Thứ Bảy, 16 tháng 2, 2019

Ghi chép CHÚNG TÔI Ở BIÊN CƯƠNG PHÍA BẮC - phần 4

CHÚNG TÔI Ở BIÊN CƯƠNG PHÍA BẮC - phần 4
Ghi chép của Trọng Bảo 


4-Đêm trước cuộc chiến tranh

Vị trí chỉ huy và cơ quan tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 3 tiếp tục dâng lên phía trước. Chúng tôi chuyển lên đóng quân ở bản Cốc Vường, ngay phía sau các điểm chốt tiền tiêu cây đa thứ nhất và chốt cây đa thứ hai của Đại đội 11, cách đường biên giới và cửa khẩu Bình Mãng độ nửa ki-lô-mét đường chim bay. Bản Cốc Vường còn rất ít người dân ở lại. Hầu hết trẻ em, phụ nữ, người già đã sơ tán về phía sau hoặc lánh lên núi cao, chỉ còn vài chiến sĩ dân quân ở lại làm nhiệm vụ bảo vệ bản làng, trông coi nhà cửa và hỗ trợ bộ đội tuần tra canh gác, vận chuyển đạn dược.
Tiểu đội vô tuyến của tôi ở trên căn nhà sàn nhô ra sát con đường lên cửa khẩu. Đứng trên sàn nhà có thế quan sát các điểm chốt của Đại đội 11 và thấy rõ cả đài quan sát của bọn Trung Quốc ở mỏm núi đá phía bên phải trên đầu điểm chốt cây đa thứ nhất của Đại đội 11. Phía bên trái là bản Kéo Nghìn do Đại đội 9 phòng ngự. Trên dãy núi đá là trận địa hỏa lực của Đại đội 12 gồm các khẩu đội 12ly7 và cối 82 bố trí tại Lũng Mật, Lũng Vỉ. Đại đội 10 ở phía sau trấn giữ con đường từ ngã ba Đôn Chương lên thị trấn Sóc Giang (huyện Hà Quảng). Trận địa phòng ngự của Đại đội 10 là mỏm núi đất nằm ngay dưới chân cao điểm 505. Đây là một điểm cao có tầm khống chế toàn bộ thị trấn Sóc Giang và xã Sóc Hà. Cao điểm 505 nằm trên dãy núi đất cây cối rậm rạp chạy song song với dãy núi đá xuôi về phía Mỏ Sắt, Thông Nông.
Do phải di chuyển vị trí đóng quân lên bản Cốc Vường nên tiểu đội vô tuyến sóng cực ngắn của tôi đều có mặt đầy đủ ở cơ quan tiểu đoàn bộ. Các tổ đài đi tăng cường đảm bảo thông tin cho chỉ huy các đại đội đều rút về Cốc Vường. Lâu lâu rồi chúng tôi mới lại có một bữa ăn có mặt đầy đủ toàn tiểu đội thế này. Bữa cơm tối có một chút chất tươi. Cơ quan tiểu đoàn bộ thịt con lợn lấy thực phẩm nên mỗi người được vài miếng thịt, miếng lòng dồi. Vừa ăn, tôi vừa tranh thủ phổ biến tình hình, động viên anh em và phân công công việc ngày mai cho các bộ phận. Ngày mai là chủ nhật, trừ bộ phận trực đảm bảo thông tin sẵn sàng chiến đấu số anh em còn lại của tiểu đội sẽ đi làm đất trồng ngô. Chúng tôi đã được dân bản cho mượn một vạt đất gần phía hang Ma Gà để tổ chức tăng gia sản xuất. Mùa xuân đang tới. Mưa xuân tạo không khí ẩm ướt cho một vùng đất đai khô hạn. Cây cối đang lên chồi nảy lộc, cũng là mùa cày cuốc gieo trồng trên vùng cao này. Vừa nghe tôi phổ biến công việc xong thằng Châu liền hỏi luôn:
- Đánh nhau đến nơi rồi mà vẫn đi trồng ngô hả anh?
- Phải trồng để lấy lương thực chứ! Khi nào đánh nhau hẵng hay...
Nghe tôi đáp anh em ồn ào. Tiểu đội phó Vũ Văn Tự nói:
- Khu đất sau bản ấy rất màu mỡ, trồng ngô chắc sẽ tốt lắm đấy!
Tôi nói thêm:
- Ăn xong mọi người tranh thủ vào các nhà dân trong bản còn có người ở lại mượn cuốc xẻng để mai đi làm đất trồng ngô. Hạt giống tiểu đoàn sẽ cung cấp rõ chưa?
- Rõ... rõ...
Mọi người đáp và nhanh chóng thu dọn xoong nồi, bát đũa. Mấy anh em khác thì tranh thủ đi mượn dụng cụ lao động. Tôi rút cuốn sổ ghi chép ra nhưng chưa kịp viết thì tiểu đội trưởng truyền đạt Nguyễn Văn Đam đến. Tôi và Đam ngồi nói chuyện với nhau. Đam bảo:
- Tao có linh cảm là chiến tranh sắp xảy ra mày ạ!
- Thì… chắc chắn thế nào chiến tranh cũng sẽ xảy ra thôi. Tình hình này chả sớm thì muộn…
Nghe tôi nói vậy Đam có vẻ trầm ngâm rồi nói:
- Biết bao giờ chiến tranh mới kết thúc để bọn mình về tiếp tục ôn thi vào đại học nhỉ?
- Cũng chả biết liệu bọn mình có còn cơ hội để đi học đại học nữa hay không? Chiến tranh không xảy ra nhưng cứ nhùng nhằng mãi thế này cũng khó mà ra quân được…. À… mày vẫn còn mang theo mấy cuốn sách giáo khoa để ôn thi đại học phải không?
Đam gật đầu. Tôi nhăn mặt bảo:
- Tình hình thế này cũng đã đến lúc mày vứt mẹ mấy cuốn sách ấy đi cho nhẹ lúc hành quân, để đeo thêm mấy băng đạn, vài cân gạo. Lúc nào hết chiến tranh chúng ta tính sau!
Đam im lặng không nói gì. Nó xách khẩu AK đứng dậy bảo:
- Thôi! Tao về đây, sắp đến phiên đổi gác rồi!
Tôi nhìn theo thằng Đam tụt xuống cầu thang. Trông nó gầy gò nhỏ bé. Khi thằng Đam đã lẫn vào bóng đêm rồi tôi vẫn chưa hết suy nghĩ về nó. Tôi và Đam cùng quê Lập Thạch-Vĩnh Phúc, cùng nhập ngũ ngày 25-2-1975. Hôm lên huyện tập trung để dự lễ giao nhận quân tôi chỉ có một bộ quần áo mặc trên người và cái túi đựng cuốn sổ ghi lưu bút của bạn bè. Trong khi đó thằng Đam đeo một cái bọc to kềnh càng sau lưng. Tôi hỏi:
- Mày mang theo đồ đạc gì mà nhiều thế?
- Tao mang theo sách vở để lúc nào rỗi thì học thêm. Hoàn thành nghĩa vụ trở về tao lại thi vào đại học.
- Mày viển vông quá! Đang chiến tranh thế này biết bao giờ mới trở về đi học được?
- Chiến tranh rồi cũng phải kết thúc chứ!
- Nhưng hành quân súng đạn, gạo củi nặng bỏ mẹ mày còn đeo thêm sách vở thế nào được.
- Tao sẽ cố...
- Thôi mặc xác mày!
Nhận quân trang xong, được cấp thêm bảy ki-lô-gam gạo nữa nên ba lô của chúng tôi căng phồng. Tôi cứ tưởng là sẽ leo ngay lên ô tô rầm rập phóng ra mặt trận ngay. Nhưng không, chúng tôi được biên chế vào một đơn vị thuộc tỉnh đội. Và việc đầu tiên là hành quân bộ vượt sông Lô sang huyện Lâm Thao huấn luyện. Đoạn đường hơn năm mươi cây số không xa, nhưng lần đầu tiên cuốc bộ lại không quen với đôi dép cao su mới phát nên chân tôi chầy chật rớm máu. Tôi để ý thấy thằng Đam vẫn lặng lẽ bước đi phía trước. Trông nó vóc dáng đã bé nhỏ nên như bị cái ba lô đè gập người xuống. Tôi nghĩ: "Cứ đà này thì qua phà nó ném bọc sách vở cho trôi sông luôn!".
Nhưng Đam vẫn mang được bọc sách vở về đến đơn vị. Suốt thời gian huấn luyện chiến sĩ mới lúc nào được nghỉ tôi thường thấy Đam chúi đầu vào mấy cuốn sách. Mặc cho tôi và mấy thằng cùng tiểu đội khích bác nhưng Đam vẫn bỏ ngoài tai. Nhiều lần gặp tôi nó khoe vừa giải được một bài toán khó trong tuyển tập đề thi đại học. Tôi bảo:
- Biết bao giờ mới được ra quân mà mày học làm gì cho tốn công tốn sức?
- Thì rồi cũng phải ra quân chứ. Chiến tranh chống Mỹ kết thúc rồi họ sẽ cho tụi mình về thôi!
Nhưng chúng tôi không được xuất ngũ như Đam nói. Đơn vị chúng tôi nhận lệnh hành quân lên Hà Giang làm kinh tế. Chúng tôi nhận nhiệm vụ mở con đường lâm nghiệp giữa rừng sâu. Đó là những ngày gian khổ nhất của cuộc đời chiến sĩ chúng tôi. Sống giữa rừng sâu ăn uống thiếu thốn làm việc vất vả. Tôi và Đam mỗi người về một đơn vị khác nhau. Hôm đi công tác qua Tiểu đoàn 1 tạt vào thăm Đam tôi vẫn thấy trên giá ba lô chỗ nó nằm những cuốn sách ôn thi địa học đã sờn gáy. Thì ra, nó vẫn không quên việc học tập. Hình như đối với nó học là một niềm vui hy vọng của cuộc sống.
Niềm hy vọng vào đại học của thằng Đam lại không thể thực hiện được khi chiến tranh biên giới đang có nguy cơ nổ ra bất cứ lúc nào. Tôi còn nhớ bữa còn ở bản Nà Liền, một buổi tối, tôi đang nằm nghỉ sau một ngày đào hầm xây dựng trận địa thì thằng Đam ở đâu về đưa cho tôi hơn chục miếng bìa cứng có những ký hiệu bằng chữ và số được để trong túi giấy bóng kính cẩn thận. Nó bảo:
- Đây là mã số của từng người trong tiểu đội của ông. Nhớ dặn mọi người luôn luôn để trong túi ngực phòng khi...
Nghe Đam nói tôi hiểu. Những tấm bìa này ghi mã số của từng người để khi ai hy sinh thì chôn theo sau này còn biết danh tính liệt sĩ. (Nếu tôi nhớ không nhầm thì mã số của tôi ngày ấy là JA-301).
Hôm ấy, sau khi đưa cho tôi những miếng bìa ghi mã số để đánh dấu mộ chí khi cần thiết xong thằng Đam bỗng thần mặt ra một lúc rồi hỏi:
- Không biết sau trận này mình có được ra quân về đi học tiếp không nhỉ?
- Chắc chắn rồi! Mày cứ yên tâm...
Nói vậy nhưng tôi cũng không tin ở lời mình lắm. Đam cũng lặng lẽ không nói gì thêm. Hai đứa cùng nhìn ra ngoài trời. Ánh trăng mờ nhạt trong hơi sương lạnh lẽo. Rừng núi âm u. Bóng ma chiến tranh lẩn khuất ở đâu đó phía bên kia biên giới. Buổi tối hôm nay nghe thằng Đam nhắc lại chuyện học hành tôi thấy thương nó quá. Tôi tự nhủ tối ngày mai sẽ sang tâm sự, động viên nó. Tôi có ngờ đâu chỉ mấy tiếng sau thằng Đam đã đem theo ước mơ học hành của nó đi vào lòng đất biên cương.
Đêm đã về khuya. Anh em trong tiểu đội đã ngủ yên. Mấy người đi đổi gác. Tôi mở cuốn sổ nhỏ ra soi đèn pin ghi chép tóm tắt tình hình trong ngày. Khi tôi vừa ngả người xuống sàn nhà định chợp mắt một lát thì trung đội trưởng Phạm Hoa Mùi chạy đến gọi tôi dậy ra lệnh gấp:
- Triển khai ngay các tổ đài xuống các đơn vị! Khẩn trương lên. Đúng 12 giờ đêm phải thông mạng liên lạc vô tuyến điện. Rõ chưa?
Tôi hỏi lại:
- Lại báo động kiểm tra phương án sẵn sàng chiến đấu à?
- Kiểm tra gì? Mệnh lệnh chiến đấu thật đấy… - Mùi hạ giọng nói tiếp: - Trinh sát vừa báo cáo về, bọn Trung Quốc đã cắt phá hàng chục mét rào dây thép gai của ta trên tuyến biên giới chỗ cửa khẩu Bình Mãng và xua đuổi gần chục con trâu sang đất ta để phát hiện bãi mìn rồi! Rất có khả năng bọn giặc sẽ tấn công chúng ta đêm nay đấy… Ông cho triển khai mạng liên lạc vô tuyến điện thật khẩn trương nhé!
- Rõ rồi! Trung đội trưởng cứ yên tâm!
Tôi lập tức gọi anh em trong tiểu đội dậy giao nhiệm vụ đi ngay các đại đội. Đã có phương án sẵn sàng nên các tổ đài lập tức lên đường. Tiểu đội phó Tự và Hoàng Quy xuống Đại đội 10, Châu và Phủng lên Đại đội 11, Đình và Minh lên Đại đội 12 hỏa lực trên đỉnh núi đá. Kếch và Minh sang Đại đội 9. Tại sở chỉ huy tiểu đoàn chỉ còn tôi và Hoàng Văn Mông. Gần 12 giờ đêm, các tổ đài đã gọi về báo cáo thông mạng liên lạc. Tôi lo nhất là Đình và Minh đêm tối phải leo lên dốc lên núi cao. May mà người và máy móc, vũ khí đều an toàn. Tôi dặn dò các tổ đài phải luôn đảm bảo canh trực, kiên quyết giữ vững thông tin liên lạc phục vụ chỉ huy chiến đấu. Đoạn, tôi chạy đi báo cáo tình hình với trung đội trưởng và chỉ huy tiểu đoàn. Xong xuôi thì đã hơn một giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979. Tôi ngả lưng xuống sàn kéo chăn đắp cho đỡ lạnh rồi ngủ thiếp đi…
Đó là đêm trước của cuộc chiến tranh. Bởi vì chỉ hơn một tiếng sau, quân Trung Quốc bắt đầu nổ súng tấn công sang xâm lược nước ta…
(còn nữa) Hà Nội, tháng 2-2019

Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2019

Ghi chép CHÚNG TÔI Ở BIÊN CƯƠNG PHÍA BẮC - phần 3

CHÚNG TÔI Ở BIÊN CƯƠNG PHÍA BẮC - phần 3 
Ghi chép của Trọng Bảo

3-Sợi dây đàn sắp đứt
Tình hình mỗi ngày một thêm căng thẳng. Sắp đến Tết âm lịch nhưng trời còn rét lắm. Cái rét biên thùy cắt thịt da. Tiểu đoàn chúng tôi tổ chức đón tết cho bộ đội. Bánh chưng đang gói đã có lệnh báo động lên trận địa. Sở chỉ huy tiền phương của tiểu đoàn rời khỏi bản Nà Liền vào ở trong hang đá đối diện với thị trấn Sóc Giang, nằm bên trái cánh đồng kéo dài từ cửa khẩu Bình Mãng xuống Quý Quân. Hang rất nhiều ngõ ngách và sâu thăm thẳm. Gần cửa hang có một khoảng trống rộng nhũ đá rất đẹp. Chúng tôi dùng dây thông tin kéo điện từ thị trấn Sóc Giang vượt qua cánh đồng vào hang thắp sáng. Khi sinh hoạt toàn cơ quan tiểu đoàn bộ, chúng tôi ngồi trên các gộp đá, cạnh các nhũ đá để nghe quán triệt nhiệm vụ. Trong ánh đèn điện lung linh trông chẳng khác gì các tượng phật đang ngồi trên đài sen.
Phía trước cửa hang đá sở chỉ huy của Tiểu đoàn 3 là một con suối nhỏ chảy xuôi về phía bản Nà Liền. Chúng tôi dọn dẹp biến dòng suối thành một chiến hào cơ động để đi lại mỗi khi về bản Nà Liền ăn cơm hay lấy đạn, lương thực. Sau tết âm lịch xảy ra một việc nghiêm trọng. Bọn Trung Quốc bất ngờ nổ súng vào lực lượng tuần tra biên giới của ta tại khu vực cột mốc 115. Hai chiến sĩ trinh sát hy sinh, một đồng chí bị thương. Việc ứng cứu, đưa các đồng chí hy sinh và bị thương ra rất khó khăn vì địa hình khu vực này bọn địch có tầm quan sát rộng, lại có các điểm cao sát biên giới khống chế cả khu vực.
Không khí tang thương chết chóc bao trùm khắp các đơn vị và các bản làng khu vực thị trấn Sóc Giang và xã Sóc Hà. Đến đêm ta mới đưa được xác các đồng chí trong tổ tuần tra bị hy sinh và đồng chí bị thương về phía sau. Lễ truy điệu cho các đồng chí hy sinh được tiến hành ngay sau đó trong không khí ảm đạm. Tôi nhìn trong ánh mắt của những người lính, người dân không thấy sự sợ hãi, chỉ thấy ánh lên nỗi đau thương, sự căm thù và chút lo lắng. Trong thời điểm này chúng tôi hầu như ai cũng đều lo lắng. Chúng tôi lo không giữ nổi trận địa trước “biển người” của bọn xâm lược. Nhân dân, thanh niên cũng không còn kéo lên đường biên củng cố hàng rào nữa. Chuyện ném đá, đánh nhau bằng gậy gộc chấm dứt, chuẩn bị cho một cuộc đấu súng thực sự. Trạm kiểm soát của công an vũ trang cửa khẩu Bình Mãng đã rút hết lực lượng về phía sau. Nhân dân các bản gần đường biên được yêu cầu đi sơ tán hết. Người dân gồng gánh đồ đạc đi xuôi về phía sau, bộ đội vác súng đạn ngược lên phía trước. Không khí chiến tranh đã thực sự nóng lên từng ngày. Tình hình căng thẳng như một sợi dây đàn tăng quá cỡ sắp đứt phựt. Cánh lính chúng tôi không còn dám đi lại lung tung nữa. Mỗi lần có nhiệm vụ lên sát đường biên phải hết sức thận trọng, đi dưới chiến hào, trong khe núi đá hay dưới lòng suối tránh tầm quan sát trên các điểm cao của bọn giặc.
Bọn Tàu vẫn không ngừng khiêu khích, bắn súng sang, phá hoại các tuyến rào phòng thủ của chúng ta. Tuy vậy, do nhiệm vụ chúng tôi vẫn thường xuyên có mặt trên tuyến đường biên giới.
Bản Nà Sác nằm sát đường biên nên khi tình hình căng thẳng, nhiều nhà dân đã đi sơ tán. Lúc dừng chuẩn bị bữa trưa, chúng tôi phải vào một nhà ở cách biệt tận trong hõm núi mới có người còn ở lại để nhờ nấu cơm. Nhà chỉ có hai cô gái. Cô chị tên là Kim chưa đầy hai mươi, cô em tên là Ngân mới 17 tuổi. Trung đội trưởng Phạm Hoa Mùi chắc đã biết rõ về gia đình này. Anh ra hiệu cho tôi không được hỏi thăm gia cảnh của họ. Hai chị em giành việc nấu cơm giúp chúng tôi. Tôi gỡ nắp ba lô đưa cho họ bao gạo và túi thức ăn gồm hộp thịt và bó rau.
Bữa cơm dọn ra, cơm gạo mới thơm phức, lại có cả thịt gà nữa. Hai chị em cùng ăn với chúng tôi. Họ ngồi ở đầu nồi xới cơm. Quả là hai cô gái rất đẹp. Con gái Tày đã đẹp lại thường có nước da rất trắng và đôi mắt sáng long lanh như ngọc. Suốt bữa, chị em Kim, Ngân ăn rất ít, họ lo tiếp thức ăn cho chúng tôi. Chúng tôi vui vẻ nói chuyện. Nhưng tôi vẫn nhận ra nét mặt, nhất là trong đôi mắt của hai chị em họ phảng phất ẩn chứa một nỗi buồn sâu thẳm.
Ăn cơm xong, chúng tôi lại tiếp tục lên đường.
Hai chị em Kim, Ngân khoác ba lô của chúng tôi tiễn ra tận đầu dốc. Nhận chiếc ba lô của mình từ tay bé Ngân tôi nhận thấy bao gạo buộc tên nắp ba lô vẫn còn nguyên.
Dọc đường, Mùi mới kể lại cho tôi nghe câu chuyện về hai chị em họ. Đó là một gia đình có những khoảng thời gian tràn ngập hạnh phúc. Nhà họ ngày xưa ở giữa bản, trâu ngựa, lợn gà đầy sân, thóc lúa đầy sàn. Hai cô con gái càng lớn, càng xinh đẹp. Đêm đêm bóng trai bản rập rình ngoài ngõ. Chẳng phải bỏ bùa yêu mà mãi tận những bản xa cũng có lũ con trai kéo đến thổi kèn lá gọi bạn thâu đêm ngoài bờ rào. Ông bố của hai nàng phải đốt đuốc, gõ ống bương lốp cốp để xua bọn con trai si tình. Ông muốn để hai con học hành đến nơi, đến chốn.
Nhưng rồi tai hoạ đổ xuống đầu họ. Sau một lần khám bệnh, đoàn y tế trên tỉnh về phát hiện ông bố có triệu chứng của bệnh phong. Ở vùng nũi xa xôi hẻo lánh này tin đó như một tiếng sét đánh gãy thân cây cổ thụ. Dân bản xa lánh dần, trai tráng không còn dập dìu trước ngõ nữa. Khi người ta xác định đúng là ông bố bị bệnh phong thì hai chị em Kim, Ngân không còn dám đến lớp nữa. Bệnh hủi khiến nhiều người ghê tởm, xua đuổi. Đêm đêm, người ta ném gà chết, chó mèo chết vào nhà. Gia đình họ phải dỡ nhà, khênh từng cây cột, cái kèo vào hẻm núi. Ông bố cố gắng dựng lại ngôi nhà cho vợ và hai con gái trước khi được gọi đi tập trung chữa bệnh ở một trại phong mãi dưới xuôi.
- Chuyện là như vậy đấy! - Mùi vừa xốc lại ba lô vừa hỏi tôi: - Ông có thấy sợ không?
Biết là bệnh phong không lây, không di truyền nhưng vốn là người yếu bóng vía nên tôi cũng thấy hơi sờ sợ. Ở quê tôi người ta thường rất sợ căn bệnh này. Bố tôi đã hơn trăm tuổi. Ông thường kể cho tôi nghe chuyện ngày trước ở làng bên có một người bị bệnh hủi. Dân làng phát hiện xa lánh, họ muốn đuổi cả nhà người có bệnh đi khỏi làng. Nhất là khi người bệnh đã phát nặng mặt mũi sù sì, chân tay co quắp phá mủ chảy nước vàng hôi thối. Trước cảnh ngày nào dân làng cũng xua đuổi, lý trưởng, chánh tổng phạt vạ, uy hiếp, những người con của người bệnh đã phải đi đến một quyết định khủng khiếp nhất. Họ mổ gà, giết lợn làm cơm cho ông ăn. Sau bữa cơm li biệt ấy, người con cả chủ trì lễ tế sống bố. Họ để ông ngồi trên sập rồi vái lạy. Đến tối, cả nhà gạt nước mắt đưa ông lên chiếc thuyền nan nhỏ. Nước lũ từ thượng nguồn sông Đáy đang đổ về cuồn cuộn. Con thuyền nhỏ của những đứa con trong lòng rỉ máu ấy đưa ông bố tật bệnh ra một chiếc chòi nhỏ trên bãi bồi giữa sông. Họ để ông bố ở đấy rồi thả thuyền xuôi về phía hạ lưu chờ. Nước dâng ngập bãi bồi, dìm chết người cha bị bệnh hủi. Dân chài lưới phía hạ lưu giúp những người con tìm xác ông bố bị lũ cuốn trôi xuôi. Khi còn nhỏ tôi cũng thường nghe chuyện người hủi chết huyệt phải đào sâu 5 mét đổ vôi bột sống xuống rồi mới hạ quan tài, rắc thêm vôi bột lên trên xong mới lấp. Mả hủi thường phải ở xa những ngôi mộ khác.
Phạm Hoa Mùi còn kể cho tôi nhiều chuyện buồn của hai chị em Kim. Ngân. Họ không còn bạn bè, xóm giềng. Hai chị em lớn lên như hai bông hoa tươi tắn, xinh đẹp nhưng không một chàng trai nào đến tìm nữa. Họ phải lên núi cao tìm chỗ làm nương trỉa ngô. Nỗi đau cô đơn của họ thật là khủng khiếp. Người mẹ của họ đau buồn rồi ốm chết.
Một buổi tối, hai chị em vừa chuẩn bị đi ngủ thì có tiếng chân bước lên sàn. Hai chị em hoảng sợ ôm chặt lấy nhau. Bởi vì đã rất lâu không còn có ai dám vào nhà họ nữa. Có tiếng gọi nhỏ: “Các con ơi!”. Bé Ngân reo lên: “Bố! Bố về...”. Họ mở cửa đón bố. Biết tin vợ chết, ông trốn trại phong tìm về nhà. Hai đứa con vừa khóc vừa nấu cơm nếp, làm thịt gà cho bố ăn, gói cho bố đem đi đường. Họ van xin: “Bố phải ra đi ngay trong đêm, ngày mai sáng ra dân bản mà nhìn thấy sẽ xua đuổi, sẽ hắt hủi chúng con...” Ông nhìn hai đứa con gái nước mắt ròng ròng. Ông ra đi rồi biệt tích từ đó. Có tin đồn ông đã chết đuối ở sông Bằng khi trèo mảng qua sông giữa đêm. Lại có người bảo ông đã lấy một người đàn bà cùng cảnh ngộ rồi được trợ giúp làm nhà chữa khỏi bệnh và ở ngay trong khu trại phong.
Sau này, khi cuộc chiến tranh biên giới nổ ra, hai chị em Kim, Ngân vẫn ở lại. Họ vác đạn lên trận địa, đưa thương binh về tuyến sau. Hơn chục ngày giao chiến với kẻ địch đông và mạnh ở thị trấn, chúng tôi rút lui lên núi. Đơn vị chia làm nhiều mũi đột phá vòng vây để rút đi. Lên đến Lũng Vỉ, bất ngờ tôi gặp Ngân. Cô bé súng khoác trên vai chững chạc, dày dặn hẳn lên. Tôi hỏi ngay:
- Hai chị em thế nào rồi?
Ngân bật khóc:
- Chị Kim em chết rồi! Bọn địch phát hiện chị ấy chạy ra bờ suối đánh lạc hướng để cứu thương binh. Khi chúng xông đến định bắt sống thì chị ấy đã cho nổ quả lựu đạn...
Tôi cầm tay Ngân, muốn an ủi cô bé nhưng chẳng biết nói thế nào...
(còn nữa) Hà Nội, tháng 2-2019

