Thứ Ba, 5 tháng 6, 2018

Tiểu thuyết TRĂNG QUÊ (phần 4)

TRĂNG QUÊ (phần 4)
Tiểu thuyết của Trọng Bảo

Trong hình ảnh có thể có: bầu trời, đêm, thiên nhiên và ngoài trời

Lễ ra mắt trung đội dân quân trực chiến được tổ chức rất trọng thể tại khu rừng cọ phía sau làng Hạ. Buổi sáng mùa thu trời quang quẻ, ấm áp. Nắng sớm mai bừng lên. Rừng cọ xanh thắm rì rào reo trong gió nhẹ.
Thành phần trung đội dân quân chủ yếu là các đoàn viên thanh niên trong chi đoàn làng Hạ. Trung đội trưởng chính là chị Tình, bí thư chi đoàn. Xã đội trường Phạm Bản là người trực tiếp chỉ đạo công việc hàng ngày của trung đội dân quân trực chiến. Tại buổi lễ ra mắt trung đội dân quân làng Hạ còn có ông chủ tịch xã Trần Khuông và một sĩ quan từ huyện đội về dự. Viên đại úy này có vóc dáng lùn tịt, đậm chắc với nước da đen chùi chũi nhưng khẩu lệnh của anh ta thì lại rất dõng dạc, dứt khoát. Đây đúng là một nhà quân sự chính quy.
Đội hình trung đội tập hợp thành ba hàng ngang. Phía trước đội hình của họ là một khẩu 12ly7 chĩa nòng lên trời trông rất uy nghiêm. Sau khi anh xã đội trưởng công bố quyết định thành lập trung đội dân quân trực chiến là phát biểu động viên của chủ tịch xã, cuối cùng là phần quán triệt phương án tác chiến, hướng dẫn sử dụng các loại súng bộ binh bắn máy bay tầm thấp của anh đại úy cơ quan huyện đội.
Hừng “thọt” được biên chế vào tiểu đội 3. Trong đội hình tập hợp hắn đứng ở hàng dưới ngay sau lưng cái Liên. Suốt buổi lễ hắn chẳng nghe, nhìn được điều gì rõ ràng ngoài việc dán mắt vào lưng cái Liên. Cái Liên mặc chiếc áo phin mỏng màu trắng ngà làm nổi rõ cả các thứ “phụ tùng” bên trong. Nó đang mang cái nịt vú màu đen. Hừng “thọt” nuốt nước bọt mấy lần. Trong đầu óc hắn lúc này thì mọi phương án tác chiến của anh đại úy lùn đang phổ biến chẳng có ý nghĩa gì ngoài những ý nghĩ trong đầu. Trong khi đó thì đứng ở hàng phía cái Liên cũng đang nghĩ đến chuyện khác. Nó chợt ghé tai chị Nhân nói nhỏ:
- Cái ông đại úy kia lùn tịt thế kia chắc là “súng ống” của ông ấy cũng ngắn tun tũn thôi chị ạ!
Chị Nhân ngạc nhiên:
- Ông ta đang đeo khẩu CKC dài ngoẵng, báng súng gần chạm đất thế kia mà mày bảo là ngắn à?
Cái Liên huých nhẹ vào vai chị Nhân cười khúc khích:
- Không phải là khẩu CKC ấy mà là khẩu súng của ông ta đang giấu trong… người ý.
- Súng gì? - Chị Nhân ngơ ngác hỏi lại. Cái Liên ậm ờ:
- Súng… ấy mà chị không hiểu à?
Chị Nhân chợt hiểu. Chị thò tay sang véo mạnh vào lườn cái Liên một cái. Cái Liên đau quá kêu “á” lên rõ to khiến trung đội trưởng Tình phải quay lại nghiêm giọng khẽ nhắc nhở:
- Các đồng chí trật tự để nghe cho rõ các phương án chiến đấu, hiểu chưa?
- Vâng ạ!
Cái Liên đáp và cố làm ra vẻ nghiêm túc nhưng trong đầu óc nó thì sự tập trung thì vẫn chưa thật tốt cho lắm. Ông đại úy thì vẫn thao thao nói về các phương án, kế hoạch bắn máy bay địch bay thấp bằng sũng bộ binh. Ông ta chĩa khẩu CKC lên trời xoay xoay như đang rê theo máy bay địch làm mẫu hướng dẫn dân quân. Giọng ông đại úy oang oang vang trong thung lũng. Trong khi đó thì từ phía cái lán tạm làm nơi nấu nướng của bộ phận hậu cần mùi thịt chó đã tỏa ra thơm ngào ngạt. Thằng Hừng “thọt” tiếp tục nuốt nước bọt. Nó đang thèm thịt sống và cả thịt chín đến dỏ dãi. Nhìn như hút mắt vào tấm lưng tròn thon thả của cái Liên thằng Hừng nghĩ thầm: “Ở cái làng Hạ này con gái vất vả mà sao đứa nào cũng xinh đẹp, nước da trắng nõn. Vậy mà mình ngu, tự dưng đi lấy con gái thiên hạ về làm vợ. Con vợ mình da thì đen chùi trũi, tính tình thì cáu cẳn, mặt mũi lấm lem cả ngày, chỉ được mỗi chuyện ấy là giỏi. Giá mà nó được một phần của con Liên này thôi thì tốt quá!”…
Cái Liên đứng im chưa được một lúc đã ngọ ngoạy. Nó lại nghiêng người sang ghé tai chị Nhân thì thầm:
- Em không việc gì đâu chị ạ!
- Chuyện gì thế?
- Thì… em không bị đâu chị ạ. Em chỉ bị… chậm mấy hôm thôi, may quá!
Chị Nhân thì thào:
- Thế thì may quá! Lần sau mày phải cẩn thận đấy!
- Em biết rồi. Em vẫn cẩn thận đấy chứ… nhưng lúc ấy có muốn cẩn thận cũng chả kịp được… hi… hi…
- Mày thì chỉ được mỗi cái chuyện ấy… là giỏi thôi!
Cái Liên cười khi khí bảo:
- Nhưng chuyện… ấy thích lắm chị ạ!
Chị Nhân chưa kịp phản ứng thì có tiếng của trung đội trưởng Tình hô to “giải tán”. Buổi lễ công bố thành lập và quán triệt nhiệm vụ của trung đội trực chiến đã xong. Mọi người tóe ra cười nói vui vẻ chuẩn bị cho bữa liên hoan làm lễ xuất quân.
Bữa liên hoan của trung đội dân quân trực chiến làng Hạ diễn ra ngay trong thung lũng rừng cọ. Bàn tiệc là những tấm lá cọ vừa chặt còn xanh ngăn ngắt trải xuống đất. Thịt chó vừa nấu chín còn bốc hơi ngào ngạt. Thịt luộc thì để ngay trên lá chuối tươi, thịt nấu nhựa mận, canh xáo thì đổ sẵn trong ăng-gô, trong chậu thau. Là bữa liên hoan nên cơm không phải độn sắn, độn ngô. Mùi cơm nấu bằng gạo kho lâu ngày có vị mốc hôi hôi. Đám dân quân trẻ ồn ào ăn uống. Có một ít rượu sắn trong mấy chiếc bi-đông được truyền tay nhau mỗi người nhấp một ngụm. Ông chủ tịch, anh xã đội trưởng và ông đại úy huyện đội ngồi ở phía cuối thung lũng. Họ vừa ăn vừa tranh thủ bàn thêm một số công việc chuẩn bị cho những ngày tiếp theo. Tình hình đã căng thẳng lắm rồi. Bọn Mỹ tăng cường bắn phá miền Bắc, trước sau gì thì cây cầu sắt bắc qua sông Phó Đáy trên quốc lộ 2C này cũng bị ném bom bắn phá.
Chưa tàn bữa liên hoan cái Liên đã bấm chị Nhân:
- Chiều nay được nghỉ hai chị em mình vào rừng chơi đi!
- Lỡ có chuyện gì đột xuất thì sao?
Thấy chị Nhân đắn đo, cái Liên xua xua tay:
- Không có việc gì đâu! Tụi mình chỉ là dân quân, khi có lệnh thì tập trung, lúc không có nhiệm vụ thì thành dân, vẫn phải ra đồng, lên nương cày cấy, cuốc đất chứ là vương tướng gì đâu.
- Nhưng bây giờ là thời chiến rồi, lơ mơ là bị kỷ luật đấy!
- Kỷ luật là cái gì. Mấy ông chỉ huy còn đang nhai thịt chó kia kìa… Đi thôi chị ơi.
Vừa nói cái Liên vừa lôi chị Nhân ra khỏi đám ăn uống. Hai người đi sâu vào trong rừng. Đến chỗ hẻm núi đá có khe nước chảy ra trong vắt cái Liên cởi áo ra bảo:
- Tắm tý cho mát chị ạ! Mùi mắm tôm, thịt chó nó quyện vào quần áo hôi quá. Với lại lúc nãy ngồi gần tay Hừng “thọt” hắn ta lợi dụng chúc rượu chạm tay vào lưng em mấy lần. Tay hắn bốc thịt chó, toàn mỡ thôi, kinh quá.
Chị Nhân bảo:
- Thế thì mày tắm đi, qua quýt thôi còn về nhé.
- Vâng! Chị canh chừng cho em tắm nhé! Cẩn thật kẻo có thằng nào nó nhòm trộm…
Cái Liên nói xong thì cũng tụt quần xong. Nó lao xuống nước nhanh như một con rắn. Dòng nước trong xanh càng nổi rõ cơ thể trắng trẻo của cái Liên. Sau một lát vùng vẫy thỏa thích trong dòng nước mát cái Liên trèo lên một mỏm đá giữa dòng suối nhìn chị Nhân rồi chụm chân đứng nghiêm giơ tay chào theo kiểu nhà binh. Chị Nhân trố mắt nhìn nó. Con bé đẹp quá. Một cơ thể con gái đã nảy nở đủ đầy, tròn trịa, sáng lên lung linh giữa núi rừng hoang vắng nhìn thật đấy mà như trong mơ…
Có tiếng máy bay ầm ì từ xa vọng đến. Chị Nhân vội giục cái Liên lên bờ mặc quần áo. Nó vội lội ào vào bờ. Gió mùa thu thổi qua thung lũng tràn vào từng khe núi. Gió mơn man trên đôi vai trên của người con gái. Cái Liên ép tay tay sát người so vai lại khiến bộ ngực vươn lên, căng mọng láng ướt nước suối rừng mát trong…
(còn nữa) Hà Nội, 10-2015

