Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiểu thuyết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiểu thuyết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2020

THƠ VIẾT CHO EM - trích tiểu thuyết "Cơn lũ đen" - Trọng Bảo

THƠ VIẾT CHO EM
(Trích chương 11 và 12 tiểu thuyết "Cơn lũ đen" của Trọng Bảo)



Mai quê ở Yên Phong, Hà Bắc. Tôi quen Mai từ ngày em nhập ngũ. Đó là đầu năm 1978, khi ấy tôi còn ở cơ quan trung đoàn bộ. Tôi được đi cùng các cán bộ đại đội thông tin về Hà Bắc tuyển quân. Đơn vị tôi nhận tân binh ở huyện Yên Phong. Trong số các nam nữ chiến sĩ sẽ biên chế về đại đội thông tin của trung đoàn tôi chú ý đến một cô bé nhỏ có khuôn mặt trái xoan và đôi mắt rất sáng. Nhận quân trang mới, mặc dù cô bé này đã phải xắn lên một gấu, ống quần vẫn dài quét đất. Tôi trêu:
- Hay là cho em về để mẹ cắt bớt nửa ống quần đi cho vừa!
- Đừng coi thường nhé! Vào bộ đội vài hôm là em sẽ lớn thôi!
Cô bé láu lỉnh cự lại. Lúc giục mọi người lên xe để hành quân về đơn vị, tôi thấy cô bé này đang đứng với một chị phụ nữ. Nhìn hai người rất giống nhau, tôi đoán là hai chị em. Lúc các chiến sĩ mới chuẩn bị lên xe hành quân về đơn vị tôi bảo:
- Đồng chí nữ tân binh thôi khóc nhè, chùi mũi rồi chào chị gái đi để còn lên đường về đơn vị nào!
Cô bé trợn mắt:
- Đây là mẹ em đấy chứ!
Tôi đang lúng túng vì sự nhầm lẫn tai hại thì mẹ cô gái cười dặn:
- Nhờ chú quan tâm giúp đỡ em Mai với nhé! Tính nó còn trẻ con lắm…
Mai nũng nịu giật giật tay mẹ. Hai mẹ con cùng lau mắt khi chia tay nhau.
Từ đó tôi và Mai thân nhau. Mỗi lần gặp nhau Mai thường hay “đe” tôi: “Phải luôn nhớ giúp đỡ em Mai! Anh đã hứa với mẹ rồi đấy nhé!”. Hết thời gian huấn luyện chiến sĩ mới, Mai được điều động về bộ phận đảm bảo thông tin liên lạc thuộc ban tham mưu trung đoàn ở gần bộ phận văn thư bảo mật của Nhung. Nhung thì là đồng hương và cùng nhập ngũ với tôi.
Trung đoàn hành quân lên tuyến trước, các tiểu đoàn đóng quân cách xa trung đoàn bộ. Mỗi lần có việc lên trung đoàn tôi đều tạt qua thăm Mai. Gặp nhau, Mai khoe đủ chuyện. Nhất là chuyện quê hương. Mai vẫn bảo: “Khi nào ra quân anh về thăm quê em vào dịp đầu mùa Xuân, em sẽ đưa anh đi hội Lim nghe hát quan họ”.
Từ khi cơ quan trung đoàn bộ rút lui lên Lũng Mật, tình hình lương thực, nước uống càng thêm khó khăn. Chúng tôi phải vừa củng cố trận địa phòng ngự vừa tổ chức đột nhập xuống chỗ bọn bành trướng Trung Quốc đã chiếm để tìm kiếm lương thực, lấy nước uống.
Một đêm, đơn vị tổ chức một bộ phận bí mật xuống một bản dưới chân núi tìm lương thực. Mai và một số anh chị em cơ quan trung đoàn cũng cùng đi. Trăng đêm mờ đục bởi mây mù dày đặc. Chúng tôi tổ chức đội hình thành từng tốp nhỏ đi cách nhau một đoạn đề phòng bị địch phục kích. Khu làng bản cùa đồng bào hoang tàn sau những trận pháo kích và đốt phá của bọn địch. Trong những căn nhà sập đổ, tìm được thứ gì chúng tôi lấy thứ nấy, gạo, ngô, đậu tương, lúa của đồng bào bó để trên gác bếp. Lúc quay trở về, theo sự phân công của người chỉ huy chung, tôi lùi lại phía sau chờ mọi người lên dốc mới rút theo. Tôi ôm súng nép vào hòn đá to bên bờ suối cảnh giới cho mọi người rút lên núi.