Ghi chép CHÚNG TÔI Ở BIÊN CƯƠNG PHÍA BẮC - phần 2

CHÚNG TÔI Ở BIÊN CƯƠNG PHÍA BẮC - phần 2
Ghi chép của Trọng Bảo

2-Hành quân áp sát đường biên
Khoảng đầu tháng 8-1978, đơn vị chúng tôi nhận lệnh rời Ngân Sơn, Bắc Cạn hành quân lên Cao Bằng. Đại đội thông tin chúng tôi do trung úy Lộc, một giáo viên Trường Sĩ quan Thông tin phụ trách tổ chức hành quân. Chúng tôi vượt lên đèo Cao Bắc, đèo Gió, dốc Tài Hồ Sìn. Ngày đi đêm nghỉ. Sau hai ngày cuốc bộ, leo đèo dốc chúng tôi đến Bế Triều, Hòa An, Cao Bằng là nơi đóng quân của sở chỉ huy Sư đoàn 346.
Đại đội tập huấn thông tin giải thể. Tôi cùng Hà Trung Lợi và Nguyễn Văn Đam được điều động về trung đội thông tin Tiểu đoàn 3. Lúc này, Tiểu đoàn 3 đang đóng quân ở xã Đức Long, huyện Hòa An. Tôi được bổ nhiệm làm tiểu đội trưởng tiểu đội vô tuyến, Hà Trung Lợi làm tiểu đội trưởng hữu tuyến, Nguyễn Văn Đam là tiểu đội trưởng truyền đạt. Phạm Hoa Mùi, người Yên Sơn, Tuyên Quang đi tập huấn từ quân đoàn về được phong quân hàm chuẩn úy là trung đội trưởng trung đội thông tin của Tiểu đoàn 3. Cả bốn anh em chúng tôi đều nhập ngũ đợt 2-1975, cùng là chiến sĩ ở đại đội thông tin 17 của Trung đoàn 246. Theo lệnh của chỉ huy tiểu đoàn, chúng tôi tiến hành chọn lựa từ các đại đội bộ binh các chiến sĩ có trình độ văn hóa cao đưa về trung đội thông tin của tiểu đoàn. Tôi xuống đại đội 11 là đơn vị cũ của mình xin Nguyễn Văn Trọng, nhập ngũ 11-1976 là một chiến sĩ của tiểu đội tôi từ thời làm đường ở Hà Giang. Trọng cùng quê với tôi, trình độ văn hóa thấp, không đủ tiêu chuẩn về đơn vị chuyên môn kỹ thuật. Nhưng tôi cố tìm cách giải thích mấy lần đề nghị để chỉ huy tiểu đoàn chấp nhận điều động Trọng về trung đội thông tin. Đây có lẽ là lần duy nhất trong cuộc đời làm người chỉ huy, tôi đã "lạm dụng" quyền hạn của mình để ưu ái cho một người chiến sĩ mà tôi quý mến. Trọng là một chiến sĩ tốt, tính tình hiền lành, chịu khó. Thời gian sau nhờ sự cố gắng của mình Trọng đã được bổ nhiệm làm tiểu đội phó tiểu đội truyền đạt. Sau này chiến tranh xảy ra, khi tiểu đội trưởng hy sinh Trọng đã chỉ huy tiểu đội hoàn thành tốt nhiệm vụ đảm bảo thông tin liên lạc và trực tiếp tham gia chiến đấu rất dũng cảm.
Huấn luyện ở Hòa An chưa được bao lâu tiểu đoàn chúng tôi được lệnh hành quân lên Hà Quảng, áp sát biên giới. Tình hình ngày càng thêm căng thẳng. Bọn Trung Quốc đã dồn quân lên sát đường biên thì chúng ta cũng phải có mặt bên cột mốc để sẵn sàng đánh trả nếu chúng đưa quân tràn sang xâm lược Việt Nam. Đơn vị chúng tôi hành quân theo hướng qua Mỏ Sắt lên Quý Quân, Sóc Hà (Hà Quảng). Chúng tôi ở xã Quý Quân vài ngày rồi mới chuyển lên đóng quân ở bản Nà Liền, xã Sóc Hà. Đơn vị vừa huấn luyện vừa tổ chức xây dựng công sự, trận địa. Những tháng cuối năm 1978, dọc tuyến biên giới Cao Bằng tình hình căng thẳng, nguy hiểm không khác gì những tổ ong sắp vỡ. Ta và địch đều tổ chức chuẩn bị đánh nhau ầm ĩ suốt ngày đêm. Nhưng cuộc tranh chấp biên giới nổ ra hằng ngày. Ta tiến hành rào biên giới bằng rào tre, rào nứa, bằng chông tre, chông sắt ở phía trước, giăng dây thép gai, gài mìn ở phía sau. Phía Trung Quốc cũng vậy, bọn chúng cũng rào biên giới, xây hầm hào, công sự, trận địa. Chúng tổ chức phá hủy hàng rào biên giới của ta, đẩy hàng rào của chúng sâu vào trong đất ta. Chúng nổ mìn phá đá suốt ngày đêm để xây lô cốt. Phía ta cũng ra sức chuẩn bị đối phó khi cuộc chiến tranh nổ ra. Bọn địch phá hàng rào thì chúng ta đưa dân, đưa bộ đội lên rào lại. Bộ đội mặc thường phục để cùng dân đi rào biên giới. Nhìn những đoàn xe chở chở tre, chông sắt từ phía sau lên biên giới tôi hiểu hậu phương đã phải bớt những cây tre làm nhà, chống bão, bớt sắt thép dùng đúc lưỡi cày, lưỡi cuốc để vót thành chông, rèn thành chông rào biên cương chặn giặc.
Liên tiếp những cuộc xung đột giữa hai bên nổ ra. Bọn côn đồ Trung Quốc ném đá, tấn công bằng gậy gộc, bắn cung tên vào dân ta đang rào biên giới. Ta tổ chức ném đá, đánh lại. Nhiều người dân, người lính vỡ đầu, mẻ trán, bị thương bởi các loại vũ khí thô sơ trong thời gian tiền chiến như vậy. Chiến tranh chưa nổ ra nhưng xung đột đã lan rộng. Ta và Trung Quốc đều đã sẵn sàng cho một cuộc đối đầu nảy lửa. Súng pháo đã lấy tầm bắn, xác định mục tiêu, đạn đã lên nòng rồi. Tôi hiểu chiến tranh đang đến rất gần. Song, tôi vẫn mong chiến tranh đừng xảy ra. Bởi nếu chiến tranh nổ ra một "cơn lũ xâm lược" vô cùng tàn khốc từ phía bên kia biên giới sẽ tràn sang tàn phá, giết chóc đến tận cùng nơi biên ải này. Những người lính phía trước chúng tôi sẽ chỉ là những người lính cảm tử quân nhỏ nhoi nơi đầu cơn lũ lớn.
Thị trấn Sóc Giang ngày ấy nhìn đâu cũng thấy màu áo lính. Người dân ở đây cũng rất nghèo, cũng còn thiếu đói. Nhưng tôi nhớ mãi một chuyện gặp ở chợ Sóc Giang. Hôm đó đơn vị chúng tôi triển khai mạng thông tin lên trận địa. Được thanh toán tiền ăn, mấy anh em trong tiểu đội kéo nhau vào chợ mua cân thịt lợn cải thiện thêm bữa ăn. Khi tôi hỏi giá, bà bán thịt lợn bảo tôi:
- Một cân bán cho dân hai mươi đồng, bán cho bộ đội chỉ lấy mười tám đồng thôi! (Không biết tôi có nhớ chính xác trị giá đồng tiền ngày ấy không?)
Tôi ngạc nhiên hỏi lại:
- Tại sao lại thế ạ?
Bà bán hàng người dân tộc cười nói rất tự nhiên:
- Chả tại sao cả! Cái gì bán cho bộ đội cũng cứ thấp hơn, rẻ hơn thế đấy!
Thì ra ở chợ có một quy định không thành văn là hàng hoá bán cho bộ đội đều thấp hơn so với bán cho người khác từ 15 đến 20%. Mà có điều lạ là chả ai phổ biến, quán triệt nhưng bà con dân tộc đem hàng ra chợ ai cũng làm như vậy. Và không ai từ chối khi bộ đội hỏi mua hàng. Quy định bất thành văn đó chính là lòng dân thương yêu bộ đội mà có. Một lần đi công tác dừng lại nấu cơm dọc đường, thấy vườn đu đủ trên sườn núi trĩu quả, tôi hỏi mua, ông chủ vườn bảo: “Chú cứ lấy mà ăn! Để lại cái hạt là được”. Thì ra ở đây dân họ bảo nhau không được bán, chỉ cho bộ đội thôi. Đu đủ chín đầy vườn bộ đội muốn ăn thì cứ lấy, ăn xong nhớ để lại cái hạt cho những cây mới tiếp tục mọc lên. Tôi còn nhớ một lần lên sát biên giới gặp một cụ già đang ngồi bên những bó chông ở bản Nà Sác, tôi hỏi: “Sao ông không đi sơ tán ạ?”, thì cụ bảo: “Chúng mày ở mãi tận dưới xuôi còn lên tận đây giữ đất, chúng tao ở đây lại bỏ đi à? Đất của mình thì mình phải ở, phải giữ bằng được chứ, sao lại bỏ đi?”. Câu nói của cụ già giản dị nhưng đó là một lẽ sống, một chân lý của người Việt ta có tự ngàn đời nay.
Chính nhờ lòng dân như vậy đã giúp chúng tôi đứng vững trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương của Tổ quốc. Trong những trận đánh ác liệt giữ từng tấc đất thiêng liêng nơi biên giới ấy có bao người dân đã ngã xuống giữa chiến hào cùng những người lính. Từ thời phong kiến xa xưa, các vua quan nước Việt từng coi dân bản xứ nơi biên ải luôn như là những người lính tiền tiêu trấn giữ biên thùy của đất nước...
(còn nữa) Hà Nội, tháng 2-2019