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2018

Tiểu thuyết TRĂNG QUÊ (phần 3)


TRĂNG QUÊ (phần 3)
Tiểu thuyết của Trọng Bảo

Ngay sau lễ truy điệu liệt sĩ, ông chủ tịch và anh xã đội trưởng chờ gặp ông Đạt, đội trưởng đội sản xuất làng Hạ để bàn công việc gấp. Hai ông cán bộ xã sốt ruột đứng đợi ở cổng nhà bà Thêm. Ông đội trưởng thì còn đang mải dài dòng kêu gọi bà con xã viên trong đội sản xuất nhanh chóng biến đau thương thành hành động cách mạng sau đó lại còn phân công người thì đi cày, kẻ đào mương, cuốc đất mãi mới xong.
Về đến nhà nhà ông Đạt, chủ tịch xã Trần Khuông vội vớ ngay cái điếu bát để trên bàn mồi liền hai điếu thuốc lào, hóp má rít òng sọc vẻ rất ngon lành. Suốt buổi lễ truy điệu liệt sĩ Hà Quang Nghĩa ông thèm thuốc lào quá nhưng không dám bỏ ra ngoài rít thuốc như đám thanh niên. Anh xã đội trưởng không hút thuốc lào. Anh nhón tay rút một điều thuốc là Tam Đảo trong túi áo ra châm lửa.
Sau khi thỏa mãn hơi thuốc lào ba người mới bắt đầu bàn công việc. Ông chủ tịch xã chợt nhớ ra liền bảo ông đội trưởng:
- Anh sang chỗ nhà đám mời thêm trưởng công an xóm và cô Tình, bí thư chi đoàn về dự họp luôn!
Ông Đạt lại lật đật đi ra cổng. Một lát sau ông cùng anh Kỉnh, trưởng công an, chị Tình bí thư chi đoàn làng Hạ cùng vào nhà. Họ ngồi xuống quanh chiếc bà trà cũ kỹ. Ông chủ tịch xã nhìn mọi người một lượt rồi trịnh trọng:
- Đây là một việc bí mật quân sự! Đề nghị các ông không ghi chép, không phổ biến… - Ngừng một lúc nhìn hai người đang chăm chú nghe, ông chủ tịch hắng giọng nói tiếp: - Thời gian tới có thể giặc Mỹ sẽ bắn phá miền Bắc ác liệt hơn, hủy diệt ghê gớm hơn. Chúng đang muốn biến miền Bắc nước ta trở về thời kỳ đồ đá… Khu vực xã ta sẽ trở thành trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ vì các xe vận tải quân sự sẽ lưu thông theo quốc lộ 2C lên Tuyên Quang, sang Yên Bái để tránh phải qua cầu Việt Trì là trọng điểm, túi bom của bọn chúng. Thêm nữa nay mai xưởng sửa chữa xe tăng của bộ đội cũng sẽ được sơ tán về khu vực núi Mồng thuộc xã ta. Trước sau gì thì bọn gián điệp cũng sẽ phát hiện ra và chỉ điểm báo cho máy bay địch đến bắn phá. Vì thế, cán bộ chúng ta phải chuẩn bị tư thế sẵn sàng, không được hoang mang, dao động…
Nghe ông chủ tịch xã phổ biến tình hình, ông Đạt rất ngạc nhiên, thắc mắc. Ông nghĩ: “Mình chỉ là cái thằng đội trưởng đội sản xuất cùng hai cán bộ cấp thấp nhất mà sao lại được dự một buổi họp quan trọng thế này nhỉ?”. Nhưng ông không dám hỏi tại sao, chỉ im lặng lắng nghe.
Sau khi phổ biến, quán triệt tình hình, chủ tịch xã Trần Khuông bảo:
- Bây giờ xã đội trưởng Phạm Bản sẽ bàn việc cụ thể cho đội sản xuất làng Hạ.
Xã đội trưởng Phạm Bản mở cái xà-cột may bằng vải bạt đeo kè kè bên hông lấy ra một cuốn sổ ghi chép. Không nhìn vào sổ nhưng xã đội trưởng Phạm Bản vẫn nói vanh vách:
- Xã ta nằm dưới đường bay của máy bay Mỹ từ trên dãy núi Tam Đảo lao xuống bắn phá thủ đô. Máy bay giặc Mỹ từ tàu sân bay bay vào đất liền thường tập kết trên bầu trời khu vực dãy núi Tam Đảo để tránh lưới lửa phòng không của ta trước khi lao xuống không kích Hà Nội. Những chiếc bị thương, bị cháy chúng cũng sẽ cố bay lên khu vực núi Tam Đảo phi công nhảy dù xuống rừng rậm dễ lẩn trốn, chờ cứu hộ… Vì thế, theo chỉ thị của cấp trên, xã ta sẽ thành lập một trung đội dân quân thường trực, sẽ được trang bị một khẩu đội 12ly7 xây dựng trận đia ở khu Đồi Ma đón lõng bắn máy bay địch bổ nhào từ Tam Đảo xuống đánh Hà Nội, đồng thời bảo vệ cây cầu sắt qua sông Phó Đáy khi con đường 2C này trở thành tuyến giao thông huyết mạch lên Tuyên quang, Yên Bái. Đơn vị dân quân cũng làm nhiệm vụ cảnh giớ, phát hiện máy bay địch từ xa và phát lệnh báo động phòng không để nhân dân kịp xuống hầm tránh trú bom đạn… - Nói một hồi dài đến đây, anh xã đội trưởng ngừng lại. Anh vớ chén nước chè nhấp một ngụm cho thanh giọng rồi trình bày tiếp: - Làng Hạ gần khu vực Đồi Ma và cây cầu sắt nhất nên lực lượng thanh niên làng Hạ sẽ là nòng cốt của trung đội dân quân thường trực vì thuận tiện việc sinh hoạt, đảm bảo hậu cần, hết giờ trực chiến là ra ruộng sản xuất được ngay, tay cày luôn bên tay súng. Làng Thượng, xóm Mới ở xa sẽ thành lập các đơn vị dân quân cơ động sẵn sàng chi viện cho các đơn vị bộ đội, vây bắt giặc lái Mỹ nhảy dù…
Nghe phổ biến đến đây ông Đạt chợt hiểu lý do tại sao mà ba cán bộ tép riu của làng Hạ lại được tham dự cuộc họp quan trọng thế này. Ông cảm thấy hơi sợ hãi. Nếu đúng như thế thì làng ông sẽ trở thành một nơi rất nguy hiểm. Máy bay phản lực của bọn Mỹ hiện đại, tốc độ âm thanh, mấy khẩu súng bộ binh bắn lên chỉ vuốt đuôi, phủi bụi cho nó, không khéo lại làm hiệu bảo nó quẳng bom xuống xóm làng.
Chủ tịch xã Trần Khuông rít thêm một điếu thuốc lào rồi hỏi:
- Lực lượng thanh niên làng Hạ hiện tại thế nào?
Chị Tình bí thư chi đoàn đáp ngay:
- Báo cáo chủ tịch! Thanh niên làng Hạ chủ yếu là nữ. Nam giới đi bộ đội hết cả rồi ạ.
