lân la gần nhà thầy Lâm. Nhìn thấy bé Hằng đang thập thò ở cửa, tôi vẫy vẫy tay khẽ gọi:
- Hằng... Hằng... ra đây anh bảo!
Vừa trông thấy tôi, bé Hằng đã lon ton chạy ra ngay. Con bé rất thích tôi vì tôi hay gấp cho nó khi thì cái chong chóng, lúc thì con châu chấu bằng lá dừa hoặc con thuyền bằng giấy.
Bé Hằng tíu tít:
- Anh An ơi! Hôm nay anh gấp cho em con chim bồ câu nhé!
Tôi bẹo má nó thì thào hỏi:
- Bố có ở nhà không?
- Bố em vừa đi "ọp an ám iệu ồi" (họp ban giám hiệu rồi).
Bé Hằng nói líu cả lưỡi. Tôi bảo:
- Thế thì tốt! Nhưng anh không có giấy để gấp...
- Bố em có ối... - Con bé khoe. Tôi bảo:
- Để anh vào nhà xem có tờ giấy nào bỏ đi lấy gấp đồ chơi cho em nhé!
Bé Hằng gật đầu. Tôi lẻn nhanh vào phòng thầy Lâm. Chả khó khăn gì, tôi tìm thấy tập bài kiểm tra toán thầy đang chấm dở để trong ngăn bàn. May quá, bài của tôi thầy chưa chấm đến. Tôi nhanh chóng đổi ngay bài làm vừa nhờ anh Bái giải giúp vào tập bài kiểm tra. Xong xuôi, tôi khép cửa và kéo bé Hằng ra mãi ngoài góc sân trường. Bé Hằng cứ luôn miệng giục đòi: "Anh gấp bồ câu cho em... anh gấp bồ câu cho em...". Tôi lúng túng, kiếm đâu ra giấy để gấp đồ chơi cho nó bây giờ. Bé Hằng sốt ruột ngúng nguẩy trực khóc. À đây rồi, tờ giấy bài kiểm tra làm sai đánh tráo khi nãy còn gấp nhét trong túi quần. Tôi lấy tờ giấy ra vuốt phẳng, xé đôi rồi gấp cho bé Hằng chiếc thuyền và con chim bồ câu.
Bài kiểm tra giữa học kỳ ấy tôi được điểm chín. Bọn con trai lười học trong lớp đều tròn mắt bái phục. Thầy Lâm biểu dương tôi trước lớp rồi nói thêm: "Thầy mong rằng em sẽ tiếp tục cố gắng nhiều hơn để giữ vững kết quả học tập của mình". Tôi thấy yên tâm vì thầy không phát hiện ra trò láu cá, gian lận của mình. Nhưng tôi cũng hơi hoảng vì nếu những bài kiểm tra tiếp theo lại bị điểm kém thì biết ăn nói thế nào với các bạn cùng lớp. Thế là tôi chú ý chăm chỉ học tập hơn. Tôi cũng thường xuyên đến nhờ anh Bái hướng dẫn thêm cho môn toán.
Một hôm, thầy Lâm tìm tôi bảo:
- Bé Hằng bị mệt, dỗ mãi không chịu ăn cơm, nó cứ đòi thầy đi tìm anh An đến gấp cho cái chong chóng mới chịu ăn.
- Thưa thầy! Hết buổi học em sẽ đến ngay ạ!
Tôi đáp. Hết giờ học tôi đến ngay phòng thầy Lâm. Bé Hằng đươc mấy thứ trò chơi thích quá, tay cầm cái chong chóng làm bằng lá dừa ăn liền hai lưng bát cơm. Từ đó tôi hay đến chơi với bé Hằng và cũng thấy bớt ngại thầy Lâm nghiêm khắc, khó tính. Thầy Lâm cũng tranh thủ kèm cặp hướng dẫn tôi thêm về môn toán. Đến cuối học kỳ một, lực học môn toán của tôi khá lên hẳn. Điểm kiểm tra đều từ bảy trở lên. Thỉnh thoảng, tôi còn được chín điểm môn toán.
Chiến tranh phá hoại của Mỹ lan rộng khắp miền Bắc. Trường chúng tôi sơ tán vào trong rừng sâu. Bé Hằng vào học lớp 1. Nhiều hôm thầy Lâm bận lên lớp hoặc đi họp, tôi giúp thầy đưa đón bé Hằng đi học. Thầy coi tôi như con, tận tình chỉ bảo, nhắc nhở tôi học tập. Tôi cũng rất quý thầy và bé Hằng. Ngày ấy cuộc sống rất khó khăn. Quê tôi thường thiếu đói khi giáp hạt. Nhiều bữa thầy lấy cớ là bé Hằng không chịu ăn nếu không có anh An đến chơi để giữ tôi ở lại ăn cơm. Sau này tôi mới hiểu thầy thương tôi nhà nghèo, ăn uống thiếu thốn, nhiều bữa chỉ có sắn thay cơm. Mỗi khi đem tem phiếu ra mậu dịch mua được chút thịt cá tươi là thầy đều tìm cách giữ tôi ở lại ăn cơm.
Gần hết năm học lớp 8, tôi được kết nạp vào đoàn. Hôm làm lễ kết nạp cho tôi thầy Lâm vui lắm. Thầy đưa cả bé Hằng đến. Sau lễ kết nạp bé Hằng tặng tôi một bó hoa rừng. Giữa năm lớp 9, lúc này chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc tạm ngưng. Trường lại chuyển về thị trấn. Tôi còn nhớ hôm đó là ngày nghỉ, khu nhà tập thể giáo viên vắng vẻ. Tôi đến thăm thầy Lâm và bé Hằng. Đi tới gần phòng thầy ở cuối dãy nhà tập thể thì tôi nghe tiếng kêu khóc của bé Hằng. Tôi vội chạy vào. Thầy Lâm đang nằm dưới sàn nhà. Bé Hằng đang cuống quýt lay gọi bố. Thầy bị một cơn đau đột ngột. Thầy có tiền sử bị bệnh tim. Thấy tôi, thầy cố thều thào bảo:
- Đừng... sợ... thầy... kh...ông việc gì đâu. Cứ để thầy nằm yên một lúc. Thuốc thầy để ở ngăn tủ trên, An lấy cho thầy...
Tôi chạy vào góc phòng mở tủ tìm thuốc. Lúc kéo ngăn tủ ra tìm lọ thuốc tôi chợt thấy một cái thuyền và con chim bồ câu giấy cũ kỹ để ở trong hộc tủ. Tôi cầm lên xem và giật mình sửng sốt nhận ra chính là cái thuyền và con chim bồ câu tôi đã gấp cho bé Hằng bằng tờ giấy bài kiểm tra môn toán giữa học kỳ năm lớp 8 làm sai mà tôi đã đánh tráo. Thì ra ngay từ ngày ấy, thầy đã biết tôi đổi bài kiểm tra. Nhưng thầy đã không đưa tôi ra kiểm điểm trước lớp. Thầy có một cách khác để giúp tôi tiến bộ, học tập tốt hơn. Đó là cách của một người thầy luôn độ lượng, bao dung.
Tôi để chiếc thuyền và con chim giấy vào chỗ cũ rồi đem thuốc ra cho thầy…
*
Năm tháng qua đi, hết chiến tranh, thầy Lâm chuyển về dạy học tại thủ đô. Nghỉ hưu, thầy đi dạy tại lớp học tình thương cho trẻ em đường phố. Thầy vẫn dõi theo mỗi bước trưởng thành của các lớp học trò chúng tôi. Với tôi, thầy luôn có một sự quan tâm đặc biệt. Khi biết tôi trưởng thành thầy mừng lắm. Bé Hằng ngày ấy giờ cũng đã là một tiến sĩ, một nhà khoa học. Thầy đã một mình nuôi con khôn lớn và dạy dỗ bao lớp học trò nên người. Một mình thầy cô đơn với chiếc giường cá nhân. Nhưng bên thầy có bao lớp học trò vững bước, trưởng thành.
Bây giờ thì thầy nằm đó thanh thản trong tĩnh lặng. Là người chèo lái, thầy đã chở bao nhiêu chuyến đò tri thức sang sông cho chúng con nên người. Chúng con biết ơn thầy mãi mãi thầy ơi!
Hà Nội, 20-11-2008

Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2019

Truyện ngắn RỪNG THẲM (phần cuối)

RỪNG THẲM (phần cuối)
Truyện ngắn của Trọng Bảo 

Trong hình ảnh có thể có: núi, ngoài trời và thiên nhiên

Thời gian cứ thế xa dần, xa dần mãi. Bước chân người lính chúng tôi đi qua thêm bao miền đất mới, gặp gỡ thêm bao nhiêu con người cùng những số phận khác nhau. Tuy vậy, tôi vẫn đau đáu nhớ về Hà Giang một thuở gian lao trong cuộc đời quân ngũ của mình. Hôm nay, sau hơn bốn mươi năm tôi mới lại có dịp về lại Bắc Quang và bất ngờ gặp lại Dung. Chuyện bốn mươi năm được kể lại trong một ngày...
Dung kể lại câu chuyện ngày ấy cùng Tú đưa con về bản Luồng gặp bố. Ông bố đóng cửa không cho vào nhà. Dung và Tú cùng thằng bé con phải ngồi ở ngoài sàn nhà. Đêm đến mưa gió, thằng bé đói gào khóc ghê quá lão Phủng mới cho phép bà vợ mở cửa ra bế đón cháu vào nhà. Dung bước vào theo. Khi thằng Tú vừa bước chân qua bậu cửa thì lão Phủng chĩa khẩu súng kíp cản lại bắt lùi ra. Đoạn, đích thân lão đầu trần, chân đất đội mưa gió, tay lăm lăm khẩu súng kíp đã nạp đạn sẵn dẫn giải Tú ra tận bờ suối như dẫn giải một kẻ thù, một thằng ăn cắp.
Ra đến bờ suối, lão nghiến răng hầm hè bảo:
- Tao... tao cấm mày đến gần nhà tao. Nếu mày thực sự muốn chết thì hẵng đến gần nhà tao...
- Bố ơi... con xin...
Tú cố nói thêm một câu gì đó. Nhưng không thèm nghe Tú giãi bày, lão Phủng lùi lũi quay lại nhà. Thằng Tú đành chui vào một cái chòi canh ngô ven bờ suối để tránh mưa. Mưa rừng dầm dề lạnh lẽo. Dù mưa gió, đói khát nhưng Tú đành cắn răng chịu đựng, hy vọng lão Phủng sẽ nghĩ lại. Nhưng lão Phủng không thèm nghĩ lại. Tính lão cổ hủ, cố chấp. Lão cấm tiệt con gái không được ra gặp thằng thợ mộc, cũng không được tiếp tế thức ăn đồ uống gì. Thằng Tú đói quá phải xuống suối mò cua ốc nướng ăn. Ngày qua ngày, không chịu được nó định quay về lâm trường Vĩnh Hảo để tiếp tục xin làm công nhân thời vụ trồng rừng, khai thác tre luồng. Song vì thương Dung và nhớ thằng con nên Tú cố chịu đựng thêm vài ngày nữa. May là có thằng Lủ, em của Dung vốn rất nhanh nhẹn. Thằng Lủ nhanh như sóc đeo túi cơm lủi qua rừng đem ra bờ suối tiếp tế cho "anh rể" hờ. Nhưng được vài bữa lão Phủng phát hiện ra. Lão bí mật liền xách súng bám theo chân thằng Lủ.
Khi thằng Lủ đang đưa gói cơm cho Tú thì lão Phủng giương súng lên bắn một phát. Phát súng chỉ thiên làm hai anh em bị bất ngờ nên vô cùng hoảng sợ. Cả hai vội vứt gói cơm nhảy ào xuống dòng suối thoát thân. Đang mùa mưa lũ nên nước suối chảy cuồn cuộn hung dữ. Thằng Lủ treo cây, luồn rừng thì giỏi nhưng bơi lội thì lại rất kém. Nó bị dòng nước xiết nhấn chìm rồi cuốn đi luôn. Còn thằng Tú thì dòng suối này chả là gì so với dòng sông Hồng cuồn cuộn sóng ở quê nhà. Tú bơi một mạch sang bên kia bờ suối. Nhưng khi ngoảnh lại không thấy thằng Lủ đâu Tú vô cùng hốt hoảng. Nó nhớn nhác nhìn xuống phía hạ lưu và nhận ra cái đầu bù sù của thằng Lủ đang bị dòng nước xiết xô về phía thác. Thằng Lủ cố giơ hai tay lên cầu cứu. Tú vội nhao người phóng theo. Với sức rướn của chàng trai sông Hồng lại bơi xuôi theo dòng nước xiết nên chả mất thời gian gì nhiều Tú đã đuổi kịp thằng Lủ. Thằng Lủ bị ngạt nước sắp chìm xuống đáy suối sâu thì Tú bơi đến kịp. Tú nhanh chóng sải tay túm lấy tóc thằng Lủ lôi vào bờ. Sắp đến đầu con thác nên dòng nước chảy rất mạnh. Phải rất vất vả vận lộn Tú mới đưa được thằng Lủ lên bờ. Quá mệt nhưng vừa ôm thằng Lủ lên bờ suối Tú phải tiến hành hà hơi thổi ngạt, cấp cứu cho nó ngay. Thằng Lủ đã uống quá nhiều nước. Tú xốc hai chân thằng Lủ lên vai chạy vài vòng cho nó nôn bớt nước ra. Đoạn, Tú đặt thằng Lủ xuống bãi cỏ rồi tiến hành hô hấp nhân tạo, ghé miệng hút đờm dãi cho nó.
Thằng Lủ vẫn cứ nằm im trên bãi cỏ. Trông nó như một tàu lá chuối héo rũ không còn sự sống. Tú tiếp tục làm động tác hô hấp nhân tạo cho thằng Lủ. Giữa lúc đó thì lão Phủng cuống cuồng vừa gào gọi tên thằng Lủ vừa chạy đến. Tú đứng phắt dậy chỉ tay về phía lão Phủng hét to:
- Ông đứng ngay lại! Không được đến gần thằng Lủ... không... được...
- Ơ... ơ...
Lão Phủng đứng sững lại ở phía xa. Lão Phủng hiểu ngay ý của thằng Tú. Thằng Tú không cho lão lại gần chỗ thằng Lủ đang nằm. Vì người bị đuối nước đang bất tỉnh mà có người thân cùng máu mủ đến gần thất khiếu sẽ ứa máu ra lúc ấy thì vô phương cứu chữa.
Biết chắc lão Phủng không dám chạy đến nữa Tú tiếp tục cấp cứu cho thằng Lủ. May quá, sau nhiều lần cố gắng của Tú thằng Lũ mới "hộc" lên được một tiếng rồi nôn ra toàn nước là nước. Tú đỡ nó ngồi dậy. Cả hai anh em cùng ngồi thở hổn hển một lúc lâu. Khi đã hơi lấy lại sức, Tú đỡ thằng Lủ đứng dậy. Nó lảo đảo khụy xuống không bước đi nổi. Tú ghé lưng cõng thằng Lủ loạng choạng đi về phía cái chòi canh ngô. Lão Phủng lúc này mới hoàn hồn. Lão vẫn chưa dám chạy đến gần thằng Lủ. Lão đứng mãi tít ở phía xa giơ giơ khẩu súng kíp chỉ về phía bản Luồng gào lên:
- Đưa nó về bản... bản...
Tú cõng thằng Lủ chạy thẳng về bản Luồng...
Thế là kể từ hôm ấy thằng Tú mới được bước chân vào nhà lão Phủng với tư cách là khách. Sau đó nhờ ông giám đốc lâm trường Vĩnh Hảo đứng ra làm chủ hôn, mang đồ cưới hỏi đến lão Phủng mới công nhận thằng Tú là con rể... Tú ở rể nhà lão Phủng một thời gian thì xin đất làm nhà đưa vợ con ra ở ngoài ngã ba Việt Vinh. Ngã ba Việt Vinh ngày ấy nhà cửa thưa thớt. Tú và Dung sau đó vẫn làm công nhân trồng rừng, khai thác lâm sản cho lâm trường Vĩnh Hảo.
Tôi hỏi Dung:
- Tú mất như thế nào?
Dung lặng người đi một lát rồi mới trả lời, giọng nhỏ đi chùng xuống:
- Anh ấy đang đóng bè luồng trên sông Bạc thì có ba cô bé chèo mảng qua sông đào măng đắng. Đến giữa sông mảng va vào mỏm đá ngầm lật úp. Nghe tiếng kêu cứu anh ấy lao ra. Cứu được hai đứa đưa vào bờ anh ấy đã mệt lắm rồi. Anh ấy đã cao tuổi lại mới ốm dậy nên khi bơi ra đưa được bé thứ ba vào đến bờ thì kiệt sức, bị dòng nước xiết nhấn chìm và cuốn đi mãi mãi...
Dung chỉ nói tóm tắt về cái chết của Tú như vậy. Tôi cũng không muốn hỏi thêm dễ khoét sâu vào nỗi đau đớn nhất trong cuộc đời của Dung. Tôi bùi ngùi nhớ về một người bạn, một người anh em cùng quê đã gửi trọn cuộc đời ở nơi núi cao rừng thẳm này. Cho đến lúc ra đi mãi mãi, hồn phách Tú mới theo dòng sông Bạc ra sông Lô để về với bến sông Hồng nơi quê hương bản quán của mình...
Chợt nhớ ra tôi hỏi tiếp:
- Còn thằng Lủ hiện nay thế nào rồi?
- Chú Lủ hiện vẫn ở bản Luồng. Bản Luồng bây giờ toàn nhà tầng, không còn nhà sàn vách gỗ như ngày xưa nữa anh ạ!
- Lủ vẫn khỏe chứ?
- Chú ấy khỏe! Hiện chú ấy là phó chủ tịch xã đấy. Con cái cũng lớn, có gia đình cả rồi...
Nói đến đây Dung như chợt nhớ ra. Dung gọi con gái đem điện thoại ra và bấm số. Dung nói với người máy bên kia bằng tiếng dân tộc xong quay sang bảo tôi:
- Chú Lủ nói sẽ ra thăm anh ngay bây giờ đấy!
Tôi vội nói:
- Bọn anh phải đi bây giờ rồi. Từ bản Luồng ra đây hơn năm cây số đường rừng bao giờ Lủ mới ra đến nơi?
Dung bật cười bảo:
- Anh đã đi xa bốn mươi năm rồi không biết, con đường vào bản Luồng bây giờ đã mở xuyên qua núi thẳng tắp trải nhựa phẳng lì, dài chưa đến bốn cây số, một cái cầu đã bắc qua suối, xe máy chạy chỉ hơn mười phút là ra đến nơi thôi...
Dung chưa nói xong đã nghe có tiếng xe máy ngoài cổng. Một người đàn ông vẻ chững chạc đi chiếc xe ga nhẹ lướt vào sân. Hai bên ghi đông chiếc xe máy là hai giò phong lan treo lủng lẳng. Tôi nhận ngay ra Lủ. Mặc dù Lủ bây giờ khác hẳn thằng bé Lủ đen nhẻm trèo cây nhanh như con sóc ngày nào.
Lủ cũng rất vui mừng khi gặp lại tôi. Hai chúng tôi ồn ào hỏi thăm nhau. Biết tôi sắp phải đi Lủ cứ tiếc là không mời được tôi vào thăm lại bản Luồng. Tôi hẹn Lủ một dịp khác. Chợt nhớ ra, Lủ vội gỡ hai giò phong lan đang treo trên ghi đông xe máy đưa cho tôi và nói:
- Em tặng anh hai giò phong lan đem về xuôi chơi. Đây đều là các loài phong lan của núi rừng Hà Giang đấy anh ạ!
Tôi cầm hai giò phong lan rừng. Có một giò lan đang nở hoa rất đẹp. Đã bao nhiêu năm qua rồi mà Lủ vẫn nhớ chuyện tôi rất thích hoa phong lan rừng. Tôi bảo Lủ:
- Giò quế lan hương thì mình xin nhận. Còn giò phi điệp tím này thì Lủ tách cho mình xin một nhánh hoặc một mầm thôi. Cả một giò to khủng thế này hàng chục triệu đồng đấy, mình không dám lấy cả đâu?
Lủ gạt đi:
- Em tặng anh... Giá cả, tiền nong bao nhiêu không biết? Anh vào bản Luồng thăm nhà em thì thấy, em đã sưu tầm trồng được một vườn đầy phong lan, hàng mấy trăm giò. Riêng loài lan phi điệp tím này cũng phải đến gần cả trăm giò...
Dung cũng nói:
- Khu vườn của bố mẹ em bây giờ chú Lủ làm giàn trồng phong lan. chú ấy xây một ngôi nhà hai tầng ra sát đường, gần cổng. Ngôi nhà sàn cũ được sơn sửa lại làm nơi chú ấy và khách ngồi chơi, uống trà và ngắm hoa lan khi hết giờ làm việc đấy anh ạ!
Lủ nói tiếp:
- Em bị lây cái sự đam mê sắc đẹp của loài hoa phong lan rừng từ anh đấy. Mấy cây lan kiếm anh ghép trên cây nhãn, cây mít trong vườn nhà em từ ngày ấy vẫn còn sống, phát triển và hằng năm vẫn ra hoa đấy. Em rất quý những bụi hoa lan ngày xưa của các anh để lại...
Tôi ngỡ ngàng nhìn hai chị em Dung. Thời gian đã qua lâu rồi mà họ vẫn không quên những người lính chúng tôi, những người đã sống và lao động vô cùng gian khổ để mở một con đường xuyên qua núi cao, rừng thẳm trên quê hương của họ năm xưa...
(hết) Hà Nội, tháng 6-2019
TB: Truyện ngắn này tôi viết tặng các đồng đội của tôi ở Trung đoàn 246 để cùng nhớ về một thời gian khổ phá đá, mở đường ở miền núi cao, rừng thẳm Hà Giang (Trọng Bảo).