Thứ Tư, 13 tháng 2, 2019

Ghi chép CHÚNG TÔI Ở BIÊN CƯƠNG PHÍA BẮC - phần 1

CHÚNG TÔI Ở BIÊN CƯƠNG PHÍA BẮC - phần 1
Ghi chép của Trọng Bảo 

1-Lật cánh sang hướng Cao Bằng

Đầu năm 1978, chúng tôi vẫn là bọn lính làm kinh tế mở đường ở giữa rừng già Bắc Quang, Hà Giang. Cuộc sống giữa rừng gian khổ. Làm việc thì nặng nhọc mà ăn uống thì thiếu thốn. Cánh lính thời sau chiến tranh tả tơi trên công trường đào đất, phá đá. Nhưng dù sao không còn cảnh đạn bom, chết chóc vẫn còn sung sướng gấp vạn lần những lớp cha anh những năm trước cả tháng trời hành quân trên dãy Trường Sơn vào nam đánh giặc. Cũng còn đỡ hơn những đồng đội hiện đang đối mặt gian khổ chết chóc với bọn giặc Pôn Pốt ở biên giới Việt Nam - Campuchia.
Tôi còn nhớ chính trị viên đại đội tôi ngày ấy tên là Thấu. Ông này gầy gò, dáng vẻ khắc khổ, ve áo mang quân hàm trung úy bạc phếch. Một hôm, trong buổi sinh hoạt chính trị ông ấy nói với chúng tôi: "Chúng ta đang hăng hái lao động xây dựng đất nước nhưng cũng phải luôn luôn tư thế sẵn sàng cầm lại khẩu súng để chiến đấu chống lại bọn phản động quốc tế...". Chúng tôi ngỡ ngàng tự hỏi nhau: "Lại có bọn phản động nào thế?". Hồi ấy, tôi chỉ là một hạ sĩ, tiểu đội trưởng, quanh năm sống giữa rừng sâu núi thẳm đào đất làm đường nên tình hình chính trị cũng lờ mờ, chả biết thế nào. Chúng tôi đoán là đơn vị sẽ chuyển quân vào phía biên giới Tây Nam tham gia chiến đấu chống bọn Pôn Pốt. Nhưng rồi dần dà rồi chúng tôi cũng hiểu rõ "bọn phản động quốc tế ấy" lại chính là ông bạn lớn ở gần kề phương Bắc, nơi mà trong lịch sử hàng ngàn năm qua từng có nhiều đội quân xâm lược hùng hổ kéo sang nước Đại Việt tàn phá, cướp bóc, giết chóc. Vậy là bây giờ chúng lại dập rình một lần nữa sắp tràn sang nước ta.
Quê tôi ở Vĩnh Phúc. Những năm tháng chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ nơi đây là chiến trường của không quân Việt Nam và không quân Mỹ, cũng là nơi nhận "bom thừa, đạn dư" của bọn giặc trời. Máy bay địch thường tập kết trên đỉnh núi Tam Đảo trước khi lao xuống đánh phá Hà Nội. Khi bị máy bay ta truy kích không tặc Mỹ thường ném bớt bom đạn xuống quê tôi để quần đuổi nhau với máy bay ta. Tên lửa, rốc-két bắn không trúng nhau cũng lao xuống đất. Bom ném ở Hà Nội, Việt Trì không hết máy bay Mỹ cũng trút xuống đây trước khi bay ra biển. Trong những năm tháng ấy các đơn vị quân đội Trung Quốc kéo về đóng quân tại các khu rừng lá cọ phía sau nhà tôi, nơi cánh trẻ con chúng tôi thường đem trâu bò đến chăn thả. Họ sang để giúp Việt Nam đánh Mỹ. Các đơn vị quân đội Trung Quốc tham gia chiến đấu bảo vệ cầu Việt Trì, tham gia xây dựng các công trình quốc phòng và nhiều việc gì khác nữa mà bọn trẻ con chúng tôi không thể biết. Chúng tôi vẫn đưa trâu bò vào khu rừng cọ sau nhà chăn thả. Các quân nhân Trung Quốc thường tặng chúng tôi huy hiệu Mao Trạch Đông và họa báo tiếng Hoa. Có bữa tôi được tặng mấy cái huy hiệu liền. Họa báo thì dùng bọc sách vở rất tốt. Các chiến sĩ quân đội Trung quốc ngày ấy vẻ rất hiền lành, luôn luôn tươi cười thân thiện với trẻ em Việt Nam. Hằng tuần, trong doanh trại quân đội Trung Quốc đều tổ chức chiếu phim cho bộ đội của họ và nhân dân Việt Nam xem. Các buổi chiếu phim đều có thuyết minh tiếng Việt. Họ chiếu các bộ phim truyện như Bạch Mao nữ, Thượng Cam Lĩnh, Cuộc chiến đấu trong đường hầm và các phim tư liệu về lãnh tụ vĩ đại. Ngày ấy, quê tôi chưa có điện, không có các phương tiện thông tin giải trí gì, hệ thống loa truyền thanh công cộng thì tậm tịt nên chúng tôi chỉ mong có chiếu phim trong doanh trại bộ đội Trung Quốc để đi xem. Khi máy bay Mỹ tăng cường đánh phá ác liệt dân làng chúng tôi phải ở trong lán sơ tán cả đêm. Cô em gái tôi đang đêm phát bệnh đau bụng dữ dội bố mẹ tôi phải bế nó sang doanh trại quân đội Trung Quốc xin thuốc được các chiến sĩ lập tức đưa ngay vào bệnh viện dã chiến của họ cấp cứu, chữa trị... Đó là những người lính Trung Quốc mà tôi đã gặp, đã biết từ khi còn là một đứa trẻ chăn trâu. Họ rất đáng trân trọng, vì họ sang giúp chúng ta đánh Mỹ. Còn tới đây chúng tôi sẽ gặp những tên lính Trung Quốc xâm lược, chắc chắn rằng khuôn mặt chúng sẽ rất khác khuôn mặt thân thiện của cha anh chúng ngày nào…
Giữa năm 1978, đơn vị chúng tôi nhận được lệnh chuyển quân, lật cánh sang hướng Cao Bằng. Đại đội 7 của chúng tôi lúc này đang ở Vĩnh Tuy hành quân về chỗ gần bờ sông Bạc là nơi cơ quan tiểu đoàn bộ đóng quân. Chúng tôi tạm trú tại các nhà của các bộ phận cơ quan tiểu đoàn bộ chờ xe vận chuyển quân lên đón. Hằng ngày chúng tôi làm công tác chuẩn bị. Thực ra chả có gì mà phải chuẩn bị. Đời lính chỉ có chiếc ba lô cóc trên vai với vài bộ quần áo cũ sờn, có lệnh là đi, thế thôi. Chúng tôi giao lại cuốc xẻng, nhận thêm súng AK, đổ đầy bao gạo và vào rừng kiếm một ít củi khô bó lại buộc vào ba lô để nấu ăn dọc đường. Thế là chuẩn bị xong để lên đường.
Thấy chúng tôi đi lại lộn xộn trong khu doanh trại của tiểu đoàn bộ, chính trị viên tiểu đoàn, thượng úy Hoàng quốc Doanh bắt gặp quát:
- Mấy thằng chúng bay liệu hồn đấy, vài hôm nữa trở thành lính chiến rồi mà còn vô kỷ luật như lính làm đường là không được đâu!
Chúng tôi cười:
- Thủ trưởng cứ yên tâm! Đánh nhau thì đánh, càng đỡ phải bụng đói cồn cào vẫn phải đào đường, phá đá! Khổ lắm...
Anh Doanh dịu giọng:
- Cuộc chiến này cũng chưa biết sẽ thế nào đâu... Chúng mày phải chuẩn bị tư tưởng cho tốt nhé!
- Thủ trưởng đừng lo...
Tôi đáp vậy nhưng cũng thấy hơi lo lắng. Tôi mới chỉ biết chiến tranh qua những ngày còn nhỏ đi sơ tán tránh máy bay của giặc Mỹ oanh tạc miền Bắc. Năm tôi đang học lớp 9 thì chứng kiến trận Mỹ ném bom, bắn rốc-két xuống khu xưởng sửa chữa xe tăng của bộ đội gần nơi trường cấp 3 sơ tán. Lần này, không biết chiến tranh có xảy ra thật hay không.
Xe chở chúng tôi chạy xuôi Tuyên Quang, qua Sơn Dương rồi sang Thái Nguyên. Lúc xe qua Đại Từ là nơi đóng quân của Trung đoàn 246 thời tôi mới nhập ngũ. Đến Ngân Sơn, Bắc Cạn thì đoàn xe dừng lại. Đây là vị trí đóng quân mới của trung đoàn. Chúng tôi làm lán trại ngay ở khu nghĩa địa, kê ván bên mộ chí ngủ cùng những người đã chết. Là lính làm kinh tế nhưng những ngày ở Ngân Sơn thật khốn khổ, lao động, luyện tập vất vả nhưng mỗi bữa chỉ có hai nắm mỳ luộc đen thui. Tôi chẳng bao giờ quên cái bữa bị nôn thốc nôn tháo vì bột mỳ bị dính dầu hỏa làm bánh cố ăn nuốt không nổi phải nhổ ra. Bữa ấy không có chút gì vào bụng nên tôi cầm khẩu súng chạy lên dốc đói quá hoa mắt ngã lăn xuống giao thông hào… Cũng tại Ngân Sơn tôi được điều động về tiểu đoàn 2, biên chế vào đại đội tập huấn tiểu đội trưởng thông tin. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 là đại úy Trần Ngánh. Ông này nổi tiếng là nghiêm khắc và nóng tính, nhưng cũng là một cán bộ chỉ huy chiến đấu giỏi. Ông Ngánh mới mất cách nay mấy năm. Trước đó, khi gọi điện cho tôi ông nói vẫn khỏe vậy mà mấy tháng sau đã ra đi mãi mãi. Cùng về đại đội tập huấn nghiệp vụ thông tin còn có Nguyễn Văn Đam cùng quê Lập Thạch, Vĩnh Phúc, Hà Trung Lợi quê ở Thanh Sơn, Phú Thọ. Tôi và Nguyễn Văn Đam cùng nhập ngũ một ngày và cùng huấn luyện chiến sĩ mới ở Lâm Thao, Phú Thọ dưới chân núi Nghĩa Lĩnh, nơi ngự nghỉ của các Vua Hùng…
(còn nữa) Hà Nội, tháng 2-2019

Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2019

Truyện ngắn CÁI CHẾT CỦA LÃO DỞ NGƯỜI

CÁI CHẾT CỦA LÃO DỞ NGƯỜI 
Truyện ngắn của Trọng Bảo 

Không có mô tả ảnh.