- Nam nữ thì cũng như nhau. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Cô báo cáo cụ thể xem nào?
- Chi đoàn có ba mươi nữ, bốn nam. Chủ yếu là học sinh mới học xong phổ thông về sinh hoạt đoàn tại địa phương.
- Tốt! Cô lập danh sách rồi cùng với xã đội trưởng thống nhất biên chế thành một trung đội dân quân có ba tiểu đội trực chiến. Sau khi có quyết định chính thức của xã và cơ quan quân sự ta sẽ tổ chức lễ ra mắt và thực hiện nhiệm vụ ngay, tình hình cấp bách lắm rồi!
Trưởng công an làng Hạ vội lên tiếng:
- Cần phải loại bỏ những thanh niên chậm tiến, những đứa hèn nhát ra khỏi danh sách…
- Đúng… cần những đoàn viên thanh niên ưu tú vào trong đội hình chiến đấu. Đây là một vinh dự và thiêng liêng. Nếu làng Hạ không đủ người thì ta huy động làng Thượng và xóm Mới! - Chủ tịch Khuông nói thêm.
- Không cần đâu ạ! Làng Hạ vẫn đảm bảo quân số đủ thành lập trung đội dân quân trực chiến. Chỉ có điều là cần có ba nam giới, biên chế vào ba tiêu đội để họ canh gác ban đêm ở khu Đồi Ma. Đám con gái hay sợ ma lắm ạ.
Ông chủ tịch phì cười:
- Thời đại nào rồi mà còn sợ ma?
Ông trưởng thôn giờ mới lên tiếng hỏi:
- Làng ta thanh niên nam đi hết rồi làm gì còn ba người để vào dân quân?
- Thưa bác! - Chị Tình giải thích: - Một là anh Hừng thọt chân không phải đi bộ đội, hai là thằng Nam đang học lớp tám thì bỏ học, ba là thằng Biên cháu bà Thêm mới sơ tán từ tỉnh về ở với bà ấy ạ! Thằng Nam rất gan lỳ, không sợ cái gì. Có lần đi đơm đó bắt cá đêm nó nằm trên cái mộ xây xi-măng giữa đồng ngủ cả đêm để giữ lờ cá. Đêm hôm mà bảo nó chuyển công văn qua bãi tha ma cũng được…
Ông đội trưởng nhăn mặt:
- Hai thằng thanh niên mới lớn thì chả nói làm gì. Còn thằng Hừng thọt thì không ổn.
- Tại sao ạ?
- Thằng này thọt chân không phải đi bộ đội nhưng nó nổi tiếng là trai gái, máu dê, vợ nó mấy lần không chịu nổi phải bỏ về bên ngoại. Cho nó vào bộ phận trực chiến cùng đám con gái tơ hơ hớ thế không khéo sau mấy tháng nó chả biến một trung đội thành hai trung đội đấy!
Chị Tình vung tay lên quả quyết:
- Bác khỏi lo, cháu sẽ quản chặt không cho anh ta làm bậy! Nếu dám thò ra là… cắt ngay…
Xã đội trưởng Phạm Bản xua tay:
- Thôi việc biên chế trung đội dân quân thường trực sẽ bàn thêm cho kỹ sau. Việc cuối cùng tôi xin nhắc cán bộ ở làng Hạ là phải hết sức cảnh giác. Làng Hạ bây giờ là trọng điểm của xã rồi, cần chú ý việc phòng gian, bảo mật. Vừa rồi ở chỗ đám truy điệu liệt sĩ tôi thấy có rất nhiều người lạ thế mà đám thanh niên trong làng cứ bô nói chuyện lấy được bao nhiêu bó lá ngụy trang cho đoàn xe quân sự qua làng, đào được bao nhiêu hầm hào tránh trú máy bay rồi ghê nhất là chúng kháo nhau tận mắt thấy những chiếc xe tăng trong của bộ đội to như thế nào khi đến giúp xưởng sửa chữa xe thiết giáp đào hầm, xây dựng lán trại…
Chủ tịch xã Trần Khuông nghe vậy liền đập mạnh tay xuống bàn làm mấy cái chén nảy lên ngã lăn, nước đổ tung tóe:
- Thế thì nguy hiểm, mất cảnh giác quá! Tại sao các cán bộ đội đội sản xuất, công an xóm không nhắc nhở họ?
- Vẫn có nhắc nhở, quán triệt thường xuyên đấy nhưng khi vui chuyện thì bọn thanh niên chúng nó rất hay quên.
- Công tác phòng gian bảo mật ở làng Hạ thế nào rồi?
Nghe chủ tịch xã truy vấn, anh công an xóm liền lấy từ trong túi áo ngực ra một cuốn sổ bìa đen nhỏ bằng bàn tay. Anh mở sổ ra rồi đọc:
- Những nhân vật khả nghi cần xác minh là… mụ Chuyên, người bên kia sông thường hay đem các loại hàng hóa vào làng bán như mắm tôm, cá khô, muối ăn. Mụ này rất hay la cà hỏi han đủ thứ chuyện xảy ra trong làng. Người đáng khả nghi thứ hai là lão Vận. Lão này nhà ở bên bờ sông Phó Đáy, làm nghề quét chợ. Nhiều lần người ta trông thấy lão này chôn giấu vật gì đó ngoài bãi sông, đã đào lên kiểm tra chỉ toàn là những hạt nhãn, hạt vải. Rất có thể lão chôn giấu tài liệu, vũ khí bí mật… người đáng nghi nữa là một người đàn bà tên là Nhu. Chị này nhiều lần đang trưa nắng, giờ cao điểm vẫn mặc áo trắng đi lên cây cầu sắt. Nghi ngờ là để báo hiệu mục tiêu cho máy bay Mỹ ném bom xuống cầu. Đã theo dõi, kiểm tra, nhiều người nói chị này phát bệnh tâm thần do bị chồng bỏ…
Chủ tịch xã Trần Khuông kết luận:
- Chuyện thành lập trung đội dân quân làng Hạ, chuyện nhân sự và chuyện phòng gian, bảo mật bàn đến đây thôi. Bây giờ tôi phải về trụ sở để báo cáo đồng chí bí thư. Xã đội trưởng Bản sẽ bàn thêm với cô Tình về tổ chức biên chế đơn vị dân quân. Khi nào có quyết định thành lập chính thức, chúng ta sẽ tổ chức buổi ra mắt thật trọng thể, hiểu chưa?
Nói xong, chủ tịch xã Trần Khuông xốc lại chiếc xà-cột làm bằng da, đeo chiếc đài Xiêng-mao qua vai rồi bước ra cửa. Ông Đạt và anh công an xóm cũng bước ra ngoài sân để cho anh xã đội trưởng và cô bí thư chi đoàn bàn thêm. Ông Đạt dặn anh công an xóm chú tâm tìm sẵn lấy một con chó. Buổi ra mắt thành lập trung đội dân quân trực chiến thế nào cũng cần đến nó…
(còn nữa) Hà Nội, tháng 10-2015