Thứ Năm, 11 tháng 7, 2019

Truyện ngắn RỪNG THẲM (phần 2)

RỪNG THẲM (phần 2)
Truyện ngắn của Trọng Bảo

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang cười, đang ngồi, râu, ngoài trời, thiên nhiên và văn bản

Sau buổi trưa hôm ấy tôi thấy ngại ngùng mỗi lần gặp Dung. Còn Dung thì vẫn vô tư vì không biết đã có chuyện gì xảy ra. Thời gian sau, Dung và thằng Tú thợ mộc có vẻ quấn quýt với nhau. Tôi thầm mừng cho họ nếu nên duyên. Sau đó, do đoạn nền đường gần bản Luồng đã làm xong nên đơn vị chúng tôi di chuyển sâu vào phía rừng già dựng lán trại để thi công tiếp đoạn tiếp theo. Lão Phủng bảo cô Dung thịt gà làm một bữa cơm chia tay tiểu đội chúng tôi. Bữa cơm hôm ấy có cả toán thợ mộc của Tú. Cái chuồng dê đã làm xong lão Phủng lại muốn xẻ gỗ đóng thêm một số đồ mộc trong nhà nữa.
Đến vị trí trú quân mới anh em trong tiểu đội tôi tiến hành làm lán trại để ở tạm vì không gần bản làng nào cả. Tôi quay lại bản Luồng để lấy một số dụng cụ lao động còn gửi lại nhà lão Phủng. Khi tôi đang vừa đi vừa nghển cổ nhìn những cành hoa phong lan nở rực rỡ trên cành cây cao ven lối mòn thì chợt nghe có tiếng chân người chạy đến. Tôi nhận ra là Dung và thằng Tú. Hai người quần áo tả tơi và có vẻ hốt hoảng. Họ vừa chạy vừa ngoảnh lại trông chừng phía sau. Vừa nhác nhìn thấy tôi Dung vội kêu lên:
- Anh Thảo ơi! Cứu chúng em với…
- Có chuyện gì thế?
Tôi vội hỏi. Dung vừa thở vừa nói, giọng đứt quãng:
- Bố… bố… định giết chúng em…
Thằng Tú mặt cũng cắt mặt không còn hột máu lập bập nói:
- Chúng… chúng em yêu nhau… nhưng nhưng ông ấy... ông ấy... không… không… đồng ý…
Hai người nói chả rõ ràng gì nhưng tôi đã hiểu lờ mờ câu chuyện. Tôi cũng không dám hỏi thêm vì có tiếng chân người đang đuổi đến. Tôi vội giục:
- Hai đứa chạy ngay đi…
Dung và thằng Tú chạy đến ngã ba lối mòn. Họ dùng dằng một lúc rồi kéo nhau chạy thục mạng theo lối rẽ vào hướng rừng sâu. Tôi vừa quay lại thì lão Phủng lao đến. Lão vừa chạy vừa nhồi thuốc súng vào khẩu súng kíp. Nhìn thấy tôi lão dừng lại thở hồng hộc và hỏi:
- Bộ đội Thảo! Mày có thấy hai... hai đứa mất dạy ấy chạy theo lối nào không?
Tôi giữ lão Phủng lại hỏi:
- Có chuyện gì thế ông?
Lão Phủng gầm gừ:
- Tao… tao… phải bắn chết hai đứa chúng nó… Mày nhìn thấy chúng nó chạy theo lối nào hả?
- Nhưng đã có chuyện gì xảy ra thế ạ?
Lão Phủng bực bội nói:
- Nó… cái thằng thợ mộc… nó chưa được cái con ma nhà tao công nhận, vậy mà nó dám làm cho cái bụng con gái tao to lên. Nó dám cho cái thằng người vào trong bụng con gái tao… Tao phải bắn chết nó…
- Ông ơi! - Tôi cố tìm cách hoãn binh: - Hai đứa nó thích nhau, yêu nhau thì tốt quá rồi ông ạ!
- Tốt gì mà tốt? Con ma nhà tao đã được ăn cỗ đâu mà nó dám cho cái thằng người nhà nó vào làm tổ trong bụng con gái nhà tao hả?
Tôi bịt miệng cố nhịn cười vì cách nói của lão Phủng. Thấy tôi cứ ấp a ấp úng không trả lời, lão Phủng hỏi lại:
- Hai đứa chúng nó chạy theo lối ra thị trấn Bắc Quang phải không?
Tôi ậm ừ. Lão Phủng nghiến răng:
- Cái thằng thợ mộc láo quá! Nó định đem con gái tao về xuôi đấy! Tao sẽ bắn... bắn...
Nói đoạn, lão liền xách súng chạy đi ngay. Lão lao theo cái lối mòn dẫn ra phía thị trấn Bắc Quang. Tôi thấy hơi yên tâm. lão có đuổi đến mai cũng chả gặp hai đứa. Nhưng tôi vừa đi được mấy bước về phía nhà lão Phủng thì nghe có tiếng súng nổ rất đanh. Tiếng súng vọng vang trong thung lũng làm đàn chim trên cây hoảng sợ bay hất lên bầu trời. Tôi giật nảy mình hốt hoảng nghĩ: “Thôi chết! Lão này bắn hai đứa thật rồi?”. Tôi liền quay lại lao ngay về hướng súng nổ. Vừa chạy, tôi vừa lo hai đứa này đổi ý chạy ra hướng thị trấn Bắc Quang nên đã bị bắn.
Tôi vội chạy theo lối mòn hướng về phía thị trấn. Được một đoạn, tôi gặp lão Phủng đang ngồi phệt ở giữa đường. Tôi hốt hoảng hỏi ngay:
- Ông... ông... bắn chết hai đứa chúng nó rồi à?
Vừa hỏi, tôi vừa nhớn nhác nhìn lên phía trước. Lão Phủng càu nhàu:
- Bắn đâu mà bắn… Tao bị vấp ngã làm súng cướp cò… đạn bay cháy sém cả tóc, suýt nữa thì toi mạng đấy!
Nghe lão Phủng nói như vậy tôi mới yên tâm. Tôi khẽ thở phào nhìn lão Phủng. Lão đang nhăn nhó ngồi ôm bên chân trái bị trẹo. Khẩu súng kíp nằm lăn lóc bên cạnh. Tôi liền đỡ lão đứng lên. Nhìn thấy cái túi đựng thuốc súng và đạn ghém văng ra nằm cạnh lối đi tôi liền dùng chân gạt nhanh xuống cái hố vết chân trâu. Lão Phủng cầm khẩu súng kíp níu tay tôi loạng choạng đứng dậy. Lão ngó xung quanh tìm cái túi đựng thuốc súng nhưng không thấy. Lão bảo:
- Mày tìm giúp cho tao cái túi đựng thuốc súng. Không biết nó rơi chỗ nào? Nhanh lên! Nhất định tao phải đuổi theo hai đứa này bằng được…
Tôi giẫm một chân lên che cái lỗ chân trâu có cái túi thuốc súng và bảo lão Phủng:
- Không thấy! Chắc là ông làm rơi ở đâu mất rồi!
- Thế thì tao đành phải quay về nhà để lấy túi thuốc súng khác thôi?
Tôi và lão Phủng cùng quay về nhà. Về đến nhà, tôi bảo lão có đuổi theo cũng chẳng kịp hai đứa mà trời thì lại sắp tối và sắp mưa to rồi. Lão Phủng tuy còn rất tức giận nhưng đành nghe theo lời tôi. Lão cất khẩu súng kíp và không đi tìm Dung và thằng Tú nữa…
*
Đơn vị chúng tôi tiếp tục tiến sâu hơn vào vùng rừng núi rậm rạp phát tuyến, làm nền đường. Cuộc sống lao động giữa rừng gian khổ, vất vả. Tôi không có điều kiện quay lại bản Luồng nên cũng không biết gì thêm về câu chuyện tình của Dung và Tú nữa. Một lần, tôi bắt gặp lão Phủng đang vác khẩu súng kíp đi săn giữa rừng già. Tôi cố dò hỏi lão ậm ừ không nói. Lão chỉ dặn tôi hôm nào được nghỉ thì về bản Luồng chơi.
Khi nền đường làm xong, đại đội tôi được chuyển sang thi công rải cấp phối mặt đường. Một hôm, đang làm tại đoạn đường gần Vĩnh Tuy thì tôi gặp Dung và thằng Tú đi ngược theo con đường mới mở về hướng bản Luồng. Thằng Tú đeo cái ba lô bộ đội cũ còn Dung thì đang địu một đứa trẻ con trên lưng. Nhận ra tôi cả hai đều vui mừng. Tôi hỏi:
- Hai người đang đi đâu đấy?
- Chúng em về bản Luồng thăm bố ạ!
Dung và Tú cùng trả lời. Tôi hỏi thêm:
- Thời gian vừa rồi hai đứa đi đâu vậy?
Thằng Tú đáp:
- Chúng em chạy vào rừng rồi làm bè theo sông Bạc ra sông Lô, đến lâm trường Vĩnh Hảo thì lên bờ. Ở lâm trường Vĩnh Hảo em có người quen. Bác ấy là cán bộ lâm trường nên xin cho chúng em làm công nhân trồng rừng ở đây. Dung sinh con được gần nửa năm rồi. Hôm nay, chúng em quyết định đưa cháu về thăm ông bà ngoại anh ạ.
Tôi vội gàn:
- Lão Phủng chắc còn đang giận hai đứa lắm, không nên về nhà lúc này đâu, lỡ ra…
Dung quả quyết:
- Chúng em cứ về. Bố em có giận, có đánh mắng gì chúng em sẽ xin chịu hết!
Chắc là Dung và Tú chưa biết chuyện hôm hai đứa chạy trốn lão Phủng đã vác súng đi tìm mấy ngày liền. Tôi vẫn thấy lo lắng dặn thêm:
- Dung nên qua nhà anh trai trước rồi bảo anh ấy đưa về nhà mình nhé?
- Vâng ạ!
Dung và Tú chào tôi để đi tiếp. Tôi cầm bàn tay nhỏ xíu của thằng bé Dung đang địu trên lưng. Thằng bé thật kháu khỉnh. Nó nhoẻn miệng cười với tôi như là đã quen biết từ rất lâu rồi vậy.
Tôi nhìn theo hút Dung và thằng Tú đi hết con dốc trong lòng vẫn cứ thấy vô cùng lo lắng cho hai đứa. Lão Phủng là một người cố chấp, cổ hủ, gia trưởng. Không biết lão ấy có tha thứ cho hai đứa không. Thời gian dài sau tôi không gặp lại Dung và Tú. Hai đứa cũng không có tin tức gì, không nhắn lại gì cho tôi. Tôi dự định hôm nào được nghỉ sẽ bám theo xe chở vật liệu của đơn vị ngược lên Bắc Quang về bản Luồng thăm lão Phủng xem tình hình ra sao. Nhưng rồi cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc rập rình ập đến, kẻ thù phương Bắc sắp tràn sang. Trung đoàn 246 chúng tôi lật cánh sang hướng Cao Bằng tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc…
(hết phần 2) Hà Nội, tháng 6-2019

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2019

Truyện ngắn RỪNG THẲM (phần 1)

RỪNG THẲM (phần 1)
Truyện ngắn của Trọng Bảo
Trong hình ảnh có thể có: núi, bầu trời, ngoài trời và thiên nhiên