Lão dở người vác cái bao tải rách lên vai. Hôm nay lão gặp may. Một ngôi nhà là trụ sở công ty tư nhân đang đục phá, sửa chữa. Đám thợ vứt ra hè đường một đống sắt vụn cong queo. Ông chủ công ty nhìn thấy lão đang móc tìm kiếm ở cái thùng rác bên đường liền gọi sang và hào phóng cho lão luôn đống sắt vụn. Chỗ sắt vụn đầy sét gỉ phải đến hai chục cân. Lão oằn lưng vác cái bao tải nặng ra phía bờ sông. Số sắt vụn này lão kiếm được hơn trăm ngàn là cái chắc.
Cân xong bao tải sắt vụn, lão dở người lại vào phố. Con mụ Béo chuyên thu mua đồ phế liệu chê ỏng chê eo sắt gỉ quá chỉ đưa cho lão một trăm hai mươi ngàn đồng. Thôi thế cũng tốt. Lão nghĩ. Lão sẽ vào phố chén một bát phở ngon hết hai mươi ngàn đồng. Còn một trăm ngàn lão sẽ cất kỹ dành dụm thành một khoản để đem về quê. Ở quê, lão còn một thằng cháu là con cô em gái út. Nó ốm yếu thường xuyên phải đi viện. Lão thương nó lắm. Lão ra thành phố bới rác kiếm tiền, dành dụm từng trăm gửi về giúp em gái chữa bệnh cho cháu. Hôm lão đi, thằng bé cứ túm lấy áo lão rơm rớm nước mắt:
- Bác đi Tết nhớ về với cháu nhé!
- Ừ! - Lão xoa đầu nó và dặn: - Ở nhà cu nhớ không được ra bờ ao chơi, nhỡ ngã xuống ao thì khốn đấy!
Thằng bé bị bệnh tim. Một hôm lão vừa đi bắt cua về xuống cái ao đầu ngõ rửa chân thì thấy thằng cháu đang ngớp ngớp vùng vẫy ở dưới cầu ao. Lão vứt cả giỏ cua nhào xuống ao lôi nó lên. May mà nó mới ngã xuống chỉ uống vài ngụm nước. Bệnh tim của nó nặng dần. Năm lên lớp bốn thì hay bị ngã ngất nên không tiếp tục đi học được nữa. Nghe nói muốn mổ tim phải mất hàng chục triệu đồng. Chồng cô em gái út tai nạn sập lò gạch chết sớm, nhà nghèo lấy đâu ra mấy chục triệu đồng để chữa bệnh cho con. Tiền mua thuốc hàng tháng còn chả đủ nữa là. Lão nghe người ta nói thành phố dễ kiếm tiền. Thế là lão bỏ sào ruộng lại cho cô em gái út rồi theo đám thanh niên lên thành phố. Lão sẽ kiếm tiền, thật nhiều tiền để giúp cô em út chữa bệnh cho con.
Lên đến thành phố lão ra ngay chỗ "chợ người" tìm việc. Nhưng những người tìm thuê "cửu vạn" thường chẳng bao giờ để ý đến lão. Có lẽ họ nghĩ là lão già cả chả làm nổi những việc nặng nhọc. Thế nên lão đành phải đi bới rác, nhặt nhạnh những đồ phế thải bán cho bọn thu mua sắt vụn. Nhặt những bao túi ni-lông, vỏ bia, vỏ chai, sắt vụn người ta vứt đi bán cho bọn ve chai mỗi ngày lão cũng kiếm được ngày nhiều ba chục, ngày ít hai chục, ăn uống rồi cũng để dành được chục ngàn mỗi ngày, hơn cả làm ruộng ở quê mỗi vụ được vài tạ thóc ăn chả đủ làm gì dám đem bán lấy tiền.
Bọn trẻ con, phụ nữ chuyên làm nghề nhặt rác thường tụ tập ngoài bãi sông Hồng. Họ gọi lão là lão dở người vì một chuyện xảy ra đối với lão. Hôm đó lão bới móc một cái túi rác cổng một ngôi biệt thự. Lão tìm thấy trong cái túi rác đầy vỏ hộp mỹ phẩm ấy một cái dây chuyền vàng. Lão cầm sợi dây chuyền đứng co ro chịu rét chờ bằng được bà chủ ngôi biệt thự ra đóng cổng để trả lại. Nhận lại sợi dây chuyền đến năm chỉ bà chủ nhà chả cảm ơn thì thôi còn xỉa xói, nghi lão là quân trộm cắp. Biết chuyện, đám "công nhân nhặt rác" cư trú ngoài bãi sông đều cười nhạo lão mãi. Chả ai khen lão thật thà mà họ bảo lão là đồ dở người. Từ đó cái tên lão Dở thành tên gọi của lão.
Lão Dở cũng có người con khá thành đạt. Đó là ông con trai duy nhất của lão. Vợ lão mất sớm, lão ở vậy nuôi con khôn lớn. Thằng con lão là chủ một doanh nghiệp lớn ở phía Nam. Ông con trai muốn đón lão vào Nam sinh sống nhưng lão không chịu. Lão giận con, nhất là từ khi ông con về quê đóng góp cả mấy trăm triệu đồng cho một công trình văn hoá của huyện để được tạc tên trên bia đá ghi công thế mà không dám cho thằng cháu bị bệnh nặng được lấy một đồng để chữa bệnh. Lão có ý nhắc nhưng nó làm thinh không nói gì.
Ăn xong bát phở, lão Dở tìm về chỗ mình vẫn ngủ qua đêm.
Năm nay trời sao mà rét đến thế. Các hàng quán đóng cửa nghỉ sớm. Gió lạnh thổi ù ù trên phố. Lão Dở lủi thủi đi về phía làng ven Hồ Tây. Mấy ngày nay lão không ra khu nhà trọ ngoài bãi sông nữa. Trọ ở nhà trọ bãi sông mất năm ngàn mỗi tối. Trước đây chỉ có ba ngàn một tối nhưng gần tết họ nâng giá lên năm ngàn đồng. Nói là nhà trọ thực ra chỉ có vài manh chiếu rách trải lên sạp, cả chục, cả trăm người-toàn dân cửu vạn chen chúc nhau nằm lăn lóc đầu chân lẫn lộn ngủ cho qua đêm. Mà có nhiều người chưa đến nửa đêm đã lồm cồm bò dậy đi gánh hàng thuê cho những người buôn hoa quả, rau ở các chợ đêm. Lão Dở ít ngủ và thính ngủ. Có khi đêm vừa chợp mắt được một lát đã giật mình vì tiếng lục sục gọi nhau của những người đi làm đêm. Vì thế lão chả dại gì mà mất thêm năm ngàn đồng mỗi đêm. Lão đã có một cách hay.
Lão đi về phía khu biệt thự ven hồ. Chỗ ngủ đêm của lão là cái cổng của một ngôi biệt thự rất sang trọng. Chủ ngôi biệt thự chắc là một người rất giàu có nên cái cổng xây rất hoành tráng. Mái cổng vươn chìa ra tạo thành một khoảng che mưa nắng rất rộng. Lão Dở trải manh chiếu rách ra góc cổng, cạnh gốc cây sấu sù sì. Thế là lão đã có một chỗ ngủ rất kín gió và ấm. Năm nay sao mà trời rét thế. Còn đúng hai mươi mốt ngày nữa là đến Tết. Lão Dở nhẩm tính. Trong cái bọc ni lông bẩn thỉu lão vẫn buộc chặt ở bụng đã có gần hai triệu đồng rồi. Đó là công sức mấy tháng trời nhặt nhạnh phế liệu của lão. Lão quyết định ngày mai sẽ về quê. Có gần hai triệu đồng mua thuốc cho thằng cháu cũng tốt rồi. Với lại cũng chỉ còn hai ngày nữa là đến ngày giỗ của vợ lão. Lão phải về để còn ra mộ thắp cho bà ấy nén hương.
Đang thiu thiu ngủ thì có ánh đèn ô-tô rọi thẳng vào mặt. Một chiếc xe con bóng lộn rì rì chạy vào cổng. Lão Dở lồm cồm ngồi dậy. Chiếc xe bấm còi rồi dừng lại chờ mở cổng. Kính xe hạ xuống. Lão nghe rõ tiếng một người đàn ông gắt với người từ trong nhà ra mở cổng:
- Sao lại để cho một thằng ăn xin nó nằm ngay ở cổng thế hả?
- Dạ! Thưa bác đó là một ông già nhặt rác đấy ạ!
- Đuổi cổ đi! Không khéo lại là quân trộm cắp rình mò đấy, hiểu không?
- Vâng ạ!
Kính xe lại được kéo lên. Chiếc xe từ từ lăn bánh vào trong sân. Người vừa ra mở cổng đến chỗ lão Dở đang nằm khe khẽ nói:
- Cụ ơi! Cụ chuyển sang bên kia gốc cây mà nằm ngủ chứ cụ nằm ngay ở cổng thế này ông chủ nhìn thấy lại mắng cháu!
Nghe anh ta nói, lão Dở hiểu anh ta cũng chỉ là một người giúp việc cho ở ngôi biệt thự này. Anh ta nói mấy hôm trước ông chủ đi công tác vắng nên anh để cho lão được buổi tối đến nằm ngủ ở cổng. Ông chủ về rồi anh đành phải bảo lão đi tìm chỗ khác. Nghe anh ta năn nỉ như vậy lão Dở lồm cồm đứng dậy. Lão lôi mảnh chiếu rách sang phía bên kia gốc cây sấu già. Chỗ nằm mới của lão trúng hướng gió bắc, lại không được che nên mưa phùn lất phất bay nên càng lạnh. Lão Dở quấn cái chăn chiên rách thật chặt vào người cho đỡ rét. Suốt đêm lão Dở không ngủ được vì lạnh quá. Lão lẩm bẩm mong trời bớt lạnh cho đám cửu vạn ngoài bờ sông đêm dậy đi làm đỡ rét mướt. Ngày mai lão về quê rồi còn họ thì có lẽ phải làm thuê hoặc nhặt rác cho đến gần tết mới về. Lão tính, rét thế này ngày mai nhất định sẽ mua cho thằng cháu một cái áo khoác thật ấm. Rét mướt thế này trẻ con bị bệnh tim phải mặc thật ấm. Cái áo mà họ chất đống ở vỉa hè nói là hàng SIDA ấy chỉ đến một trăm ngàn là cùng thôi.
Gần sáng khi lão Dở vừa chợp mắt thì nghe có tiếng quát tháo ầm ĩ trong ngôi biệt thự. Hình như có tiếng kêu: "Trộm... trộm...". Rồi lão lại nghe "huỵch" một cái như là tiếng người nhảy qua tường. Lão Dở mở mắt ra nhìn. Tên trộm vừa trèo qua cái cành cây bên kia cổng nhảy xuống hè đường. Nó lẩn qua phía lão nép vào gốc cây sấu quan sát rồi co giò định chạy. Lão nhỏm ngay dậy nhoài người quờ tay ôm riết được một chân của thằng trộm. Nó bị tóm chân bất ngờ nên chới với ngã lăn xuống hè đường. Cái hộp nhỏ nó đang cầm trên tay văng ra xa. Thằng trộm lồm cồm bật dậy. Nó càng cố giật chân thì lão lại càng cố ôm ghì thật chặt. Trong ngôi biệt thự có ánh đèn và tiếng chân nhiều người lao ra. Từ phía đầu phố có tiếng còi ủ của xe cảnh sát. Thằng trộm tống một quả đấm thật mạnh vào mặt lão Dở. Lão Dở đau điếng nhưng vẫn kiên quyết không buông rời chân thằng trộm. Một ánh thép loé lên. Lão Dở chới với buông chân thằng trộm gục xuống. Nhát dao của thằng lưu manh xỉa thẳng vào cổ lão Dở. Khi công an và mọi người chạy đến thì thằng trộm đã biến mất tăm vào bóng tối mịt mùng trong ngõ hẻm.
Lão Dở thấy mình chơi vơi như đang bay trên mây. Đúng là lão đang bay. Lão bay lên thật nhẹ nhàng.
Lão nghe thấy tiếng bà chủ ngôi biệt thự rú lên vui mừng vì tìm thấy cái hộp nữ trang cả chục cây vàng mà tên trộm bị lão Dỡ bất ngờ tóm chân ngã rơi văng chỗ rãnh nước bên đường. Lão lại nghe thấy tiếng ông chủ biệt thự. Vẫn cái giọng hách dịch như lúc tối mắng anh chàng giúp việc ra mở cổng. Ông ta đang nói với mấy anh công an:
- Các đồng chí kiểm tra ngay lão ăn mày này! Nhất định lão ta là đồng bọn với thằng ăn trộm đã đột nhập vào nhà tôi. Mấy ngày nay tối nào lão cũng lảng vảng ở cổng nhà tôi đấy!
Có lẽ ông chủ ngôi biệt thự là sếp lớn nên các anh công an răm rắp chấp hành mệnh lệnh. Họ nhanh chóng khám nghiệm hiện trường rồi lập biên bản. Lão Dở cũng lờ mờ nhận ra người đang cố gắng băng bó, cầm máu cho mình chính là cái anh đã ra mở cổng ngôi biệt thự lúc buổi tối hôm qua. Lão cố nói để anh ta biết quê quán của mình và số tiền ki cóp được lão đang giấu trong bụng. Lão muốn nhờ anh ta đem về cho thằng cháu ở quê. Nhưng tiếng của lão sao lại bé hơn cả tiếng gió, tiếng mưa thế này. Hình như chẳng ai nghe được tiếng lão nói nữa.
Lão Dở cố mở mắt ra. Nhưng lão cũng chẳng còn nhìn rõ gì nữa cả. Trước mắt lão sao mọi thứ cứ mờ mờ ảo ảo, méo mó, dị dạng hết đi thế nhỉ?. "Thôi chết! Thế này thì làm sao ngày mai mình về quê được đây!". - Đó là ý nghĩ cuối cùng của lão...
Hà Nội, 9/1/2011