Thứ Tư, 30 tháng 5, 2018

Tiểu thuyết TRĂNG QUÊ (phần 2)

Trong hình ảnh có thể có: bầu trời, thiên nhiên và ngoài trời
TRĂNG QUÊ (phần 2)
Tiểu thuyết của Trọng Bảo

Khi chị Nhân đến nhà anh Nghĩa thì gần như cả làng Hạ đã có mặt tại đấy. Chị lách qua đám trẻ con đứng lố nhố ngoài cổng đi vào trong sân. Trong ngôi nhà tre lợp lá cọ cũ kỹ đám họ hàng thân thích của liệt sĩ đang gào khóc. Bà Thêm, mẹ anh Nghĩa đang lăn lộn giữa nhà. Tóc tai bà rũ rượi. Bà quỳ dưới đất, vừa đập hai bàn tay xuống nền nhà vừa gào khóc:
- Ông trời ơi là ông trời! Cảnh nhà tôi đã mẹ góa, con côi thế này sao ông còn nỡ bắt nốt thằng con của tôi đi trời ơi là trời! Sao ông lại ăn ở bất công như thế?
Ông Đạt, đội trưởng đội sản xuất làng Hạ an ủi:
- Bà ơi! Anh Nghĩa đi chiến đấu, hy sinh vì nước, vì dân, không phải là do ông trời bắt bớ gì đâu bà ạ!
Bà Thêm không nghe lời ông đội trưởng. Bà vẫn cứ gào khóc oán trời, hận đất. Tiếng khóc của bà mỗi lúc một thêm thê thảm. Ông Đạt đành mặc kệ bà Thêm quay ra ngoài sân. Nhìn thấy chị Nhân ông hỏi ngay:
- Chi đoàn thanh niên đi đâu hết rồi?
- Chúng cháu đây ạ! - Chị Tình, bí thư chi đoàn làng Hạ đang đứng ở tận góc sân vội lên tiếng. Ông Đạt ra lệnh:
- Chi đoàn tổ chức làm rạp, mượn bàn ghế để chuẩn bị đón các đoàn đại biểu đến viếng liệt sĩ. Cử ngay mấy cô cậu làm nhiệm vụ lễ tân, đun nước, đón khách rõ chưa?
- Vâng ạ!
Chị Tình đáp và lập tức gọi đám thanh niên làng Hạ đến phân công đi đẵn tre, chặt lá cọ để làm rạp. Hai thằng thanh niên choai choai ôm hai gốc cau ở góc sân nhoài người lên. Một loáng chúng đã néo được hai cây tre lên hai thân cây cau gác qua sân sang mái nhà. Đoạn, chúng lao cây que lên để làm rạp. Đám con gái nẹp các cặp lá cọ đưa lên làm mái che. Cái rạp dựng xong làm căn nhà đã tối lại thêm tối, chỉ nghe tiếng kêu khóc vọng ra mà chẳng thấy rõ mặt người. Nhà bà Thêm chỉ có hai mẹ con. Anh Nghĩa là con duy nhất thuộc diện tạm hoãn đi bộ đội. Bố anh là du kích bị Tây bắn chết trong trận càn “chim giẽ giun” lên vùng trung du. Khi bố chết anh vẫn còn đỏ hỏn mẹ địu đi tản cư chạy giặc mãi tận vùng Yên Sơn, Tuyên Quang. Học hết cấp ba, anh Nghĩa viết đơn bằng máu xung phong nhập ngũ. Bà Thêm khóc hết nước mắt can ngăn nhưng ý chí của anh không lay chuyển. Anh giấu mẹ cái giấy báo đi du học tại Liên-xô vì được ưu tiên là con liệt sĩ. Hôm anh lên đường đột nhiên có con chim lợn kêu eng éc ngay phía sau nhà khiến bà Thêm càng thêm lo lắng. Ngày nào bà cũng thắp hương nhang cầu trời khấn phật, gọi vong linh ông bà tổ tiên và chồng phù hộ cho con tránh được hòn tên, mũi đạn nơi sa trường. Vậy mà những lời khẩn cầu thành kính của bà đã không linh nghiệm, anh Nghĩa vẫn chết như bao đồng đội khác. Anh chết vì trúng bom ở khu bốn khi đang trên đường hành quân vào mặt trận. Nếu tính đúng ra thì anh chưa đủ một tuổi quân đã đủ tuổi liệt sĩ rồi.
Tiếng khóc và tiếng kể lể thê thảm của bà Thêm khiến dân làng Hạ ai cũng bùi ngùi xúc động.
Ông Đạt vẫn oang oang giữa nhà đám. Ông quát đuổi lũ trẻ con về bảo chúng đưa nhau đi sơ tán lên rừng đề phòng máy bay Mỹ vì sắp đến giờ cao điểm. Ông giục bọn thanh niên đun nước, đón khách, khênh vòng hoa. Những vòng hoa đem viếng tự làm bằng đủ các loại hoa rừng, hoa dâm bụt, hoa cúc dại mọc ở các bờ rào trong làng, bờ mương, ven đồi.
Chị Nhân và cái Liên chịu trách nhiệm đun nước uống ở phía sau nhà. Trời lạnh nên ít người uống nước. Các đại biểu ban ngành đoàn thể đến viếng, chia buồn rất nhanh rồi đi ngay. Họ còn lắm việc và cũng ngại ở lâu chỗ đám tang đông người khi tiếng tàu bay của giặc Mỹ đã ầm ì từ xa vọng đến. Chỉ có người làng Hạ là luôn có mặt bên tang chủ. Làng Hạ bao đời nay vẫn thế. Những lúc hoạn nạn, khó khăn vẫn xúm quanh, nhẫn nại chia xẻ với nhau. Họ sẽ còn ở nhà bà Thêm cho đến khi làm xong lễ truy điệu cho liệt sĩ Hà Quang Nghĩa dù máy bay Mỹ gầm gào, lởn vởn trên đầu.
Khi các phích nước sôi đã được đổ đầy, nồi nước vối đã khênh để ở góc sân cho nguội, cái Liên liền kéo chị Nhân ra mé đồi phía sau nhà ngồi nói chuyện. Nó bảo có một chuyện rất quan trọng. Chị Nhân và cái Liên rất thân nhau. Nhà chị và nhà Liên sát vách, chỉ cách một rặng rào cây dâm bụt. Hầu như tối nào cái Liên cũng sang nhà chị Nhân ngủ chung. Đêm trăng sáng hai chị em ngồi ở cầu ao cùng tán gẫu, ngắm chị hằng, nghe hết chương trình “đọc truyện đêm khuya” từ chiếc loa truyền thanh trên ngọn cây gạo cổng nhà ông đội trưởng rồi mới đi ngủ. Cái Liên cùng lớp với thằng Thứ. Hai đứa vừa mới kết thúc năm học cuối cấp ba xong.
Hai chị em ra đến bờ con mương nước mé đồi. Cái Liên cứ ấp úng mãi mới dám nói:
- Có lẽ… em… bị… rồi chị ạ!
- Bị cái gì?
- Thì… - Cái Liên cúi mặt nhìn vội xuống bụng mình. Chị Nhân giật mình hỏi lại:
- Thế là thế nào?
- Thì em bị… chậm mấy ngày rồi…
- Nhưng… làm sao lại thế hả?
- Là tại em cả…
- Thế với thằng nào?
- Thì còn ai vào đấy nữa! Hắn còn là em họ xa đằng nhà chị đấy…
Cái Liên cứ ậm ừ lúng búng trong miệng. Chị Nhân biết ngay cái Liên đang nhắc đến ai. Đó chính là thằng Xuyên cùng học một lớp với cái Liên và cả thằng Thứ nữa. Chị Nhân ngơ ngác:
- Thằng Xuyên cũng đã lên đường nhập ngũ từ hôm kia rồi còn gì?
- Thì đúng vậy! Đêm trước khi lên đường hắn còn năn nỉ em “kỷ niệm” cho hắn thêm một lần nữa nhưng em không cho. Em nghe nói người sắp đi xa mà làm chuyện ấy là thường hay gặp điều sui rủi lắm.
Con ranh này mà biết nhiều chuyện ghê. Nghe nó nói chị chợt nhớ tới chuyện thằng Thứ sáng sớm nay ngoài ruộng bèo hoa dâu. Chị hơi đỏ mặt và chợt thấy rân rân trên ngực. Cái Liên lại hỏi:
- Hắn đi xa rồi! Em biết làm sao bây giờ?
- Mày liều quá em ạ! Nhỡ mà vác bụng lên thì chết với chi đoàn, với đội sản xuất đấy!
Cái Liên ngơ ngác nhìn chị Nhân:
- Của… em, em muốn làm gì thì làm, có liên quan gì đến chi đoàn, đến đội sản xuất chứ?
Chị Nhân cốc nhẹ vào đầu cái Liên:
- Mày còn nhớ chuyện bà Quỳnh ngày xưa chửa hoang không! Hồi ấy tao với mày còn bé tối nào chả kéo nhau ra sân kho hợp tác nghe đội sản xuất, công an xã, công an xóm họp kiểm điểm, tra hỏi bà ấy vì sao chồng chết hai năm rồi mà lại đẻ ra một thằng con út. Họ truy vấn bà ấy ngủ với ai để bắt đi cải tạo lao động đấy.
- Nhưng bây giờ khác rồi chị ạ!
- Khác là khác thế nào! Nhưng bí thư chi đoàn quán triệt mãi về lẽ sống cao đẹp, thuyết trình về “tình yêu trong sáng” tại sao mày vẫn còn dám làm bậy như thế hả?
- Thì em cũng nhớ lời của bí thư chi đoàn chúng ta đấy chứ! Nhưng hắn ta thì cứ không chịu nhớ chị ạ!
Cái Liên im lặng một lát rồi kể tiếp:
- Nguyên nhân tại là cái hôm bộ đội về chiếu phục vụ dân làng Hạ bộ phim “Những kẻ báo thù không bao giờ bị bắt” đấy chị ạ. Hôm ấy, đang xem phim thì trời đổ mưa. Bãi chiếu phim trong rừng lá cọ nên tiếng mưa rơi trên lá ào ào. Mọi người vội vàng lấy áo mưa ra che, trùm kín đầu để xem phim. Mấy tháng mới có một tối chiếu bóng, phim lại hay đến thế. Không ai bỏ về, cũng chẳng ai biết người ngồi bên cạnh mình làm gì nữa vì ai cũng trùm ni-lông kín người. Em và hắn che chung một miếng ni-lông đen. Hai đứa ngồi sát vào nhau. Mỗi đứa dùng một tay giữ một góc ni-lông nâng cao lên cho khỏi ướt. Đang xem phim hay tự dưng hắn đặt tay lên đùi em. Em gạt tay hắn ra được một lúc hắn lại làm thế. Khi hắn luồn được tay vào bụng thì em ngồi im, người cứng hết lại vì sợ, không phản ứng được nữa… Thế là hắn được đà càng lấn tới. Suốt buổi chiếu phim hôm ấy em không còn biết trên màn ảnh chuyện gì đang diễn ra nữa chị ạ!
Cái Liên thôi không kể tiếp nữa. Chị Nhân lén nuốt khan một cái. Chị rất muốn nghe tiếp câu chuyện của nó nhưng không dám đề nghị. Mãi sau cái Liên mới kể tiếp là ngay sau buổi chiếu phim ấy hai đứa đã đưa nhau lên đồi sim đến gần sáng mới lén về nhà… Thảo nào sau buổi chiếu bộ phim “Những kẻ báo thù không bao giờ bị bắt” ấy cứ chờ mãi không thấy nó về ngủ chung? - Chị Nhân nghĩ thầm. Hôm ấy chị bị mệt nên không đi xem phim.
Cái Liên đang định kể tiếp câu chuyện thì trong nhà bà Thêm có tiếng ông đội trưởng oang oang kêu gọi toàn thể xã viên đội sản xuất làng Hạ hãy biến đau thương thành hành động cách mạng, ra sức thi đua tăng gia sản xuất, xây dựng hậu phương lớn vững mạnh chi viện cho tiền truyến lớn đánh giặc. Vậy là lễ viếng và truy điệu liệt sĩ đã xong rồi. Chị Nhân vội kéo cái Liên chạy vào nhà bà Thêm để cùng chi đoàn dỡ rạp, thu dọn nhà cửa.
Đến đầu nhà bà Thêm, cái Liên níu chị lại nói nhỏ:
- Em không sợ gì cả nhưng nếu có thế nào thì chị cũng phải bảo vệ em nhé!
Chị Nhân gật đầu. Cái Liên khẽ mỉm cười rồi ghé tai chị thì thầm: “Lúc nào em kể tiếp chuyện của chúng em cho chị nghe!”. Chị Nhân làm bộ nghiêm nét mặt. Hai người cùng lấy lại dáng vẻ nghiêm trang trước khi bước vào sân nhà bà Thêm...
(còn nữa) Hà Nội, 10-2015