Mọi người vượt qua con suối nhỏ, bắt đầu leo lên dốc. Chờ một lát, ước chừng tất cả đã vượt qua khỏi đoạn dốc trống trải, tôi mới khoác cái ba lô đựng ngô lên vai rời khỏi vị trí cảnh giới. Vừa định băng qua suối thì có tiếng gọi nho nhỏ ngay sau mô đá, sát chỗ tôi đang đứng:
- Anh Hà ơi!
Nhận ra tiếng người gọi, tôi quay lại:
- Mai hả! Sao tụt lại xa đội hình thế! Mau vượt lên dốc đi. Ba lô nặng quá đưa anh mang bớt cho!
- Không nặng đâu! Nhưng anh chờ em một tý nhé!
- Có việc gì vậy! Rút nhanh kẻo nó bắn pháo sang nguy hiểm lắm!
Tôi vừa nói vừa nhìn về phía thị trấn, nơi những căn nhà đang cháy rừng rực, thỉnh thoảng ánh lửa đầu nòng pháo của địch lại lóe lên.
Mai thì thào:
- Anh... cảnh giới cho em... em tắm một tý nhé! Đã mấy ngày rồi... trên núi làm gì có nước?
Đúng là trên núi đá vôi cằn cỗi nước uống còn chả đủ làm gì có nước mà tắm. Có vị trí tổ chức việc phòng ngự rất tốt, dễ đánh chặn đánh bọn địch tấn công lên núi nhưng mạch nước cạn mất đơn vị đành phải rút đi chỗ khác.
Nghe Mai nói vậy, tôi vội gàn:
- Nước suối lạnh lắm. Đi thôi em!
- Mặc kệ!
Mai nói và trút hết quần áo, để trên mô đá rồi lội xuống suối ngay sát chỗ tôi đang đứng. Bất ngờ mặt trăng ló ra chỗ mây thưa. Cơ thể ngọc ngà của Mai lồ lộ lấp lóa dưới ánh trăng. Mai đưa hai bàn tay bưng lấy ngực rồi từ từ dìm người xuống dòng nước lạnh. Ánh trăng phủ sáng ngời trên đôi vai trần của em.
Một lát sau Mai bước lên đứng cạnh tôi, lặng lẽ mặc quần áo. Xong xuôi cô khẽ hích nhẹ vào vai tôi:
- Chúng mình đi thôi!
Tôi vẫn chưa hết bàng hoàng trước vẻ đẹp thanh khiết, tròn đầy của cô gái giữa một đêm chiến tranh nơi góc rừng biên giới. Tiếng súng bên kia cánh đồng bỗng rộ lên. Tôi kéo Mai hối hả vượt qua khoảng dốc trống trải, lẩn nhanh vào sau những mô đá nhấp nhô như hình người đang đứng im phăng phắc thẫn thờ trên sườn núi.
*
Tôi và Mai lần theo lối mòn ngược lên đỉnh núi. Ánh trăng tuy xuyên qua làn sương mù dày đặc nhưng vẫn soi rất rõ con đường ngược dốc nên chúng tôi đi không đến nỗi khó khăn lắm. Chỉ có điều là Mai sức yếu, lại chưa quen leo dốc núi cao gần như dựng đứng nên em đi rất chậm. Cứ đi được vài bước tôi lại phải dừng lại đợi. Cái ba lô của Mai chỉ có hơn chục bắp ngô lấy được ở bản và vài thứ nhẹ tênh nhưng em kêu mỏi vai. Tôi phải chuyển dần các thứ của em sang ba lô của tôi. Lên đến đỉnh dốc thì Mai chỉ còn đeo độc một khẩu súng trên vai.
Về đến gần vị trí trú quân thì Mai giữ tôi lại và bảo:
- Sắp sáng rồi! Chúng mình vào chỗ nào ngồi với nhau một lát đi anh. Ngày mai bộ phận của chúng em sẽ rút lui sang Nguyên Bình trước rồi. Từ hôm gặp nhau đến giờ, anh em mình chưa ngồi nói chuyện với nhau lần nào!
Tôi và Mai tạt vào một hẻm núi đá gần bên lối đi. Chúng tôi cùng ngồi dựa lưng vào một hòn đá lớn. Gió lạnh luồn qua từng khe đá. Đêm đã chuyển dần về sáng nên không gian tĩnh lặng hơn. Tiếng súng của bọn địch cũng lắng đi. Đang thì thầm kể đủ thứ chuyện thì Mai chợt kêu lên:
- Anh ơi! Em lạnh quá!