Lâu lắm rồi tôi mới có dịp trở về vùng đất Bắc Quang, Hà Giang. Ký ức của một thời lính tráng, một thời trai trẻ lại ùa về. Vùng đất Bắc Quang năm xưa heo hút bây giờ đổi thay nhiều quá. Con đường lên biên giới không còn gập ghềnh như ngày nào nữa. Những quán xá ngày xưa, những người xưa cũ cũng không còn nữa. Chỗ ngã ba Việt Vinh, nơi đơn vị chúng tôi khởi đầu tuyến đường lâm nghiệp ngày nào bây giờ khác thế. Nhà cửa san sát. Tôi cố nhớ nơi mình đã đóng quân trong một cái bản nhỏ ven bờ suối nhưng không hình dung nổi, không tìm nổi. Địa hình đã thay đổi, chắc gì còn những người xưa cũ ở đây…
Giữa lúc tôi đang ngơ ngác bên dòng suối cũ thì có tiếng hỏi:
- Chú định tìm nhà ai ạ?
Một cô gái khoảng ngoài đôi mươi đang xới cỏ trong khu vườn ven đường hỏi. Chắc là cô bé thấy tôi cứ ngơ ngác nhìn quanh. Tôi giật mình đáp:
- Tôi... tôi không tìm nhà ai cả. Hơn bốn mươi năm trước tôi đóng quân làm đường ở đây, giờ đi qua dừng lại ngắm cảnh cũ chút thôi...
- Vâng ạ!
Cô gái nói rồi lại cúi xuống xới cỏ. Có tiếng một người đàn bà hỏi từ trong ngôi nhà hỏi vọng ra:
- Ai hỏi thăm nhà ta hở con?
- Không ạ! Chú ấy là bộ đội ngày xưa đóng quân ở vùng này. Chú ấy đi qua thôi mẹ ạ!
Cô gái trả lời. Người đàn bà luống tuổi từ trong nhà bước ra. Tôi và người đàn bà nhìn nhau. Tôi nhận thấy trên khuôn mặt của người đàn bà luống tuổi có nét gì đó quen quen nhưng chịu không nhận ra là ai. Người đàn bà cũng chăm chú nhìn tôi. Tôi định quay đi thì người đàn bà khẽ thốt lên hỏi:
- Có phải là... anh Thảo không ạ?
Tôi ngạc nhiên nhưng vẫn chưa nhận ra là ai. Người đàn bà tiến ra gần cổng rồi nói tiếp:
- Đúng là anh Thảo rồi... em... em là Dung ở bản Luồng ngày xưa đây... anh không nhận ra à?
- Ô... đúng là cô Dung rồi... nhưng sao bây giờ nhà lại ở đây?
- Nhà em chuyển ra đây lâu rồi...
Cô gái đang xới cỏ vườn cây ăn quả cũng buông cái cuốc chạy ra đứng cạnh mẹ. Dung cầm cánh tay cô gái giới thiệu:
- Con gái út của em đấy!
Lúc này tôi mới nhận thấy cô bé rất giống mẹ hơn bốn mươi năm trước. Mẹ con Dung mời tôi vào nhà. Vừa bước vào trong nhà tôi giật mình nhìn thấy tấm ảnh một người quen đặt trên ban thờ. Thấy tôi cứ chăm chú nhìn bức ảnh, Dung nói vẻ ngậm ngùi:
- Anh ấy mất được gần chục năm nay rồi anh ạ!
- Chú ấy bị bệnh gì thế?
- Anh ấy bị tai nạn khi cứu người bị lũ cuốn giữa rừng sâu anh ạ!
Tôi tiến lại gần ban thờ. Tôi rút một nén nhang. Dung vội tìm đưa cho tôi cái bật lửa. Tôi châm nén nhang cắm vào cái bát hương trên bàn thờ. Khói nhang thơm thơm lan tỏa khắp mấy gian nhà nhỏ.
Trong làn khói sương mờ tỏ chuyện ngày xưa xa ngái với bao ký ức thời trai trẻ bỗng ùa về trong tôi...
*
Ngày ấy, khi mới hành quân lên Hà Giang làm kinh tế đại đội tôi phải ở nhờ trong các nhà dân những bản làng dọc theo tuyến đường lâm nghiệp sẽ mở. Chúng tôi thuộc bộ phận thi công nền đường chịu trách nhiệm phát tuyến, đào đất, phá đá. Khi con đường hình thành thì bàn giao cho đơn vị làm mặt đường đổ đá rải cấp phối. Bộ phận làm cầu cống cũng riêng. Đó là những đơn vị có kỹ thuật cao. Nói tóm lại là cánh lính bộ binh chúng tôi là bọn "ăn no vác nặng, làm những công việc thô sơ vất vả khó nhọc". Nhưng hồi ấy chỉ có vác nặng mà chẳng được ăn no bao giờ. Đoạn nào trên tuyến nếu không có nhà dân thì chúng tôi sẽ làm các lán trại ở tạm giữa rừng để thi công nền đường.
Khi bắt đầu mở tuyến, tiểu đội tôi ở nhờ trong nhà lão Phủng, người dân tộc Tày ở bản Luồng. Bản làng ngày ấy đơn sơ giữa rừng. Những ngôi nhà sàn nhỏ nằm bên bờ suối. Khi không mưa lũ con suối trong veo nhìn thấy cả đá cuội và tôm cá bơi lội dưới đáy. Lão Phủng có ba người con. Anh con lớn đi bộ đội về lấy vợ ở riêng. Ở nhà chỉ còn hai vợ chồng lão và hai người con. Dung là con gái thứ hai và một thằng em đang đi học phổ thông. Dung không thật đẹp nhưng có khuôn mặt dễ coi và thân hình nở nang, cân đối. Lão Phủng trông vẻ cũ kỹ, cục mịch nhưng tính tình rất tốt.