Thứ Tư, 23 tháng 5, 2018

Tiểu thuyết TRĂNG QUÊ (phần 1)

TRĂNG QUÊ (phần 1)
Tiểu thuyết của Trọng Bảo

Đã cuối mùa thu. Trăng cuối tháng vẹt lõm như một chiếc liềm cùn qua bao mùa gặt hái. 
Cánh đồng làng Hạ đẫm ướt sương đêm. Sắp sáng rồi. Tiếng gã gáy đổ dồn trong xóm nhỏ. Phía đông chân trời đã hừng lên màu sáng nhạt. Một cơn gió lạnh ùa về trên cánh đồng làng. Sương mù ẩm ướt bay tạt qua mặt người.
Chị Nhân quấn lại chiếc khăn voan mỏng quanh cổ. Đoạn, chị cúi xuống sắn cao hai ống quần. Có tiếng chân người bước nhẹ phía sau. Không ngoảnh lại nhưng chị biết chắc đó là thằng Thứ. Sáng nay, theo sự phân công của bí thư chi đoàn nó và chị sẽ cùng đi chăm sóc mấy ruộng thả bèo hoa dâu. Chiều hôm trước những ruộng bèo hoa dâu được bón bằng một lớp tro bếp. Sáng hôm sau phải dùng sào nứa dập cho tro bếp trên cánh bèo rơi xuống nước thì bèo mới sống được. Chị Nhân đang định quặc thằng Thứ về việc ra ruộng muộn thì nó đã đến sát ngay sau lưng. Khi chị Nhân chưa kịp đứng thẳng người lên thì thằng Thứ đã áp sát vào người. Hơi thở nó gấp gáp, hổn hển. Chị Nhân vừa định hỏi thì thằng Thứ đã vòng tay qua lưng ôm lấy hai bầu vú của chị bóp chặt. Chị Nhân giật mình hoảng hốt đứng thẳng người dậy. Thằng Thứ vẫn ôm chặt lấy ngực chị. Chị Nhân lúng túng vừa gỡ bàn tay chắc khỏe của thằng Thứ vừa hét lên:
- Đồ khốn nạn! Mày làm cái trò gì thế?
- Chị ơi… em… em…
- Mày… mày…
Chị Nhân thấy tức nghẹn ở cổ. Chị không dám lớn tiếng quát mắng thằng Thứ ầm ĩ nữa vì phía trên con đường ra cánh đồng thấp thoáng có bóng mấy người đang dắt trâu, vác cày bừa đi làm sớm. Chuyện tày đình thế này mà lỡ có ai nhìn thấy, nghe thấy thì chết. Chị bức bối vớ cái sào nứa rồi lội ào ào xuống ruộng bèo hoa dâu. Thằng Thứ cũng vội vàng nhặt một cây sào bước xuống ruộng để dập bèo. Vừa làm nó vừa ấp úng nói:
- Em.. em xin lỗi chị… Sáng nay em phải lên đường nhập ngũ rồi… Chị… chị đừng báo cáo với chi đoàn chuyện lúc nãy nhé. Em cầu xin chị đấy!
Chị Nhân vẫn chưa hết cơn bàng hoàng thảng thốt vì hành động táo tợn, bất ngờ của thằng Thứ. Chị càng thêm bất ngờ vì tin thằng Thứ đi bộ đội gấp thế. Hóa ra nó được gọi bổ sung nhập ngũ. Đợt giao quân hôm qua xã Hòa Sơn có một thằng trốn đi lính và hai thằng khi lên đến huyện đội tập trung khám lại sức khỏe thì bị loại. Miền Nam đang chuẩn bị cho đợt tổng tiến công vào đầu mùa Xuân năm tới cho nên cần thêm nhiều binh lực. Vì thế, các địa phương miền Bắc ra sức thi đua “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Xã nào thiếu người khi giao quân hoặc có ai bị loại thì lập tức gọi người khác thay thế ngay. Những thanh niên gọi nhập ngũ bổ sung thường là gấp gáp như thế, gia đình nhiều khi chẳng kịp liên hoan, chi đoàn chẳng kịp trao tặng phẩm cho họ trước lúc lên đường. Thằng Thứ là người cùng làng, sinh hoạt cùng chi đoàn với chị Nhân. Nó kém chị gần hai tuổi và học sau một lớp. Tối hôm qua, nó mới được ông xã đội trưởng đem lệnh gọi hỏa tốc đến thông báo hôm nay lên đường nhập ngũ. Vậy mà nó vẫn đi làm bèo hoa dâu với chị Nhân sáng nay.
Hai người dập hết mấy sào bèo hoa dâu thì trời sáng hẳn. Chị Nhân và thằng Thứ rửa chân rồi bước lên bờ ruộng. Thằng Thứ len lén nhìn chị Nhân rồi ấp úng nói:
- Em về để chuẩn bị lên huyện tập trung…
- Ừ… - Chị Nhân gượng gạo trả lời. Thằng Thứ lại nói:
- Chị tha lỗi… bỏ qua cho em nhé!
- Ừ…
Chị Nhân cũng lúng túng. Mặt chị nóng phừng phừng khi nhớ lại chuyện lúc nãy. Thằng Thứ vẫn chưa yên lòng. Nó ngắc ngứ mãi rồi mới nói tiếp:
- Chị ơi! Em ra đi lần này là có đi mà không có về nữa đâu chị ạ!
Chị Nhân giật mình:
- Tại sao lại như thế?
- Vì… vì… hôm nọ dì em đi xem bói. Họ nói số em rồi sẽ… sẽ… “sinh bắc-tử nam”…
- Chỉ mê tín vớ vẩn…
- Có lẽ đúng như thế chị ạ! Em cũng có linh cảm như thế... - Thằng Thứ nói. Mặt nó buồn rười rượi. Ánh mắt nó nhìn xa xăm về phía chân trời. Mãi sau nó lại nói, giọng vẻ bùi ngùi: - Bọn bạn cùng làng chúng nó bảo đời em rồi sẽ không… không… biết… biết đàn bà là thế nào… nên lúc nãy em mới liều lĩnh như thế… Em biết lỗi rồi, chị tha cho em nhé!
Nói xong, thằng Thứ bật khóc. Nói giơ bàn tay còn lấm bùn lên chùi mắt. Mặt nó càng thêm nhem nhuốc. Chị Nhân phát hoảng. Chị chỉ còn thấy ái ngại mà không còn giận thằng Thứ nữa. Nhưng chị cũng không biết nói thế nào để an ủi thằng Thứ. Tâm trí chị vẫn chưa thể quên được chuyện vừa xảy ra lúc nãy. Đây là lần đầu xảy ra đối với chị. Giữa lúc ấy thì phía trên con đường ra đồng có tiếng người quát rất to:
- Những đứa nào kia! Giữa đồng trống hơ trống hoác mà ăn mặc quần áo trắng toát lại không đeo vòng lá ngụy trang như thế hả. Máy bay Mỹ nó trông thấy quẳng xuống cho vài quả bom thì chết hết cả nút bây giờ?
Đó là tiếng ông đội trưởng sản xuất làng Hạ. Thằng Thứ vội bảo chị Nhân:
- Thôi em về trước để kịp lên trên huyện tập trung đây! Chị ở lại mạnh khỏe nhé…
Nói xong nó liền ném cái sào nứa rồi co giò chạy về phía làng. Chị Nhân vội gọi với theo:
- Thứ ơi! Nếu có vào trong Nam chiến đấu mà gặp anh Luận nhớ nói là chị vẫn…
- Vâng! Em nhớ rồi ạ.
Tiếng thằng Thứ từ trên đường vọng xuống cánh đồng. Nghe giọng nó vang lảnh lói nhưng có vẻ phấn chấn hơn. Mặt nước ruộng rung rinh. Chị Nhân bước dọc bờ con mương nước nhỏ. Chị chợt rùng mình vì những cơn gió lạnh đầu mùa. Chị nhìn xuống ngực mình và giật mình khi thấy dấu bàn tay của thằng Thứ còn hằn trên màu áo trắng. Chị vội lội xuống mương vốc bùi quệt lên áo. Đi làm ruộng quần áo vấy bẩn bùn là bình thường còn để thế này mà về làng ai nhìn thấy thì dễ sinh lắm chuyện. Chị Nhân là một người con gái đẹp vào loại nhất nhì của làng Hạ. Gần hai mươi tuổi rồi chị chưa một lần đụng chạm với đàn ông. Khi anh Luận người yêu của chị lên đường nhập ngũ hai người cũng chỉ dám cầm tay nhau thôi. Vậy mà lúc nãy thằng Thứ dám bóp ngực chị thật chặt, thật mạnh. Nó liều lĩnh quá, bậy quá. Nghĩ vậy nhưng giờ thì chị không còn thấy ghét nó nữa. Chị thấy thương nó. Biết đâu lời nó nói đúng. Nó sẽ không trở về và chị cũng không còn gặp lại nó nữa. Chị chợt nhớ tới anh Luận. Năm ngoái, cũng vào một đêm về sáng cuối mùa thu như hôm nay chị và anh Luận cùng ra đồng chăm sóc ruộng bèo hoa dâu của chi đoàn. Chị cố tình đi sát bên anh, chạm vào vai anh. Khi cúi xuống dùng sào dập lên mặt ruộng bèo hoa dâu chị nhiều lần quay sang phía anh cố ý để ngực áo trễ xuống, thấp thoáng phô khuôn ngực trắng hồng tròn trịa nở nang. Vậy mà anh không dám một lần liều lĩnh, mạnh mẽ như thằng Thứ hôm nay. Đêm trước khi anh Luận lên đường nhập ngũ, hai người đã ngồi bên nhau trên đồi sim sau nhà. Trăng cuối tháng sáng xanh và lạnh. Chị ngả đầu vào vai anh, nghe được cả tiếng hơi thở của anh dồn dập. Vậy mà anh cũng chỉ dám cầm tay chị. Hôm sau anh lên đường rồi, chị mong chờ một điều gì đó xa xôi. Chiến tranh chẳng biết thế nào, người ra đi thì nhiều, người trở về thì ít. Mà người về thì cụt què, tàn tạ. Có anh thương binh trở về làng đám con gái vây quanh nhưng cứ thờ ơ không màng đến. Hình như bom đạn chiến trường đã cướp mất chức năng đàn ông của anh ấy rồi. Nhiều người làng rỉ tai nhau nói thế. Năm tháng chiến tranh, làng vắng bóng đàn ông. Đám con gái, đàn bà phây phây, tràn đầy sinh lực suốt ngày đi cày, đi cấy, gánh phân, đổ ải, tối đến lại túm tụm ngồi ở sân kho hợp tác xã hò hát, ngắm trăng suông, khuya trật mới chịu về ngủ, sáng mai lại ra đồng. Làm lụng vất vả, ăn uống kham khổ nhưng họ vẫn cứ nảy nở, tròn đầy căng ứ. Trong những câu chuyện của họ giữa đêm trăng lạnh có bao nỗi khát khao, bao điều thèm muốn, mong chờ những điều xa xôi, bí ẩn.
Chị Nhân vừa về đến nhà thì nghe tiếng kêu trời, gọi đất thất thanh, tiếng kêu khóc ời ời ở phía cuối làng. Chị chạy vào buồng thay vội cái áo trắng có dấu bàn tay của thằng Thứ. Chị tìm miếng xà phòng 702 xát qua quýt đoạn cho cái áo vào chậu thau ngâm rồi chạy ra cổng. Tiếng người làng nháo nhác bảo nhau: “Xã vừa xuống báo tử anh Nghĩa đấy!”. Đúng là tiếng kêu khóc là từ phía nhà anh Nghĩa ở cuối làng. Chị Nhân thấy hơi run run. Anh Nghĩa cùng đi bộ đội với anh Luận, người yêu của chị. Mới tròn một năm đi xa vậy mà anh ấy đã thành liệt sĩ rồi.
Chị Nhân bước thập thõm trên con đường làng đầy những vết chân trâu.
Chị đi về phía cuối làng Hạ. Người làng cũng đang vội vã kéo nhau đi về phía ấy. Mọi người đến để an ủi, xẻ chia nỗi đau mất mát với người thân của anh Nghĩa. Đó là một việc vẫn thường diễn ra trong làng những năm tháng chiến tranh.
Gió lạnh tiếp tục tràn về xóa nốt những ngày ấm áp cuối mùa thu…
(còn nữa) Hà Nội, tháng 10-2015