- Đã bảo là nước lạnh lắm lại không nghe! Khéo mà bị nhiễm lạnh, cảm ốm ra trong lúc này thì nguy.
Tôi vừa càu nhàu vừa quờ chiếc ba lô của mình tìm cái vỏ chăn choàng lên vai Mai. Mai quấn chặt cái vỏ chăn ngồi thu lu trông nhỏ bé và yếu ớt quá. Hình như Mai vẫn chưa hết lạnh, em nói giọng run run:
- Vẫn lạnh lắm! Anh… anh... ôm em đi cho ấm!
Thấy tôi lúng túng chần chừ, Mai giục:
- Ôm em thật chặt vào… đi anh…
Tôi lúng túng ngồi sát lại gần Mai. Mai mở cái vỏ chăn đang quấn quanh người cho tôi cùng trùm lên cho đỡ lạnh. Rụt rè một lúc tôi mới dám vòng tay trái luồn qua lưng Mai ôm lấy bờ vai em. Tôi hơi bất ngờ vì Mai không lạnh như em đã nói. Người Mai nóng rực.
Mai ngả đầu vào vai tôi. Em nói, giọng buồn buồn:
- Chiến tranh ác liệt quá! Bao nhiêu người ngã xuống rồi! Hôm trước, khi địch tập kích vào hang giữa lúc em đang đi lấy nước nên còn sống. Bọn chúng đánh sập cửa hang. Cứ nghĩ đến chuyện chị Nhung và mọi người vẫn còn sống mà bị đá bịt kín mất cửa hang không ra được, chết đói, chết khát trong đó là em lại muốn khóc. Thương họ quá anh ơi…
Vai Mai rung rung. Tôi biết em đang cố nén để khỏi bật ra tiếng khóc. Tôi cũng không biết nói câu gì để an ủi Mai bây giờ. Không khí như loãng ra. Tôi cảm thấy hụt hơi khi nghĩ về một ngày mai cuộc chiến đấu sẽ còn rất khốc liệt. Tương lai càng mù mịt khi đơn vị bị đánh bật lên núi cao, không đường tiến, chẳng đường lùi và hoàn toàn mất liên lạc và sự chi viện của cấp trên. Mai lại thủ thỉ:
- Em vẫn nhớ hôm trước anh và anh Lâm lên trung đoàn công tác đến chỗ em chơi. Em hứa là bao giờ chúng mình ra quân em sẽ đưa các anh về quê đi trẩy hội Lim…
- Nhất định rồi! Mùa Xuân sang năm chúng mình sẽ cùng về quê em đi hội Lim nhé?
- Nhưng mà… chiến tranh chả biết thế nào!
Nghe giọng nói Mai của sao mà buồn thế. Hai chúng tôi cùng im lặng hồi lâu. Mỗi người thả lòng mình vào sự suy tư khác nhau nhưng chắc chắn rằng Mai cũng như tôi đang xao động, trăn trở về cuộc chiến này. Mai vẫn ngoẹo đầu dựa vào vai tôi. Hơi thở của em nhè nhẹ phả vào cổ tôi âm ấm. Tôi nghĩ chắc Mai mệt quá đã ngủ thiếp đi. Chợt có một tiếng nổ khá lớn dưới thị trấn vọng lên. Mai hơi giật mình. Bàn tay em lần tìm bàn tay phải của tôi nắm chặt. Tôi thấy thương Mai quá. Con gái trong chiến tranh sao mà lẻ loi và khốn khổ đến thế. Mai vẫn giữ chặt tay tôi trong tay mình như sợ tôi đột nhiên biến mất. Bàn tay nhỏ nhắn của em như có lửa. Bàn tay Mai run rẩy. Và thật bất ngờ, Mai kéo bàn tay tôi lên áp chặt vào khuôn ngực bên trái của mình. Tôi hốt hoảng khi nhận ra khuy ngực áo của Mai đã mở từ lúc nào. Bàn tay tôi chạm vào bầu ngực mịn màng, tròn trịa, ấm nóng của Mai. Tôi run cầm cập, định rụt tay lại. Nhưng Mai kéo giữ chắc bàn tay tôi áp chặt vào ngực mình. Mai cứ giữ mãi bàn tay tôi như thế. Khi định thần, bình tĩnh lại, tôi cảm nhận được trong lòng bàn tay của mình con tim nhỏ bé của Mai đang đập nhoi nhói.