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2019

THƠ VIẾT CHO MỘT NGƯỜI - Trọng Bảo

THƠ VIẾT CHO MỘT NGƯỜI 
Truyện của Trọng Bảo  
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang cười
Em sinh ra ở Yên Phong, Bắc Ninh, bên dòng sông Cầu lơ thơ nước chảy. Quê em có chợ Chờ, chợ Núi, có những xóm làng xanh mát lũy tre xanh, mùa hè đến âm vọng tiếng sáo diều vi vu. Trên những triền đê có những đàn bò thẩn thơ gặm cỏ trong tiếng cười nô đùa của đám trẻ mục đồng. Đặc biệt là quê em có làn điệu dân ca qua họ mượt mà, thiết tha, xao động lòng người.
Từ miền quê thanh bình ấy em lên đường, trở thành một người chiến sĩ. Chiếc áo chiến binh màu xanh em khoác lên mình thay cho màu áo trắng sinh viên. Tôi quen biết em tình cờ trong một lần lên trung đoàn bộ nhận pin và ác-quy máy thông tin. Từ đơn vị tôi lên trung đoàn bộ gần ba mươi cây số. Tôi xuống bếp thanh toán gạo và thực phẩm bữa trưa để tự nấu ăn dọc đường. Đi bộ từ sáng sớm đến gần trưa tôi mới đến trung đoàn bộ. Nhận xong các loại vật tư, tôi đeo ba lô ra bờ con suối nhỏ. Tôi dự định nấu cơm ăn xong sẽ trở về đơn vị. Khi tôi đang lúi húi chụm bếp bắc cái nồi nhỏ nấu cơm bên bờ suối thì có một nữ chiến sĩ từ nơi trú quân của cơ quan trung đoàn đi đến. Giờ nghỉ trưa, cô bé bưng một chậu quần áo ra suối giặt. Khi đi qua nhìn cái nồi tôi vừa đặt lên cái bếp kê bằng ba hòn đá cô bé bảo tôi:
- Có ít gạo mà anh cho nhiều nước thế thì cơm nhão mất!
Tôi lúng túng. Cô bé dừng lại giúp tôi gạn bớt nước trong nồi cơm. Rồi vừa vò quần áo cô bé vừa trông chừng nồi cơm giúp tôi. Cùng là lính tráng nơi biên giới nên chúng tôi làm quen với nhau rất nhanh. Tôi biết quê quán và tên nữ chiến sĩ ấy là M. Cô bé là văn thư bảo mật của trung đoàn. Sau này cô bé chính là nguyên mẫu nhân vật Mai trong truyện dài "Cơn lũ đen" của tôi. M. giúp tôi nấu cơm, xào tý thịt lợn. Tôi đùa:
- Hay hai anh em mình đổi công! Em nấu cơm giúp anh, anh sẽ giặt quần áo cho em?
- Nhưng đồ của con gái có thứ anh không giặt được đâu! Hì…
Cô bé cười rất tươi. Sau bận ấy mỗi lần lên trung đoàn bộ nhận trang bị, vũ khí tôi đều tìm cách gặp M. Có lần M. dẫn tôi vào chỗ trú quân rồi lấy cơm nhà bếp về mời tôi cùng ăn với hai chị em bộ phận văn thư luôn. Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 2-1979 xảy ra. Cơ quan trung đoàn bộ bị quân địch tập kích bất ngờ và đánh phá dữ dội. Rất nhiều cán bộ, chiến sĩ cơ quan trung đoàn bộ đều hy sinh. Hai cô gái bộ phận văn thư trung đoàn đã chiến đấu vô cùng dũng cảm. Họ đã huỷ được hết các tài liệu quan trọng, không để rơi vào tay quân giặc. Hai người đã bắn đến viên đạn cuối cùng và hy sinh anh dũng. Hôm đó là một ngày đầu tháng ba. Khi nghe tin M. hy sinh tôi đã viết bài thơ “Tiếng gọi”.
TIẾNG GỌI
Trước lúc hy sinh em cố gọi: "Mẹ ơi!"
Tiếng gọi chìm trong tiếng súng.
Tiếng gọi tắt nửa trên môi.
Người em gái tuổi chớm đôi mươi
Chưa một lần hò hẹn
Chưa biết đến nụ hôn
Em mang cả trinh nguyên vào lòng đất.
Trái tim em đạn thù găm nát
Nỗi đau từ đó vỡ ra,
Tình yêu từ đó vỡ oà
Em gửi lại cho những người ở lại.
Chúng tôi đứng sát bên nhau
Nòng súng vươn cao lặng lẽ cúi đầu
Phút cuối cùng tiễn đưa người em gái.
Đặt một cành lá xanh
Trên nấm mộ gió mưa tê tái
Tôi chợt nghe như em vẫn còn gọi mãi:
"Mẹ... mẹ ơi!".
Cuối tháng bảy năm 1979, tôi có quyết định về tập trung tại trường văn hoá của quân khu để ôn thi đại học. Trước khi rời Cao Bằng về xuôi, tôi và một người bạn của M. đến thăm nơi em đang yên nghỉ. Tôi đã viết cho em một bài thơ “Thôi em ở lại” để thay lời tạm biệt người con gái ấy.
Trước nấm mộ người con gái Kinh Bắc, tôi đọc bài thơ thứ hai này cho em nghe.
THÔI EM Ở LẠI
Vậy thôi em ở lại,
Bọn anh ngày mai về xuôi.
Hôm lên chúng mình có ba người
Một mình em con gái,
Quê em ở bến sông Cầu.
Em nói ngày ra quân năm sau
Đưa bọn anh về làng Lim đi hội
Nghe quan họ hát thâu đêm...
Thế mà bây giờ chỉ một mình em
Ở lại đây với núi rừng biên giới.
Trận đánh ấy vô cùng dữ dội
Giữa vòng vây quân giặc trùng trùng
Quả lựu đạn cuối cùng
Trên tay em chớp lửa
Quân thù kinh hoàng, tơi tả,
Em hoá thân vào trời đất bao la,
Nên ngày về xuôi chẳng còn đủ ba
Khuyết mất người em gái nhỏ.
Hai đứa anh ngồi bên nấm mộ
Bùi ngùi dặn em trước lúc chia tay:
"Thôi em ở lại đây
Với chập trùng núi đá
Với bạt ngàn hoa lau,
Để mùa Xuân trên bến sông Cầu
Thiếu một người đội nón quai thao đi hội...".
Đọc xong, tôi liền châm lửa đốt tờ giấy chép bài thơ thay một nén nhang tưởng nhớ và từ biệt người liệt nữ. Bài thơ cháy bỏng trên tay tôi, tàn tro rắc rơi trên mặt cỏ xanh.
Một năm sau, tôi về học tại một trường sĩ quan ở Bắc Ninh. Lần đầu tiên đi Hội Lim, giữa dòng người trẩy hội đông nghẹt, tôi lại nhớ đến M. Tôi cứ nghĩ như là em đang đưa tôi đi xem hội, nghe hát quan họ. Em vẫn ở đâu đó quanh đây, giấu khuôn mặt xinh đẹp sau vành nón nhỏ và sẽ bất ngờ xuất hiện ngay bên cạnh tôi với ánh mắt sáng long lanh, nụ cười tinh nghịch trên môi...
Và, tôi đã viết cho em bài thơ thứ ba này.
HỘI LIM TÔI LẠI ĐI TÌM
Hội Lim tôi lại đi tìm
Mong sao gặp ánh mắt em hôm nào,
Trốn sau vành nón quai thao
Thoảng nghe tiếng gọi ngọt ngào: "Người ơi..."
Hội đông, người chạm vai người
Không em tôi vẫn lẻ loi một mình
Cô đơn khóm trúc đầu đình
Buồn trông liền chị, liền anh dập dìu
Đêm cho câu hát liêu xiêu
Tay nâng vạt áo bao nhiêu hẹn hò.
Riêng tôi mong sự bất ngờ
Mà quên hội tự bao giờ đã tan...?.
Cả ba bài thơ trên có trong truyện dài "Cơn lũ đen" đã đăng trên Fb này. Và cả ba bài thơ ấy đều dành cho một cô gái, một người chiến sĩ quê miền quan họ Bắc Ninh, một người đồng đội dũng cảm của chúng tôi.
Viết thêm: Riêng bài thơ “Hội Lim tôi lại đi tìm” đã được đăng trên Báo Giáo dục & Thời đại và số Tết báo Pháp luật Việt Nam.
Hà Nội, 8-3-2017

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2019

Truyện thiếu nhi CHUỒN CHUỒN BAY THẤP

CHUỒN CHUỒN BAY THẤP 
Truyện thiếu nhi của Trọng Bảo

Không có mô tả ảnh.

Cái My đứng tựa cửa nhìn ra sân. Những con chuồn chuồn đang bay rất thấp. Vậy là trời sắp mưa. Cái My chợt nhớ tới bà nội và mẹ. Khi còn sống bà hay bảo: “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa”. Bà gọi bé My vào nhà ngay kẻo mưa ướt dễ bị cảm. Năm My lên sáu tuổi thì bà mất. Nó còn nhớ bữa theo mẹ ra thăm mộ bà trời âm u, chuồn chuồn bay rất thấp. Mẹ vẫn cứ lúi húi vun đất đắp mộ cho bà, My phải nhắc mẹ. Hai mẹ con vội vã thắp hương cho bà rồi về thế mà dọc đường vẫn bị mưa ướt. My càng không quên hôm ra đắp mộ cho mẹ chuồn chuồn cũng bay thấp nhưng nó không về. Mặc cho mưa rơi ướt sũng cả người My vẫn ngồi bên cạnh mộ mẹ không muốn về. Mẹ nó mất do tai nạn giao thông. Chiều hôm đó bố đèo mẹ lên thị trấn để vay tiền sửa nhà lúc về thì gặp mưa. Bố vội phóng xe vội vã chạy tránh mưa nên va phải phía sau một chiếc xe tải. Mẹ nó văng ra đập đầu xuống mặt đường. Vào đến bệnh viện thì mẹ mất. Bố bị thương nặng phải điểu trị mấy tháng liền mới khỏi.
Gần hai năm sau, bố lấy dì Tân. Ban đầu dì đối xử với My cũng không có gì ghê gớm lắm. Nhưng từ khi sinh cu Bi thì dì chẳng bao giờ còn ngó ngàng đến cái My nữa. Dì chỉ chú ý đến nó khi cần nó bế cu Bi. Dì không cho My đi học thêm để còn ở nhà chăm sóc cu Bi lại đỡ tốn tiền học. Bố cũng không phản đối. Từ ngày bị ngã xe bố cũng ốm yếu luôn nên chả dám quyết điều gì. Nhất nhất mọi việc bố đều nghe theo sự sắp đặt của dì.
Một hôm hai chị em ở nhà. Cu Bi khóc đòi chị bắt cho một con chuồn chuồn để chơi. Cái My phải để em ngồi trên thềm ra vườn xem có con chuồn chuồn nào đậu ở luống đậu đũa không. Khi My vừa tóm được đuôi một con chuồn chuồn thì nghe tiếng cu Bi khóc thét lên. Nó hốt hoảng chạy vào. Cu Bi bị ngã lao đầu xuống sân, sứt trán máu chảy ướt cả mặt. Cái My sợ quá gào to gọi chú Tuyên hàng xóm sang cứu. Chú Tuyên không ở nhà. Cái My vội bế xốc em lên chạy ra cổng. Giữa lúc đó thì dì về. Dì giằng lấy cu Bi rồi thẳng tay tát mạnh vào mặt nó mấy cái. Dì ôm cu Bi chạy ra trạm y tế xã. Cái My tối tăm mặt mũi. Nó lảo đảo ngã sấp xuống, đầu đập mạnh vào bậc thềm. Cái My ngất đi. Nó tỉnh lại được là nhờ những hạt mưa lạnh tạt vào mặt.
Sau bận ấy dì càng ghét nó. Những lúc bố đi vắng không có cơn cớ gì dì cũng đánh nó. Mỗi lần cái My bị đánh cu Bi đều khóc thét lên:
- Mẹ… đừng đánh chị My… để chị bắt chuồn chuồn cho cu…
Đêm ngủ cu Bi cũng mê sảng khóc: “Mẹ đừng… đánh… chị… My… đừng… đánh… chị… My…”.
Cái My ngày một gầy yếu. Nó cắn răng chịu những trận đòn của dì mà không hé răng, không kêu khóc. Nó luôn mặc quần áo dài để bố về khỏi nhìn thấy những vết thâm tím do bị đánh. Nhưng trong khi bố nó suốt ngày say rượu không biết gì thì cô Hiên nó lại biết. Cô Hiên là em gái ruột của bố. Cô đang công tác ở trên tỉnh. Cô phóng xe máy về giữa lúc trời đang nắng nóng oi bức. Cô đỗ xe ngay giữa sân rồi nhào vào nhà. Không chào anh trai đang ngồi uống nước ở xa-lông, cô lôi cái My đang ngồi học ở gian bên cạnh ra giữa nhà. Vừa vạch áo nó ra cô vừa gào lên:
- Anh nhìn đi… nhìn đi… anh để con bé nó khốn khổ thế này à! Anh có còn là bố nó nữa không?
Bố My lúng túng. Gần đây bố cũng nghe chuyện dì ghẻ, con chồng nhưng cũng không ngờ cái My lại bị đánh đập, đối xử quá tàn tệ đến thế.
Cô Hiên kiên quyết:
- Lần này tôi về tôi sẽ đưa cái My đi ở với tôi!
- Thôi thì tùy cô… tôi… tôi… cũng không còn đủ sức lo cho nó nữa rồi.
Cô Hiên kêu cái My gấp quần áo để đi với cô luôn. Bố cũng bảo nó đi với cô cho đỡ khổ. Cái My ngần ngừ:
- Con chờ dì và em về đã!
- Dì và em sang bên ngoại chiều mới về, chờ làm gì?
Bố gàn. Cái My mếu máo:
- Nhưng con đã hứa với em là chiều nay sẽ bắt cho nó một con chuồn chuồn để chơi bố ạ! Chiều em về không có nó sẽ khóc và giận con…
- Vớ vẩn! Nó còn bé biết gì. Thôi hai cô cháu đi đi, chuồn chuồn bay thấp là trời sắp mưa rồi đấy!
Cái My đi theo cô Hiên. Ngồi sau xe của cô ra đến giữa cánh đồng cái My vẫn ngoảnh lại chùi mắt và khe khẽ nói: “Đừng giận chị cu Bi nhé! Nhất định chị sẽ về bắt cho em một con chuồn chuồn ớt thật đẹp để em chơi!”.
Hà Nội, 17/8/2010