Thứ Hai, 25 tháng 12, 2017

Tản văn NHỚ TÂY BẮC

         NHỚ TÂY BẮC
         Tản văn của Trọng Bảo

         Lâu lắm mới trở về Yên Bái
         Qua bến Âu Lâu nhớ một người...
         Câu thơ khiến lòng tôi cứ nao nao. Ô! Lâu quá rồi không về Yên Bái, không lên Tây Bắc. Thế mà cũng đã bốn mươi năm rồi tôi không có điều kiện trở lại nơi đã từng có một khoảng thời gian sống và gắn bó. Đó là cái thời trai trẻ, vô tư. Ngày ấy, sau chiến tranh, chúng tôi lên Yên Bái chặt cây, dụng nhà. Những người lính trẻ sống giữa đại ngàn rừng già, thác lũ. Rời tay súng, cầm tay dao, tay cuốc. Trung đoàn Tân Trào chúng tôi đóng quân ở nông trường chè Trần Phú (huyện Văn Chấn-Yên Bái).
         Chúng tôi ở trong nhà các công nhân nông trường. Tôi và anh bạn cùng tên, người Việt gốc Hoa - Hiên Giang Bảo ở nhà chị Tuyết. Ngày ngày chúng tôi vào rừng chặt gỗ, khai thác tre nứa để làm lán trại. Thực ra đó là trại giam để đưa số ngụy binh từ miền Nam ra cải tạo, học tập. Cuộc sống lao động vất vả, khó khăn nhưng cánh lính trẻ chúng tôi lúc nào cũng vui nhộn. Cái dư âm Đại thắng mùa Xuân 1975 vẫn còn lâng lâng trong tâm trí của những người lính.
          Cả một đoàn quân trai trẻ đóng quân giữa một nông trường có đến ngót một ngàn cô gái trẻ chưa chồng thật là vui và cũng xảy ra nhiều chuyện. Tôi nhớ ngày ấy có cô Luyến là công nhân đội 1 hay sang nhà chúng tôi chơi. Luyến xinh gái mà ngót ba mươi tuổi vẫn chưa lấy được chồng. Cái nông trường giữa vùng núi sâu có đến chín mươi phần trăm là nữ này kiếm được một tấm chồng không phải là dễ. Luyến có vẻ thân với Hiên Giang Bảo. Nhưng Hiên Giang Bảo cũng đã có người yêu ở quê nhà rồi. Nhìn cô gái dáng cân đối, khuôn ngực tròn vo, luôn vui tươi, nhanh nhẹn, có một nét gì đó rất đặc biệt, luôn khắc vào trí nhớ tôi đến bây giờ vẫn không quên.
          Tôi nhớ những lần đi bè trên ngòi Lao nước trong xanh. Qua những đơn vị sản xuất của nông trường gặp những tốp con gái khoả thân tắm suối. Giữa dòng nước trong veo những bộ ngực thanh xuân căng tròn, dập rờn thấp thoáng. Tôi cũng không bao giờ quên một lần gặp lũ lớn, chiếc bè nứa của tôi xuống thác vỡ tung. Tôi chỉ còn bám vào được một bó nứa to. Nếu không có Hiên Giang Bảo ném cho cây sào chống bè dự bị để chèo chống thì có lẽ cả tôi và bó nứa sẽ bị dìm xuống đáy vực sâu.
           Ngày ấy Tây Bắc toàn rừng già, chỗ nào cũng có hoa phong lan. Dọc hai bên bờ suối nhiều loại hoa phong lan nở rất đẹp, hương rất thơm. Là người rất thích phong lan (Đến bây giờ vẫn thế. Ngày nghỉ nào tôi cũng lang thang ở chợ phong lan, chả có tiền mua thì ngắm ké vậy). Hôm nào đi rừng, tôi cũng đem về một cụm phong lan đang nở hoa rất đẹp. Tôi và Hiên Giang Bảo còn có nhiều kỷ niệm như những lần cùng nhau đi trèo cây lấy hoa phong lan. Hôm ấy, tôi và Hiên Giang Bảo trèo lên một cây gỗ khô. Lúc gỡ được chùm hoa phong lan thì cái cây khô long gốc nghiêng ngả. Hiên Giang Bảo trèo phía trên ngọn cây, tôi phía dưới. Hai thằng toát mồ hôi, không dám nói to, thì thào bảo nhau cố thật nhẹ nhàng tụt xuống. Vừa xuống tới gốc thì cái cây khô gãy nhào. Thật hú vía. Sau này tôi và Hiên Giang Bảo mỗi người chuyển đi một đơn vị khác nhau. Trước khi chiến tranh biên giới xảy ra Hiên Giang Bảo được cho ra quân. Nó vẫn ở lại Việt Nam sinh sống không chạy về Trung Quốc như số người Hoa khác. Vì thế khi cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc (2-1979) xảy ra tôi và Hiên Giang Bảo không lâm vào tình huống chĩa súng vào nhau.
           Tôi cũng không bao giờ quên những gian khổ ngày ấy. Câu nói truyền miệng của cánh lính "Muỗi Tà De, ve Khe Hiền" đến bây giờ tôi vẫn nhớ. Tôi cũng nhớ mãi tấm lòng của bà con, anh chị em công nhân nông trường chè Trần Phú và các làng bản khu vực này. Những năm trước, nghe tin lũ quét cuốn trôi hàng chục ngôi nhà, làm hàng chục người dân thị trấn Ba Khe bị chết và mất tích, tôi thấy nhói trong tim. Thị trấn Ba Khe nằm bên bờ suối. Ngày ở Tây Bắc chúng tôi hay ra thị trấn này chơi. Thị trấn ngày trước lèo tèo chỉ có vài chục nóc nhà, một cái của hàng mậu dịch, một hiệu ăn uống quốc doanh. Sau này có một lần đi qua, thấy san sát những nhà cửa, hàng quán.
          Nhớ kỷ niệm những ngày ở Tây Bắc. Đồng đội tôi ngày ấy bây giờ, người còn, người mất, chả gặp được nhau, nhiều cái tên người bây giờ cũng không nhớ hết. Những cô gái công nhân nông trường bây giờ cũng không còn trẻ nữa. Nhưng trong tôi và trong họ thì kỷ niệm về ngày ấy chắc chắn sẽ còn xanh mãi...
            Hà Nội, 12-2017