Hai chúng tôi cùng thiếp đi vì quá mệt mỏi sau bao ngày gian khổ, ác liệt. Khi tôi sực tỉnh thì trời đã sáng bạch. Mai vẫn ngủ rất ngon. Bàn tay em giữ tay tôi hơi lỏng ra. Tôi khẽ lựa rút bàn tay ra khỏi ngực Mai. Tôi run lên khi lần đầu nhìn thấy bầu vú tròn vo, trắng hồng của người trinh nữ. Trên đó còn in hằn dấu bàn tay tôi đã giữ chặt suốt đêm qua.
Một cơn gió bắc ào vào thung lũng. Cái lạnh thốc vào hẻm núi làm Mai bừng tỉnh. Em ngước nhìn vào mắt tôi rồi nhìn xuống ngực mình. Đoạn em khẽ khàng gài lại khuy áo. Sương tan dần. Đôi mắt Mai lặng lẽ nhìn chăm chăm về phía trước như vô định. Đôi mắt em trân trân không chớp. Tôi hiểu em đang “nhìn” vào chính mình, nhìn vào thân phận của người lính trong cuộc chiến tranh khốc liệt này…
Đến lúc chúng tôi phải về đơn vị. Mai cứ nắm chặt tay tôi mãi không muốn rời.
Tối hôm ấy, các bộ phận cơ quan trung đoàn bộ rút đi. Hai ngày sau tôi nhận được một tin đau xót là Mai và một số chiến sĩ đã hy sinh trong đêm vượt vây tại huyện Thông Nông. Bọn địch phát hiện truy kích, Mai và mấy người nữa đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng chặn địch cho đơn vị rút lui.
Tôi bần thần, ngơ ngác mất mấy ngày liền. Tôi không tin là sẽ không bao giờ còn được gặp lại Mai nữa. Nhớ đến Mai từ lần gặp đầu tiên em đứng bên mẹ hôm mới nhập ngũ và nghĩ về cái chết anh dũng của em, tôi viết tặng Mai bài thơ “Tiếng gọi”.
TIẾNG GỌI
Trước lúc hy sinh em cố gọi:“Mẹ ơi!”
Tiếng gọi chìm trong tiếng súng.
Tiếng gọi tắt nửa trên môi.
Người em gái tuổi chớm đôi mươi
Chưa một lần hò hẹn
Chưa biết đến nụ hôn
Em mang cả trinh nguyên về với đất.
Trái tim em đạn thù găm nát
Nỗi đau từ đó vỡ ra,
Tình yêu từ đó vỡ oà
Em gửi lại cho những người ở lại.
Chúng tôi đứng sát bên nhau
Nòng súng vươn cao lặng lẽ cúi đầu
Phút cuối cùng tiễn đưa người em gái.
Đặt một cành lá xanh
Trên nấm mộ gió mưa tê tái
Tôi chợt nghe như em vẫn còn gọi mãi:
“Mẹ… mẹ ơi..”.
Cuối tháng bảy năm ấy, tôi và Lâm có quyết định về tập trung tại trường văn hoá của quân khu để ôn thi đại học. Sau trận đánh nhử địch vào bãi mìn ở mỏm Đầu Bò, Lâm chạy thoát được về phía nam điểm cao 505. Gặp một đơn vị của tiểu đoàn 2, Lâm đã theo đơn vị này chiến đấu. Khi rút lên Lũng Mật, Lũng Vài, Lâm tìm về đơn vị cũ về đơn vị cũ.
Trước khi rời Cao Bằng về xuôi, tôi và Lâm tìm đến thăm nơi Mai đang yên nghỉ. Chúng tôi nhặt những chiếc lá khô rơi trên nấm mộ. Quỳ trước nấm mộ của Mai, tôi đọc bài thơ thứ hai này cho em nghe.
THÔI EM Ở LẠI
Vậy thôi em ở lại,
Bọn anh ngày mai về xuôi.
Hôm lên chúng mình có ba người
Một mình em con gái
Quê em ở bến sông Cầu.
Em nói ngày ra quân năm sau
Đưa bọn anh về làng Lim đi hội
Nghe quan họ hát thâu đêm…
Thế mà bây giờ chỉ một mình em
Ở lại đây với núi rừng biên giới.