Thứ Tư, 26 tháng 12, 2018

Truyện thiếu nhi TIẾNG SÁO DIỀU

TIẾNG SÁO DIỀU 
Truyện thiếu nhi của Trọng Bảo 

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, bầu trời, đám mây, thiên nhiên và ngoài trời

Thằng Hạng mặt mũi đỏ căng, mồ hôi, mồ kê nhễ nhại chạy đến gọi tôi:
- Lão Câm đã vác diều ra đồng rồi! Đi thôi mày!
Tôi buông con dao đang thái bèo nhớn nhác ngó vào bếp. Mẹ tôi đang lúi húi nấu cơm chiều. Tôi xua xua tay ra hiệu cho thằng Hạng nói nho nhỏ thôi kẻo mẹ tôi nghe thấy. Đoạn, tôi túm tay thằng Hạng, hai đứa chạy tuông ra đầu ngõ.
Một đám trẻ con, người lớn đang rồng rắn đi theo sau lão Câm. Lão mặc độc một cái quần đùi nâu. Chiếc diều sáo kềnh càng lão vác trên vai. Đi sau lão là anh Cu Bân vai khoác một cuộn dây diều được vót bằng tre dẻo và dai. Tôi và Hạng nhanh chóng nhập vào đoàn người đi thả diều. Đoàn người đi về phía Nam của cánh đồng vừa gặt. Những gốc rạ đâm vào bàn chân trần đau đau, nhột nhột. Gió nồm nam lồng lộng thổi từ ngoài sông Đáy thổi vào, qua cánh đồng làng còn đẫm mùi lúa chín.
Đến gần cuối cánh đồng, lão Câm giơ bàn tay lên trời như định hướng và kiểm tra độ mạnh của gió. Đoạn lão ra hiệu cho anh Cu Bân chuẩn bị “đâm” diều, tức là phóng con diều lên trời. Muốn “đâm” được con diều sáo nặng lên bầu trời phải là một người khoẻ mạnh. Đồng thời, người giữ dây diều cũng phải khéo léo, điều chỉnh dây lèo luôn căng và phải biết kéo “nhử” cho cánh diều đón được đủ gió bay lên bầu trời.
Anh Cu Bân là người khoẻ mạnh, hiền lành thường được lão Câm giao cho nhiệm vụ “đâm” diều. Dây diều được buộc chặt vào một gốc duối già mọc trên bờ ruộng hay ven làng. Khi chiếc diều sáo đã “ăn” hết cuộn dây dài, bay lên đủ độ cao, định vị trên bầu trời thì tiếng sáo cũng ổn định.
Tiếng sáo diều vi vu trên cao vang xa khắp làng quê. Những đêm trăng sáng ngồi ở sân nhà mình thấy chiếc diều bay ngang trên đầu và tiếng sáo âm vang vào tận trong nhà khiến lòng người luôn thư thái, bình yên.
*
Lão Câm là người rất quý trẻ con. Tên thật của lão là gì đám trẻ con chúng tôi không biết. Lão sống một mình trong căn nhà tre nhỏ ở tít phía sau làng. Vì lão không nói được nên cả làng gọi lão là lão Câm. Tuy lão bị câm nhưng đôi tai của lão lại rất thính. Khi làm sáo diều chỉ thổi thử vào lỗ sáo là lão biết tiếng của nó sẽ hay, hay dở. Khi diều đã lên cao, nghe tiếng sáo hình như lão biết là độ ẩm không khí cao hay thấp, biết gió đang đổi chiều, ngày mai trời sẽ mưa, hay nắng. Lão thường ú ớ khua tay ra hiệu nhưng người làng ai cũng hiểu.
Lão Câm hay giúp bọn trẻ con chúng tôi làm những chiếc diều nhỏ. Lão lựa thanh tre, vót, uốn làm khung và phết giấy dán cẩn thận như khi làm con diều sáo lớn. Những chiếc diều lão làm giúp chúng tôi bao giờ cũng bay cao nhất. Chúng tôi cũng hay giúp lão đi tìm tre để vót dây diều, làm ống sáo. Tre dùng để vót dây diều không được già quá dễ gãy, non quá lại yếu, hay đứt. Tuỳ theo kích cỡ của diều mà vót sợi dây tre to, nhỏ. Những sợi dây diều vót bằng tre được lão Câm cuộn thành vòng cho vào nồi đồng lớn luộc từ sáu đến bảy tiếng trở nên mềm dẻo và rất bền.
Làng tôi xung quanh bao bọc bởi những bụi tre. Tre quây quanh bờ ao, bờ ruộng. Những cây tre dùng làm dây diều phải thật thẳng, thưa mắt, vỏ vây xanh đều, không sâu, kiến, không cụt ngọn. Nhà nào có cây tre được lão Câm xin làm dây diều cũng lấy làm vinh hạnh. Họ giúp lão chặt tre rồi vác về tận nhà cho lão. Sáo diều cũng được làm bằng tre. Đó là ống của những cây tre già, loại tre đanh, chắc, thịt màu đỏ nâu, khi gặp mưa gió không bị nứt nẻ, khoét làm sáo diều tiếng ấm, vang, ngân nga tha thiết như ai đang thổi giữa trời.
Tiếng sáo diều của lão Câm là ấn tượng êm ái suốt thời thơ ấu của tôi. Nó như tiếng hát thanh bình của quê hương tôi ngày ấy. Lần cuối cùng tôi được nghe tiếng sáo diều của lão Câm là một buổi chiều đầu thu. Tôi đang chuẩn bị nhập ngũ. Hôm đó tôi đang giúp mẹ dọi lại mái nhà bếp thì nghe tiếng sáo diều đột nhiên lạc tiếng. “Diều bị đứt dây rồi” - Tôi thảng thốt nghĩ. Các cụ thường nói “Diều lên mỏi cổ, diều đổ mỏi chân”. Diều bị đứt dây có khi phải đuổi theo qua mấy cánh đồng mới tìm được chỗ nó bị rơi. Theo hướng cánh diều bay và tiếng sáo kêu lạc điệu, trẻ con, người lớn làng tôi ý ới gọi nhau đi “đuổi diều” (tức là đi tìm cái diều bị rơi). Tôi buộc vội mối lạt cuối cùng rồi lao ra cánh đồng.
Tôi cùng mấy người lớn và đám trẻ con đạp trên những gốc rạ, đuổi theo hướng chiếc diều đang cuốn theo đoạn dây đứt bay sang làng bên cạnh. Khi chúng tôi tìm được và hí hửng vác chiếc diều quay về thì ai đó chợt hỏi:
- Ơ! Lão Câm đâu rồi nhỉ?
- Lão ấy vẫn chạy phía sau cơ mà?
Chúng tôi ngơ ngác nhìn quanh. Lúc nãy thấy lão lật đật chạy theo, tôi còn bảo: “Lão già yếu rồi chạy theo làm gì, chúng cháu sẽ đưa chiếc diều về cho lão!”.
Chúng tôi quay về làng. Chợt lại nghe tiếng người kêu cứu ồn ào ở phía bờ ngòi, nơi có những lò gạch của hợp tác xã. Tôi vội chạy ra. Tôi rẽ đám người đang xúm xít ven bờ ngòi len vào. Tôi giật mình khi nhìn thấy lão Câm tóc tai rũ rượi nằm sõng sượt im phăng phắc. Thì ra mải đuổi theo cánh diều rơi lão đã sa chân ngã xuống một cái hố sâu hoắm ngập nước người ta đào lấy đất làm gạch. Lão Câm ú ớ kêu cứu. Nhưng tiếng lão không phải là tiếng người nên đám thợ đang đóng gạch ở gần đấy không chú ý. Khi người ta phát hiện ra thì đã quá muộn mất rồi.
Bao năm đã qua rồi, ngồi viết lại truyện này, tôi vẫn thấy văng vẳng bên tai tiếng sáo diều của lão Câm dìu dặt trên bầu trời quê hương ngày nào...
Hà Nội, 17-8-2009