Trong hình ảnh có thể có: bầu trời, ngoài trời và nước

ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Bình luận

Thứ Năm, 27 tháng 7, 2017

Hoa không tặng cho em-thơ



HOA KHÔNG TẶNG CHO EM
Thơ Trọng Bảo

Hôm nay anh không tặng hoa cho em,
Những bông hoa hồng anh ôm trước ngực,
Màu hoa như mặt trời đỏ rực
Màu máu của con tim.
Những bông hoa không tặng cho em
Anh dành tặng những người đồng đội.
Đồng đội anh vẫn xếp thẳng hàng, thẳng lối
Chỉnh tề đội ngũ trong nghĩa trang.
Ngày hòa bình sau cuộc chiến tranh
Họ không còn đem hoa đi tìm người yêu được nữa!
Tuổi hai mươi nằm dưới đất sâu lặng lẽ
Chẳng trách ai quên thắp nến, dâng hoa...
Một bó hoa dành tặng người đã đi xa
Không đủ chia đều cho tất cả,
Chỉ có hương thơm ngát bay, lan tỏa
Đến với từng bia mộ chiều nay...
Viết nhân 27/7/2009-2017

Thứ Hai, 17 tháng 4, 2017

Truyện ngắn BI KỊCH PHỐ (phần 2)


  BI KỊCH PHỐ

  Truyện ngắn của Trọng Bảo 
  

          Từ trên ban công nhà chung cư tôi thường quan sát nếp sống của dãy nhà tự xây phía sau. Chủ nhân những ngôi nhà bốn năm tầng ấy đều là các cán bộ cao cấp về hưu. Ngày ngày cuộc sống ở những ngôi nhà ấy diễn ra theo một "lịch thời gian" giống hệt nhau.

Sáng sớm tinh mơ các cụ tập thể dục rồi ngồi đánh cờ ngoài cửa đợi cơm trưa. Buổi chiều thì lại thể thao, rồi đạp xe đi đón cháu. Buổi tối, khi ánh điện sáng lên thì nhà nào về nhà nấy. Nhà thì các con cháu vui vẻ ồn ào, nhiều nhà chỉ có hai vợ chồng già quanh quẩn ra vào, quạnh quẽ. Con cái lớn xây dựng gia đình kiếm được tiền lập tức mua, thuê nhà ra ở riêng cho tự do. Thành thử nhiều ngôi nhà xây bốn năm tầng rõ to nhưng chỉ có hai ông bà già ở. Ở những ngôi nhà này từ chập tối đến bảy giờ, bảy rưỡi thì tầng một điện sáng. Đấy là lúc hai vợ chồng già ăn cơm. Từ bảy rưỡi đến khoảng chín rưỡi thì đèn tầng hai sáng. Đó là lúc hai cụ lên giường nằm xem ti vi, chuẩn bị ngủ. Từ chín rưỡi, mười giờ trở đi thì cả căn nhà tối đen, các cụ thường ngủ sớm. Mùng một, ngày rằm thì tầng bốn, tầng năm mới có ánh sáng. Các tầng trên cùng là bàn thờ tổ tiên, định kỳ hai ngày này trong tháng sáng đèn, thắp hương nhang.

          Gần tết năm trước, gặp tôi đang vác cành đào ngoài chợ, bà Tô - vợ một ông cán bộ cấp cao ở dãy nhà tự xây hỏi:

          - Chú đi sắm tết à?

          - Vâng! Em mua cành đào để sáng mai đem về quê chơi tết.

          - Thế à! - Nghe tiếng bà thở dài, tôi liền hỏi lại:

          - Ông bà năm nay có về quê ăn tết không ạ?

          Bà Tô lại thở dài rồi nói:

          - Còn quê đâu nữa mà về hả chú?

          Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên, bà Tô nói tiếp giọng buồn buồn:

          - Thì... ông nhà tôi được cấp đất ở thủ đô, tôi nghe theo ông ấy bán hết đất đai, nhà cửa, ruộng vườn để lấy tiền xây nhà. Rồi cả nhà kéo nhau ra Hà Nội cho quây quần, đoàn tụ. Nhưng rồi nhà thì xây to con cháu chả đứa nào nó ở cùng, bỏ không mấy tầng, cả tháng chả ai buồn lên quét dọn. Ngày thường rồi cả ngày tết đến chúng nó đáo qua chúc tết rồi kéo nhau đi luôn, buồn lắm chú ạ! Tôi đúng là dại quá chú ạ. Ở quê nhà cửa bán hết bây giờ muốn về cũng chả được. Anh em thì còn đấy nhưng tết nhất về quê ở nhà các anh, các em không phải nhà mình thì cũng như là khách thôi, muốn ăn miếng bánh chưng, uống ngụm nước cũng ngại...

          Thấy tôi tỏ vẻ thông cảm, bà Tô lại nói:

          - Tết ở Hà Nội cũng buồn lắm chú ạ. Khu này họ về quê hết, ngày tết vắng tanh vắng ngắt, hai vợ chồng già bưng mâm ra rồi lại bưng cất đi, chán chả muốn ăn.

          Trước khi vào chợ bà Tô còn dặn tôi: "Đừng bán nhà ở quê để đấy lấy chỗ mà đi về chú nhá". Tôi nhìn theo bà Tô. Cái dáng xiêu xiêu theo mỗi bước chân của người nông dân ngày nào chăm chỉ trên đồng ruộng đến giờ khó lẫn dù ở giữa chốn phố phường. Sau này tôi còn biết thêm một chuyện buồn nữa của bà Tô.

          Nguyễn Sung - con trai bà Tô là một người sớm thành đạt. Sung được bố mẹ đầu tư cho ăn học đến nơi đến chốn. Khi có bằng cấp, ra trường lúc đó ông Tô còn đương chức nên Sung nghiễm nhiên trở thành công chức nhà nước trong biên chế hẳn hoi không phải qua thi tuyển, làm hợp đồng như những bạn bè khác. Sung lấy vợ cùng cơ quan, là con gái một sếp lớn nên việc thăng tiến, tiêu chuẩn nhà đất khỏi phải lo. Khi con đã lớn đi mẫu giáo thì hai vợ chồng Sung không muốn ở chung với bố mẹ nữa. Thế rồi vợ chồng con cái thằng con trai duy nhất mua nhà chuyển ra ở khu chung cư cao cấp Mỹ Đình. Đứa con gái của ông bà Tô lại lấy chồng và chuyển công tác tít tận miền Nam, thành thử ngôi nhà bốn tầng chỉ còn lại hai ông bà già. Hai cái bóng lặng lẽ trong ngôi nhà ba tầng đồ sộ. Cánh cửa xếp tầng một thường suốt ngày chỉ hé mở đủ một người lọt qua để đề phòng bọn trộm lẻn vào. Đứng trên ban công nhà chung cư tôi thường nhìn ánh đèn điện tắt mở từng tầng ở nhà ông bà Tô để nhắc nhở giờ giấc lũ trẻ con đã đến giờ uống sữa, giờ đi ngủ. Nhưng lũ trẻ con nhà tôi mải chơi nên khi các cụ ở khu nhà tự xây phía dưới đã ngủ một giấc rồi chúng vẫn hò reo xem ti vi, đạp xe khắp nhà.

          Khi ông Tô mất, bà vợ vẫn ở một mình. Thỉnh thoảng, tôi vẫn thấy một chiếc ô tô con đỗ ở trước cửa nhà bà. Thằng Sung đưa vợ con về thăm nhà một lúc rồi lại đi. Cánh cửa xếp vừa mở rộng ra một lát lại thu lại như cũ.

          Một dạo tôi thấy bà Tô dậy rất sớm rồi đạp xe đi, tối mịt mới về. Tôi đoán vợ thằng Sung sinh con thứ hai bà ra giúp việc trông nom cháu. Bẵng đi một thời gian, gặp bà ở đầu ngõ tôi hỏi thăm. Bà Tô rơm rớm nước mắt nhìn tôi lắc đầu chỉ nói:

          - Buồn lắm chú ạ...

          Nói xong, bà xách mớ rau muống quay đi. Tôi không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Lẽ ra với bà thì những năm tháng tuổi già thế này thì còn gì hơn. Con cái thành đạt, nhà cửa đàng hoàng. Mãi sau tôi mới biết câu chuyện của bà Tô.