Sau chiến tranh đời sống khó khăn, thiếu thốn. Cánh lính chúng tôi ăn uống kham khổ lại lao động vất vả. Nhiều bữa chỉ có hai lưng bát bo bo hoặc hai nắm mỳ luộc nhỏ hơn nắm tay. Vậy mà ngày ngày vẫn vác choòng, xà beng leo lên vách đá xả núi mở đường. Lão Phủng là một người săn bắn rất giỏi. Thỉnh thoảng bắn được con cầy, con cáo lão đều bảo cả tiểu đội tôi lấy cơm về ăn chung với gia đình. Lão thương bộ đội vất vả. Nghe nói thời trai trẻ lão từng là dân quân vác súng kíp cùng bộ đội đi tiễu phỉ trên cao nguyên Đồng Văn. Lão Phủng nói đã từng quen biết mấy anh bộ đội Trung đoàn 246 ngày ấy khi đi tiễu phỉ. Còn cô Dung ngày ấy cũng đã hai mươi tuổi nhưng vẫn chưa lấy chồng. Con gái dân tộc thiểu số vùng cao hai mươi tuổi vẫn chưa lấy chồng, chưa có người dạm ngõ là muộn rồi. Nghe nói chuyện tình duyên của cô Dung có gì đó trục trặc. Dung cũng rất hay giúp đỡ bộ đội chúng tôi những việc như nấu cơm, đun nước hay khâu vá quần áo. Cậu em út của Dung tên là Lủ rất nhanh nhẹn, leo trèo cây như con sóc. Tôi rất thích cậu bé này vì thỉnh thoảng ngày nghỉ Lủ hay dẫn tôi vào rừng lấy phong lan. Những giò phong lan rất đẹp tít trên ngọn cây cao tôi thích là Lủ leo lên lấy xuống ngay một cách dễ dàng. Quan hệ giữa tiểu đội tôi và gia đình lão Phủng rất tốt. Nhưng tôi cũng rất lo vì mấy thằng lúc nào cũng cười đùa với cô Dung. Lính tráng lao động vất vả, mùa hè về quần đùi áo lót nằm lăn lóc ở sàn nhà. Nhà lại có con gái lớn nên tôi rất lo. Lỡ xảy ra chuyện gì thì gay go, phức tạp lắm.
Một hôm lão Phủng dẫn về nhà một tốp thợ mộc là người dưới xuôi. Lão bảo với chúng tôi:
- Tao định làm một cái chuồng để nuôi dê phía sau nhà. Thêm ba người ở nữa, nhà chật, bộ đội chúng mày thông cảm nhé?
Tôi bảo lão:
- Ông cứ yên tâm! Cánh lính chúng cháu nằm đâu chả được. Nếu chật quá chúng cháu sẽ làm sạp nứa ngủ dưới gầm sàn ông ạ!
- Bộ đội chịu khó một chút nhé! Cánh thợ mộc này chỉ làm độ mươi ngày là xong cái chuồng dê ngay thôi…
- Vâng ạ!
Thế là ngôi nhà sàn nhỏ của lão Phủng có thêm ba người. Ông thợ cả là người đứng tuổi, một anh hơn tuổi và một cậu sàn sàn tuổi chúng tôi. Cậu này tên là Tú, thợ mới học việc. Toán thợ mộc chặt cây, đục đẽo dựng cái chuồng dê phía sau nhà, sát chân núi đá. Buổi sáng, chúng tôi vác cuốc xẻng ra công trường thì toán thợ mộc cũng mang cưa đục đi ra phía chân núi. Tối về, chúng tôi mới gặp nhau trên nhà sàn cùng ngồi uống nước chè và trò chuyện. Hóa ra tốp thợ mộc này ở huyện Yên Lạc, cùng quê Vĩnh Phúc với tôi.
Khi đang làm đường thì chúng tôi lại nhận được lệnh chuẩn bị một đợt huấn luyện quân sự. Một buổi trưa, tôi đang lúi húi ở bờ suối đẽo một quả lựu đạn gỗ thì Tú mò ra xem. Tú bảo:
- Anh để em làm cho!
- Mày cũng biết đẽo lựu đạn gỗ à?
- Có chứ! Ở nhà em cũng là dân quân mà.
- Thế à?
Tú giúp tôi đẽo mấy quả lựu đạn gỗ. Nó có tay nghề mộc nên làm rất nhanh và đẹp, lại biết chọn loại gỗ để quả lựu đạn đủ trọng lượng.
Giúp tôi làm xong mấy quả lựu đạn Tú về trước vì đến giờ làm buổi chiều, ông thợ cả đang réo gọi. Tôi để mấy quả lựu đạn trên hòn đá bên bờ rồi lội xuống suối. Tôi lội ngược dòng nước mát lạnh lên phía trên. Nước suối chảy rào rào. Phía trên vách đá có một bụi phong lan hoa đang nở rất đẹp. Tôi vừa bám vào vách đá rướn người định gỡ bụi phong lan thì nghe có tiếng ai khỏa nước ở bên kia gộp đá. Tôi vội nhìn sang. Tôi nhận ra đó chính là Dung. Dung đang quay lưng về phía tôi. Tôi hơi hoảng vì nhận ra Dung đang khỏa thân giữa làn nước suối trong veo. Khi tôi định tụt xuống suối để chuồi người xuôi dòng nước lui về phía sau thì Dung quay người lại. Tôi vội ép sát người vào lùm cây rậm rạp lòa xòa bên bờ suối. May mà Dung không nhìn thấy tôi. Cô đang mải vớt nước xoa xoa lên khuôn ngực nở nang căng tròn của mình. Lần đầu tiên tôi được nhìn thấy khuôn ngực tuyệt đẹp của một người con gái giữa chốn rừng sâu núi thẳm thế này… Khi Dung vừa quay đi tôi vội tụt ngay xuống dòng suối toài về phía sau. Tôi bơi xuống tít phía dưới hạ lưu bỏ cả hai quả lựu đạn gỗ ở mỏm đá phía trên gần nhà, đến tối mới dám mò ra lấy về...
(hết phần 1) Hà Nội, tháng 6-2019