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2018

Truyện thiếu nhi CON ĐƯỜNG PHÍA TRƯỚC

CON ĐƯỜNG PHÍA TRƯỚC
Truyện thiếu nhi của Trọng Bảo

Trong hình ảnh có thể có: đám mây, bầu trời, ngoài trời và thiên nhiên


Trời đã tối từ lâu. Thằng Mẫn len lén quay về nhà. Trời thu se se lạnh. Đêm nay là trung thu mà mưa cứ rơi không dứt. Bầu trời xám xịt không thấy mặt trăng và chị Hằng ở đâu.
Qua khoảng sân nhỏ, bàn chân trần của thằng Mẫn giẫm vào những hạt cơm rơi vãi trên sân dính nhem nhép. Vào đến trong nhà, nó đứng lặng hồi lâu nhìn em gái đang nằm co quắp trên giường. Con bé vừa ngủ thiếp đi, vệt nước mắt còn hằn trên má. Ba gian nhà trống toang, trống toàng, quạnh quẽ. Mẹ nó vẫn đang lầm lũi nấu cám lợn dưới bếp. Còn bố nó giờ này chắc lại đang la cà ngoài quán rượu sau khi hất đổ mâm cơm của mấy mẹ con nó.
Thằng Mẫn lần trong túi áo lấy ra một tờ giấy bạc năm nghìn đồng. Nó gấp lại thật nhỏ đặt vào tay bé Mận rồi khẽ khẽ gập mấy ngón tay của em nắm lại giữ chặt để tờ giấy bạc khỏi rơi và đề phòng bố nhìn thấy. Bé Mận mơ ngủ gọi mẹ. Thằng Mẫn khe khẽ vuốt má em gái một cái rồi lách cửa đi ra.
Trong căn bếp nhỏ, bóng mẹ nó chập chờn méo mó in trên vách liếp. Nó muốn gọi mẹ một tiếng trước khi ra đi nhưng không dám. Nó sợ mẹ sẽ không cho nó bỏ nhà đi như thế.
Thằng Mẫn quyết rời quê ra thành phố kiếm tiền. Nó không thể chịu đựng được mãi cái cảnh bố nó suốt ngày say rượu, hành hạ mẹ và anh em nó. Trận đòn chiều nay của bố càng thôi thúc nó phải ra đi. Nó biết khi không tìm thấy nó, mẹ và em chắc sẽ hoảng sợ lắm. Nhưng ý chí của nó đã quyết. Nó cắn chặt môi lầm lũi bước ra cổng.
*
Chiều nay, đội dịch vụ thủy nông bơm hút nước hồ Chằm đổ lên đồng chống hạn. Khi nước hồ gần cạn, cả làng ào xuống hôi cá. Cá thả nuôi thì người ta đã vớt hết, hồ chỉ còn lại một ít cá hoang. Đám đông quần thảo mò cá làm bùn sục ngầu lên. Lũ cá rô, cá trạch, cá trê ngoan cố chui sâu dưới bùn cũng phải ngoi cả lên. Thỉnh thoảng, một con cá bị dồn đuổi giẫy đành đạch là cả đám đông lại hò hét ào đến tranh cướp nhau. Ai nấy đều lấm lem bùn đất. Thằng Mẫn bất ngờ tóm được một con cá quả to. Con cá giẫy đành đạch. Đám người xông đến. Thằng Mẫn bị xô đẩy, đạp ngã dúi dụi úp mặt xuống bùn. Nhưng nó kiên quyết không chịu buông con cá. Ngón tay cái của thằng Mẫn thọc vào miệng con cá quả, ngón chỏ móc vào mang nó giữ chặt. Răng con cá nghiến vào ngón tay nó đau điếng. Có tiếng người quát:
- Thằng Mẫn bắt được con cá rồi! Để cho nó đem lên bờ.
Mọi người bấy giờ mới chịu tản ra tiếp tục mò cá. Thằng Mẫn như vừa chui lên từ bùn đất. Quần áo nó sũng bùn. Nó ôm con cá quả lao lên bờ. Con cá có dễ phải đến hai cân. Nó giẫy giụa làm ngón tay thằng Mẫn bật máu.
Con cá ấy thằng Mẫn bán được năm mươi nghìn đồng. Nó vui lắm. Thế là ngày mai sinh nhật bé Mận, nó sẽ có tiền mua cho em một bộ quần áo mới. Mai lại đúng là phiên chợ, nó sẽ dẫn em gái ra thị trấn. Bé Mận thích bộ quần áo nào, Mẫn sẽ mua cho em bộ đó. Bộ quần áo trẻ con chỉ khoảng ba, bốn chục nghìn. Nếu còn thừa tiền nó sẽ mua kem hai anh em cùng ăn. Hay là sẽ mua cho em một cái váy. Bé Mận đang học mẫu giáo. Hôm trước, đi học về nó phụng phịu nói với anh: “Em không có váy, nên cô giáo ứ cho vào tốp múa!”. Thằng Mẫn thương em lắm. Từ khi mới sinh ra em đã chịu khổ. Mẹ đau ốm thiếu sữa. Bố thì mất việc lại ra vào rượu chè, nghiện ngập lấy đâu tiền mua quần áo đẹp cho các con. Bé Mận chưa được một ngày sung sướng. Còn nó - thằng Mẫn nghĩ - nó dù sao thì cũng có những ngày vui vẻ, đủ đầy. ấy là khi bố nó đang còn là công nhân kỹ thuật cao của một công ty liên doanh với nước ngoài. Cái công ty ấy có một nhà máy to ở ngay đầu làng, chuyên sản xuất các loại ti-vi, tủ lạnh. Bó nó lương cao. Mẹ nó là giáo viên trường tiểu học. Thằng Mẫn được chiều chuộng, nâng niu. Quần áo chưa cũ đã bỏ. Giầy dép chưa mòn đã cho. Khi còn học lớp mẫu giáo nó muốn gì được nấy. Học lên cấp một, nó được bố mẹ đón đưa, mỗi lần đạt điểm giỏi đều được thưởng tiền.
Nhưng rồi nhà nó dần dần sa sút. Sa sút ấy lại bắt nguồn chính từ sự đủ đầy, tăng trưởng. Cái công ty liên doanh sản xuất ti-vi, tủ lạnh càng làm ăn phát đạt, doanh thu, lãi xuất ngày càng cao. Tất nhiên, lương thưởng của công nhân cũng tăng lên. Dần dần người ta quên đi những đồng tiền Việt lẻ. Những tờ trăm, tờ chục USD cũng trở thành quen quen trong ví người Việt Nam. Khi đời sống kinh tế phát triển ắt xuất hiện các loại dịch vụ. Dịch vụ từ thị trường công cộng tiến dần vào tư gia. Dịch vụ thường là tốt. Nó làm cho cuộc sống con người khá hơn, tốt hơn, nhàn hạ hơn, hoàn thiện hơn. Nhưng cũng có những loại “dịch vụ” thì lại làm cho con người ta suy đốn, đời sống xã hội lụi tàn đi.
Chung quanh cái nhà máy nửa xã hội chủ nghĩa, nửa tư bản chủ nghĩa đầu làng xuất hiện nhiều loại dịch vụ mà người nông dân lần đầu tiên mới được biết. Đó là các loại dịch vụ mát xa, karaokê, tắm nóng lạnh, cà phê… đen - tức là nơi người ta ngồi uống cà phê với gái trong bóng tối.
Sẵn tiền trong tay, nhiều người dần quen với các loại dịch vụ. Là công nhân kỹ thuật bậc cao, bố thằng Mẫn luôn rủng rỉnh tiền trong túi. Bố nó cũng thử rồi đâm ra nghiện các loại dịch vụ. Từ tắm nóng lạnh sau ca đến mát xa, karaokê. Thường là vậy. Dịch vụ là một ngành công nghiệp không sản sinh ra vật chất mà chỉ tiêu tốn vật chất. Nó chuyển hóa tiền bạc của tầng lớp người này sang những người khác. Đừng vội khoe lương cao, bổng hậu, hãy cứ thử qua các loại “dịch vụ” rồi sau hãy nói.
Số tiền hàng tháng bố đưa cho mẹ ít dần. áo quần của thằng Mẫn cũ dần. Bữa sáng trước kia nó đòi phở là có phở, muốn trứng vịt lộn là có trứng, giờ thì cơm rang cũng nhạt mỡ. Mẹ nó có bầu cũng chẳng còn tiền để bồi dưỡng thêm. Bố nó chỉ đưa đủ tiền ăn hàng tháng. Chút tiền ăn ấy rồi cũng không còn. Mẹ nó hỏi mới biết bố nó ham các loại dịch vụ quá nên tiêu tốn sạch lương, thưởng. Bố nó ăn cắp linh kiện vật tư của nhà máy đem bán để có tiền bao các cô trong quán đèn mờ. Bảo vệ nhà máy phát hiện, bố nó bị đuổi việc. Thế là nguồn sống nhà nó chỉ còn trông vào mấy trăm nghìn đồng tiền lương giáo viên bậc tiểu học của mẹ. Khi sinh bé Mận, mẹ nó ốm hậu sản tưởng chết. Bố nó đã không giúp được gì lại còn sinh ra nghiện ngập, rượu chè. Cả ngày bố la cà ngoài quán. Suốt ngày bố nó say. Lúc nào bố về nhà cũng chỉ là để tróc nã vợ con tiền uống rượu. Các thứ đồ đạc trong nhà dần dần đội nón ra đi hết. Mẹ nó khổ lắm. Ăn uống thiếu thốn chả đủ sữa cho con bé Mận bú. Nhiều lần mẹ nhịn đói đi dạy, thiểu lực, ngã khụy xuống ngay trên bục giảng. Bé Mận năm tuổi mà bé loắt choắt. Nó chưa một lần có được manh áo đẹp. Ít khi thấy nó cười. Cứ mỗi khi nhìn thấy bố về nhà là nó sợ chết khiếp. Nhiều lần nó chứng kiến cảnh bố mẹ giằng xé nhau, hất đổ mâm cơm đang ăn. Có lần sợ quá, nó chui vào đống rơm trốn rồi thiếp đi, mẹ và anh tìm mãi mới thấy.
Ngày mai là bé Mận tròn sáu tuổi. Thằng Mẫn thương em lắm. Năm mươi nghìn đồng bán cá nằm trong túi áo nó. Nghĩ đến lúc bé Mận mặc cái váy mới cong tay múa, thằng Mẫn lại thấy rộn rực trong lòng. Nó co chân nhảy tưng tưng vào ngõ.
Chợt có tiếng quát:
- Thằng kia đứng lại!
Thằng Mẫn giật bắn người nhận ra tiếng bố. Nó ấp úng:
- Bố gọi con có việc gì ạ?
- Việc gì à? Đưa ngay tiền cho tao!
- Tiền nào ạ?
- Tiền… tiền… mày vừa bán con cá lúc chiều cho bà Nụ hiểu không?
- Nhưng đấy là tiền của con chứ!
- Của mày à?
Bố nó sấn lại túm lấy cổ nó. Thằng Mẫn giẫy giụa. Nó cố giữ chặt túi áo. Bố nó nghiến răng giật tay nó ra. "Xoạc", vạt áo nó rách toạc.
Thằng Mẫn vẫn nắm chặt tờ giấy bạc. Bố nó thì cố bẻ, cạy mấy ngón tay nó ra.
- A… thằng này láo… Dám chống lại tao hả?
- Bốp! - Một cái tát khiến thằng Mẫn loạng choạng, mắt nổ đom đóm. Nó ngã dúi dụi xuống rãnh nước. Tờ năm mươi nghìn rơi ra. Bố nó nhặt tờ bạc giơ lên nhìn rồi cười ha hả. Thằng Mẫn van vỉ:
- Bố ơi! Con xin bố! Bố đừng lấy tiền của con… Tiền ấy con dành mua cho em Mận bộ quần áo mới. Ngày mai là sinh nhật em sáu tuổi…
- Sinh nhật với chả sinh nhiệc! Vẽ chuyện, vớ vẩn mãi quen…
Bố nó vừa lẩm bẩm, vừa khật khưỡng đi ra cổng. Thằng Mẫn ngồi thẫn thờ bên vệ đường. Cái tát của bố còn đau ê ẩm nhưng nó không khóc. Nhưng nghĩ đến em gái thì nước mắt nó ứa ra giàn giụa. Thế là ngày mai bé Mận không có quần áo mới rồi.
Thằng Mẫn uể oải chống tay đứng dậy. Nó thất thểu bước về nhà. Nhìn mảnh bát và những hạt cơm vương vãi khắp sân, nó biết bố nó vừa mới về nhà xong. Thằng Mẫn vội đi tìm em. Bé Mận đang ngồi thu lu ở góc thềm vẻ mặt hoảng sợ. Mẹ nó thì đang thái rau lợn dưới bếp. Thằng Mẫn bế em vào nhà. Nó lau nước mắt cho em rồi hỏi:
- Em đói không?
Con bé gật đầu rồi thỏ thẻ:
- Bố hất đổ nồi cơm rồi anh ạ.
- Anh đi mua bánh mỳ cho em ăn nhé!
- Anh cho em đi với nhé!.
Thằng Mẫn dắt em ra ngoài đầu làng mua cho em cái bánh mỳ một nghìn. May còn sáu nghìn đồng bán mớ cua, cá vụn thằng Mẫn lận ở tay áo xắn lên nên bố nó không biết. Bé Mận ăn hết cái bánh mỳ thì hai mắt díu lại buồn ngủ. Thằng Mẫn bế em lên giường, vỗ vỗ vào lưng dỗ dành nó ngủ. Con bé cứ nắm chặt tay anh. Chờ em ngủ hẳn, thằng Mẫn mới gỡ tay mình ra. Nó lặng lẽ nhìn em gái. Ước mơ mua cho em một bộ quần áo mới đã không thành, nhưng ý chí, quyết tâm bỏ nhà ra đi của thằng Mẫn đã chín. Nó nhè nhẹ xoa má em một cái rồi quả quyết bước ra cửa. Nhưng ra đến sân, giẫm vào những hạt cơm nhem nhép, sực nhớ ra còn năm nghìn đồng trong túi, nó liền quay lại. Ngày mai là sinh nhật của bé Mận.
*
Thằng Mẫn ra đến đầu làng thì trời bắt đầu mưa phùn. Có lẽ là mưa xuân. Đường làng láng ướt. ánh điện nhạt nhòa hắt ra từ những ngôi nhà ven đường. Trời còn lạnh. Thằng Mẫn cố khép vạt áo lại. Cái áo bị bố giật rách toạc không đủ ấm. Thằng Mẫn rảo bước. Chợt có tiếng gọi:
- Mẫn ơi đứng lại… dì bảo!
Thằng Mẫn ngạc nhiên dừng lại. Nó nhận ra bóng dì Miên đang đuổi theo. Thằng Mẫn và dì Miên cùng tuổi, cùng học lớp 5. Hai đứa cứ mày, tao quen rồi. Đây là lần đầu tiên Miên xưng "dì" với nó. Thằng Mẫn ấp úng:
- Dì ạ!
- Định… đi hả Mẫn?
- Vâng… cháu…
- Này cầm lấy! Có tiền mà đi tàu hoả.
Dì Miên vừa nói vừa dúi vào tay thằng Mẫn tờ mười nghìn. Dì Miên cởi cái áo ấm cũ đang mặc khoác lên người thằng Mẫn nói thêm: “Trời vẫn còn lạnh lắm đấy!". Thằng Mẫn “vâng” một tiếng rồi lý nhí: “Chào dì… cháu đi!”. Nó biết dì Miên cũng khổ lắm. Ông trẻ bên ngoại mất, dì còn nhỏ mà đã phải lao động, tần tảo như người lớn.
Thằng Mẫn bước qua cái cổng làng có cây đa cổ thụ, rễ rủ loà xòa. Nó nhìn về hướng thành phố xa xa. Một quầng sáng đùng đục hắt lên bầu trời. Nó cũng chưa biết mình sẽ làm việc, kiếm tiền ra sao ở cái nơi đô hội ấy. Nó sẽ làm nghề nhặt rác, đánh giầy, hay bán báo. Làm gì cũng được. Nhưng nhất định nó sẽ phải có đủ tiền để mua cho bé Mận một bộ quần áo mới. Ý nghĩ ấy thôi thúc nó đi tới một chân trời xa, một con đường phía trước rất dài...
Tháng 3-2005