          Thằng Sung con bà ngày càng làm ăn phát đạt. Nó được tham gia thẩm định, quản lý, giám sát nhiều dự án kinh tế lớn. Dĩ nhiên trong thời buổi này đó là những vị trí béo bở, tiền tài của cải cứ tự dưng chảy vào túi mình như nước. Phú quý sinh lễ nghĩa. Có tiền thằng Sung đổi hết xe này đến xe khác. Ngày nghỉ vợ chồng, con cái con thường xuyên đi du lịch thăm viếng nơi này nơi nọ quên mất cả bà mẹ già đang ở một mình trong ngôi nhà ba tầng giữa khu tập thể. Ngôi nhà với diện tích đất hơn năm mươi mét vuông này có giá trị không nhỏ là tài sản thừa kế bất di bất dịch của thằng Sung. Nó dự định khi bà Tô mất đi sẽ sang tên cho người khác gộp với số tiền kiếm được mua một biệt thự nhà vườn trong khu đô thị mới ở cho thoải mái. Thằng Sung không thích nơi bố mẹ nó ở toàn các cụ lão thành cách mạng về hưu thường hay soi mói mỗi khi nó đi làm bằng những chiếc xe con sang trọng. Lần trước nó đưa vợ con về thăm mẹ để xe trước cửa nhà mà bị một thằng oắt con nào đó cầm cục đá xiết cho một đường dọc thân xe phải sơn sửa lại mất hơn chục triệu. Sau lần ấy vợ con thằng Sung muốn về thăm mẹ thì gọi tắc-xi hoặc là nó đưa đến rồi ngồi ngoài trông xe không dám vào nhà.

          Chuyện thằng con bà Tô nếu chỉ có vậy thì cũng chả có gì đáng nói. Nhưng câu chuyện lại ở khía cạnh khác.

Một lần đi dự hội thảo, thằng Sung ngồi gần một người phụ nữ đẹp. Hai người hỏi chuyện và quen nhau. Hóa ra họ ở hai cơ quan khác nhau nhưng cùng chung một bộ. Người phụ nữ ấy đã có chồng. Chồng chị ta là một cán bộ công tác ở ngành ngoại giao thường xuyên vắng nhà bôn ba khắp năm châu bốn bể. Gái một con xa chồng nên lắm khát khao. Thằng Sung và người phụ nữ xa chồng trao đổi số điện thoại, thỉnh thoảng nhắn tin Zalo cho nhau, lâu lâu thành nghiện. Công nghệ thông tin phát triển có cái hay, nhắn tin gọi điện Zalo vừa không mất tiền vừa đảm bảo an toàn, bí mật. Hai người có thể trao đổi với nhau nhiều điều... Một lần hai người cùng vào miền Nam dự một hội nghị ngành. Sau hội nghị, hai người hẹn nhau viện lý do tách đoàn của mình để cùng nhau đi Vũng Tàu. Chuyến đi ấy đối với hai người thật là đáng nhớ. Tại một khách sạn hơi khuất nẻo ở Vũng Tàu hai người ở chung phòng như một đôi vợ chồng đi nghỉ mát. Sau lần ấy họ gặp nhau thường xuyên hơn. Buổi trưa, họ rủ nhau đi ăn rồi vào một nhà nghỉ nào đó, đầu buổi chiều mới trở về cơ quan của mình tiếp tục làm việc. Nhiều hôm, chồng đi công cán nước ngoài người phụ nữ kéo luôn người tình về nhà mình. Căn biệt thự tách biệt ở khu đô thị mới không sợ người quen trông thấy. Buổi trưa con đi học, bà giúp việc già thì ở dưới bếp gọi mới được lên phòng khách và không bao giờ dám bước lên tầng lầu nơi có các phòng ngủ nếu không được phép. Mỗi lần trước khi gọi người tình đến người phụ nữ đều cho bà giúp việc về sớm. Người phụ nữ ấy đẹp thật. Khác hẳn con vợ của nó mũi khoằm, da thì đen nhẻm, cậy thế bố làm to mặt lúc nào cũng vênh lên. Với người phụ nưa này thằng Sung được tận hưởng sự hấp dẫn ngọt ngào, quyến rũ đến mê hồn ở nước da trắng trẻo, ở cặp vú tròn trịa nây nẩy và nhất là cái ngã ba rậm rạp luôn ẩm ướt chờ đợi. Cơ thể người phụ nữ đài các có một sức hút thật vô cùng tận. Hai người xoắn lấy nhau như hai sợi dây thừng bện chặt mỗi khi có dịp. Trong căn biệt thự hai người hoàn toàn tự do. Thằng Sung có thể chơi đủ trò cùng người phụ nữ đẹp mà không phải lo lỡ bị cài đặt camera nhìn trộm như ở trong khách sạn, nhà nghỉ.

          Một hôm, người phụ nữ đột nhiên nổi hứng. Ngang chiều, chị ta gọi điện cho thằng Sung. Thằng Sung cũng đang rảnh việc. Nó vội lái xe rời cơ quan phóng đi. Chiếc xe con chạy vòng vèo một lát rồi rẽ ngoặt vào khu biệt thự cao cấp. Cánh cổng ngôi biệt thự đẹp cuối dãy đã mở sẵn. Chiếc xe nhè nhẹ lăn bánh vào trong khuôn viên. Vừa vào đến phòng khách thằng Sung đã lao đến ôm ngay lấy vị nữ chủ nhân đang mặc bộ quần áo ngủ mỏng tang. Người phụ nữ vội vàng xua xua tay:

          - Từ từ đã… mụ già giúp việc còn chưa về…

          - Mặc kệ mụ ấy… sợ gì cơ chứ!

          Thằng Sung vừa nói vừa đưa bàn tay xoa xoa ngực người phụ nữ. Chị ta không mặc đồ lót, núm vú lăn lăn trong lòng bàn tay thằng Sung. Người phụ nữ khẽ đẩy thằng Sung ra:

          - Để em bảo mụ giúp việc về đi đã… - Người phụ nữ có vẻ bực: - Mà sao mụ này lề mề chậm chạp thế chứ. Bảo mụ ấy làm cho hai cốc nước cam tươi mà mãi vẫn chưa xong!

          Thằng Sung lầu bầu:

          - Sao em không tống cổ mụ ta đi, thuê một người còn trẻ có phải việc gì cũng nhanh gọn không?

          - Hết tháng em sẽ tống cổ mụ này. Mụ ta vừa chậm chạp lại vừa bẩn. Hôm trước, mụ ta rửa một nắm rau sống thôi cũng không sạch, ăn vào đau bụng muốn chết…

          - Thế thì tống khứ luôn mụ ấy đi cho gọn em ạ…

          Thằng Sung chưa nói hết câu đã nghe tiếng bước chân người ở phía sau. Nữ chủ nhà vẫn ở trong vòng tay của thằng Sung ngoảnh lại nói:

          - Để nước cam trên bàn rồi về đi. Nhớ khép cổng lại cẩn thận nhé!

          - Thưa cô vâng ạ!

          Nghe tiếng bà giúp việc nói, thằng Sung giật mình quay phắt lại. Nó há hốc mồm ra nhìn bà già giúp việc, mặt tái dần đi. Bà già giúp việc cũng trố mắt ra nhìn thằng Sung. Vị phụ nữ chủ nhà không hiểu có chuyện gì vội xua xua tay:

          - Thôi bà… về đi!

          Bà già giúp việc đi rồi người phụ nữ mới hỏi thằng Sung:

          - Anh quen mụ già này à?

          Thằng Sung chưa hết vẻ bàng hoàng hoảng sợ, mặt vẫn còn tái mét. Nó buông người ngồi phịch xuống salon miệng ú ớ mãi mới thốt nên lời:

          - Là… là mẹ của anh đấy!

*

          Chuyện bà Tô đi làm ôsin và gặp thằng con trai trong một tình huống như thế. Sau bận ấy bà không đi làm giúp việc người ta nữa. Bà cũng không nhận số tiền hằng tháng của vợ chồng thằng Sung đưa cho nữa. Bà lấy lý do cho các cháu ăn học để không nhận số tiền ấy nữa. Bà cho sinh viên thuê hai phòng trên tầng ba, mỗi tháng cũng thêm vài triệu, tằn tiện ở thành phố cũng đủ sống. Mà bà có tiêu pha gì nhiều đâu, ăn uống không đáng kể. Với bà hai lưng bát cơm, miếng đậu phụ và vài ngọn rau là xong bữa.

          Bà Tô chết. Đám tang ở thành phố thật hoành tráng. Tiếng nhạc hiếu trầm hùng khác hẳn tiếng kèn đám ma ở quê. Hàng trăm đoàn đại biểu đến viếng. Chụp ảnh, quay phim nhoang nhoáng. Vòng hoa thì nhiều không kể xiết. Đám họ hàng từ quê ra dự tang lễ trong lòng đầy thán phục bảo nhau: “Con trai, con dâu làm cán bộ to có khác mẹ già chết cũng mát mặt”.

          Sau lễ hỏa táng ở đài hóa thân hoàn vũ, tro cốt của bà Tô được đưa về quê an táng, xây mộ. Sau hôm lễ tang bà Tô gặp tôi, ông tổ trưởng dân phố bùi ngùi bảo: “Thế là bà ấy cũng được trở về quê rồi. Bà ấy chỉ mong có thế thôi anh ạ!”.

                                                                       Hà Nội, tháng 4-2017     
  
           (hết)