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2019

Truyện ngắn BÃI GIỮA (phần 2)

BÃI GIỮA (phần 2) 
Truyện ngắn của Trọng Bảo

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, núi, bầu trời, ngoài trời, thiên nhiên và nước

4- Thư phải bơi chiếc thuyền thúng ra bãi Giữa vì dải nước phía làng Phù Liễn rất sâu và chảy mạnh. Anh ra rất sớm, khi trời còn chưa tối hẳn để chờ Ngọc. Khi vừa nhác thấy bóng Ngọc rẽ xuống bến sông Thư đã lội ào sang đón. Anh giơ tay nắm tay Ngọc dắt cô lội qua luồng nước cạn. Đây là lần đầu tiên anh nắm tay Ngọc. Bàn tay cô gái nhỏ nhắn và rất ấm.
Hai người lội ra phía bãi Giữa. Trời đã tối. Ánh đèn điện từ thị trấn không thể sáng tới bãi sông, chỉ có ánh trăng đang dần dần soi tỏ trên mặt nước. Bãi cát phía hạ lưu dưới ánh trăng thật đẹp. Những hạt cát li ti phán xạ ánh sáng tạo nên những sắc màu long lanh. Gió mùa thu mơn man mát rượi.
Ngọc giằng tay mình ra khỏi tay Thư tung tăng chạy lên bãi cát. Thư chạy theo cô. Hai người chạy khắp bãi cát vẻ thích thú. Đoạn họ ngồi xuống giữa bãi ngắm trăng. Dòng sông phía trước họ chảy loang loáng. Sóng nước dập dềnh. Gió đông năm thổi ngược lên là mái tóc của Ngọc tung bay. Những sợi tóc thơm mùi bồ kết mơn man trên mặt Thư. Anh thích thú khi những sợ tóc trên mái tóc dài của Ngọc cứ vương trên mặt, trên cổ mình tạo nên cái cảm giác hơi nhồn nhột.
Họ ngồi bên nhau mãi như thế. Những câu chuyện rời rạc chẳng ăn nhập gì nhưng như không bao giờ thấy chán. Họ cùng nói về một ước mơ, một ngày mai. Thư kể về một miền rừng Hà Giang có những triền núi đá lô nhô, có con sông Nho Quế sâu thăm thẳm chảy dưới khe núi đá. Anh nói về những chuyến vượt rừng sâu, núi thẳm khảo sát địa chất, về những dòng suối trong xanh hai bên bờ có những chùm hoa phong lan rừng rực rỡ, rất đẹp. Còn Ngọc thì mơ về một ngày mai trở thành cô giáo đứng trên bục giảng nhìn xuống đàn em nhỏ mắt sáng long lanh.
Có lẽ trời đã về khuya. Những tiếng ồn ào hai bên bờ sông lắng xuống. Hai người vẫn chưa muốn về. Trăng đã lên cao càng sáng. Ánh trăng trải mềm trên doi cát trắng. Ánh trăng dát bạc dọc hai bờ sông. Trong cái tĩnh lặng của đêm hai người như nghe rõ từng nhịp thở của nhau. Chợt có một cơn gió từ mặt sông thổi hất lên. Ngọc hơi rùng mình co hai vai lại. Thư hỏi:
- Em lạnh à? Hay ta về nhé!
- Chưa… em chưa muốn về…
Ngọc khe khẽ đáp và ngồi nhích lại sát bên Thư. Gió tung mái tóc xoã rối tung lên mặt Thư. Ngọc vội đưa tay vuốt mái tóc. Thư cũng giơ tay lên đỡ mái tóc dày của Ngọc cho khỏi rối. Hai bàn tay họ gặp nhau. Hai bàn tay run rẩy rồi xiết chặt lấy nhau. Thư vòng tay ôm lấy đôi vai nhỏ nhắn và mềm mại của Ngọc. Rồi chẳng hiểu ai làm gì trước, họ ghì chặt lấy nhau, rối rít trao nhau nụ hôn đầu tiên. Và rồi hối hả, cuống cuồng. Thư lúng túng lập cập mãi mới tháo được cái móc phía sau tấm lưng trần của Ngọc. Họ cởi và ném tất cả các thứ đang mặc trên người ra xung quanh. Vội vã. Gấp gáp. Thư run cầm cập khi lần đầu trong đời đặt tay lên bộ ngực tròn căng thanh tân của người con gái. Và, cũng là lần đầu tiên anh nhìn thấy và chạm vào những nơi bí mật nhất của người con gái. Hai người quấn chặt vào nhau lăn lộn trên bãi cát trắng. Da thịt họ cũng trắng và mịn màng như cát trắng và trong trắng như ánh trăng trong. Khi đã mệt nhoài rồi họ vẫn không muốn rời nhau. Họ ôm nhau thiếp đi một lát trên bãi cát rơi đầy ánh trăng. Cả hai chỉ thực sự chìm vào giấc ngủ sâu sau khi đã thâm nhập vào nhau thêm một lần nữa.
5- Ngọc chợt giật mình tỉnh giấc. Cô hét lên hốt hoảng khi có một con gì đó cựa quậy ngay bên cạnh mình. Thư cũng ngồi bật dậy. Cả hai vô cùng bất ngờ và lo lắng vì nước sông đã dâng cao tràn khắp bãi cát. Một con cá chép to đang giãy đành đạch trườn qua chỗ nước ngập ngay cạnh nơi hai người vừa nằm lúc nãy. Ngọc càng hốt hoảng và cuống cuồng hơn khi không tìm thấy quần áo của mình đâu. Nước dâng lên rất nhanh đã cuốn trôi đi hết quần áo mà họ vứt ra xung quanh. Dòng sông hiền hoà chảy như dát bạc dưới ánh trăng lúc chập tối đã biến mất. Một dòng lũ lớn cuồn cuộn đang đổ về nhấn chìm dần bãi Giữa. Mấy ngày hôm nay mưa to ở đầu nguồn. Nhà máy thuỷ điện đã mở hết các cửa xả đáy thoát lũ.
Nước vẫn tiếp tục dâng lên rất nhanh. Thư vội kéo Ngọc chạy ngược lên phía đầu bãi, nơi có chiếc lều canh hoa màu. Trên bãi phù sa nước cũng đã ngập đến đầu gối. Chiếc thuyền thúng Thư kéo lên để cạnh chiếc lều cũng đã bị trôi mất. Nửa sông phía thị trấn nước chảy rất xiết, Ngọc không thể nào lội về được nữa. Với lại, trời sắp sáng rồi, cô không còn một mảnh vải trên người thế này thì cũng không thể nào mà về được nữa. Thư vốn là dân sông nước, giỏi bơi lội. Nhánh sông phía làng Phù Liễn nước càng chảy xiết hơn. Anh có thể bơi một mình vượt qua dòng nước xiết để về làng. Nhưng nếu dìu Ngọc cùng bơi theo thì khó có thể mà vào được đến bờ.
Anh cũng đã cạn kiệt sức lực sau một đêm cùng Ngọc trên bãi cát. Ngọc nói với Thư, giọng cô như sắp khóc:
- Anh bơi vào bờ đi… cứ mặc em…
- Không…. Anh sẽ dìu em cùng bơi về làng với anh…
- Em không theo anh đâu… không có một thứ gì mặc trên người thế này…
- Mặc kệ! Bây giờ cốt làm sao vào được bờ đã… Nhanh lên em kẻo không kịp đâu…
- Không được anh ơi… - Ngọc bật khóc: - Em không biết bơi. Cứ để em ở lại. Nếu cố đưa em vào bờ thì cả hai đều sẽ chết anh ơi…
Ngọc kiên quyết:
- Chết thì cùng chết… Cố lên em… nước đã ngập hết bãi bồi, sắp chìm lút đầu người đến nơi rồi.
Thư nói và nhất định lôi tay Ngọc cùng nhoài ra phía mép bãi bồi. Dòng nước sôi ùng ục, rú lên lồng lộn như một con quái vật lao ra hướng biển. Nước chảy rất xiết. Những cành cây bị cuốn trôi vùn vụt lao vào làm hai người ngã dúi dụi. Thư cố dìu Ngọc nhưng cô cứ bị xô ngã vì dòng nước chảy quá mạnh. Đến chỗ nước ngập sâu cô vùng vẫy tay chân đập loạn xạ mà người cứ chìm xuống. Ngọc cố giằng thoát ra rướn trằn người trở lại và đẩy Thư bơi đi. Nhưng Thư không chịu. Anh nhao người bơi quay lại ôm vòng tay qua nách dìu Ngọc. Hai người cùng nhoài ra giữa dòng nước chảy xiết hướng về bờ sông phía làng Phù Liễn…
6- Chiều hôm sau, người dân một làng chài rất xa mãi phía hạ lưu con sông Cái kéo lưới vớt được hai xác chết. Đó là một đôi trai gái còn rất trẻ. Cả hai không mặc gì trên người. Đôi trai gái ấy ôm chặt lấy nhau không thể nào mà gỡ ra được. Họ đành đưa hai cái xác ôm chặt vào nhau ấy lên bờ, đắp chiếu, thắp hương, chờ người nhà đến nhận. Những người thân của chàng trai và cô gái khóc lóc, khấn bái rồi gỡ mãi mới tách được hai người rời ra khỏi nhau. Họ tắm rửa, mặc quần áo cho hai người rồi đưa về hai phía bờ con sông Cái chôn cất.
Sau trận lũ hoang bất ngờ đêm ấy con sông Cái trở lại hiền hoà. Nước sông vơi dần và trong xanh. Nhưng cái bãi bồi giữa sông phía trước làng Phù Liễn thì biến mất như chưa bao giờ tồn tại. Giữa con sông Cái, nơi bãi bồi ngày nào nước sâu và chảy rất xiết tạo nên những vòng xoáy lớn lúc nào cũng cuồn cuộn như muốn nhấn chìm bất cứ thứ gì trôi qua. Đến mùa sông thật cạn thì cũng không thể lội qua được như trước nữa...
(Hết) Hà Nội, tháng 4-2012
TRỌNG BẢO