Trận đánh ấy vô cùng dữ dội
Giữa vòng vây quân giặc trùng trùng
Quả lựu đạn cuối cùng
Trên tay em chớp lửa
Quân thù kinh hoàng, tơi tả,
Em hoá thân vào trời đất bao la,
Nên ngày về xuôi chẳng còn đủ ba
Khuyết mất người em gái nhỏ.
Hai đứa anh ngồi bên nấm mộ
Bùi ngùi dặn em trước lúc chia tay:
“Thôi em ở lại đây
Với chập trùng núi đá
Với bạt ngàn hoa lau,
Để mùa Xuân trên bến sông Cầu
Thiếu một người đội nón quai thao đi hội…”.
Đọc xong, tôi liền châm lửa đốt tờ giấy chép bài thơ thay một nén nhang tưởng nhớ người liệt nữ. Bài thơ cháy bỏng trên tay tôi, tàn tro vương rơi trên mặt đất.
Đúng một năm sau, tôi về học tại một trường sĩ quan ở Bắc Ninh. Lần đầu tiên đi Hội Lim, giữa dòng người trẩy hội đông nghẹt, tôi lại nhớ đến Mai. Tôi cứ nghĩ là em đang đưa tôi đi xem hội, nghe hát dân ca. Em vẫn ở đâu đó quanh đây, giấu khuôn mặt xinh đẹp sau vành nón nhỏ và sẽ bất ngờ xuất hiện ngay bên cạnh tôi với ánh mắt sáng long lanh, nụ cười tinh nghịch trên môi… Và, tôi đã viết cho em bài thơ thứ ba này.
HỘI LIM TÔI LẠI ĐI TÌM
Hội Lim tôi lại đi tìm
Mong sao gặp ánh mắt em hôm nào,
Trốn sau vành nón quai thao
Thoảng nghe câu hát ngọt ngào: “Người ơi…”
Hội đông, người chạm vai người
Không em tôi vẫn lẻ loi một mình
Cô đơn khóm trúc đầu đình
Buồn trông liền chị, liền anh dập dìu
Đêm cho câu hát liêu xiêu
Tay nâng vạt áo bao nhiêu hẹn hò.
Riêng tôi mong sự bất ngờ
Biết đâu hội tự bao giờ đã tan...?.
Hà Nội - 2018


Thứ Hai, 3 tháng 9, 2018

Tiểu thuyết TRĂNG QUÊ (phần cuối)

TRĂNG QUÊ (phần cuối)
Tiểu thuyết của Trọng Bảo
Ảnh dưới: Dòng sông Phó Đáy và cây cầu sắt quê tôi, bối cảnh để viết tiểu thuyết TRĂNG QUÊ. Bên dòng sông này, trong kháng chống Mỹ trung đội dân quân xã Đạo Trù, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc đã đã dũng cảm chiến đấu bắn rơi một chiếc máy bay phản lực F4H của giặc Mỹ.
Trong hình ảnh có thể có: ngoài trời, thiên nhiên và nước

Thằng Nam huấn luyện ở Thái Nguyên mấy tháng thì cùng đơn vị hành quân đi B chiến đấu. Ở chiến trường đạn bom gian khổ nhưng nó luôn nhớ và ngóng tin tức quê hương. Thỉnh thoảng, thằng Nam mới nhận được một thư của gia đình hoặc của anh chị em trong trung đội dân quân làng Hạ. Nó biết tin trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai của giặc Mỹ, trung đội dân quân làng Hạ cùng đơn vị bộ đội cao xạ 37ly bắn rơi thêm một chiếc máy bay phản lực Mỹ, bắt sống tên giặc lái, bảo vệ an toàn cây cầu sắt trên sông Phó Đáy, giữ vững giao thông trên tuyến quốc lộ 2C. Nhưng trong trận ấy dân quân làng Hạ có thêm mấy người nữa bị thương.
Khi cùng đơn vị hành quân vào chiến dịch cuối cùng giải phóng Sài Gòn, thằng Nam bất ngờ gặp một người bạn cùng làng. Đó chính là thằng Thứ. Hai đứa vui mừng ôm chầm lấy nhau, kể cho nhau nghe đủ mọi chuyện, nhất là những chuyện về làng Hạ. Thằng Nam kể câu chuyện tình của chị Nhân với Dương Thụy rồi bảo:
- Cái tay phó tiến sĩ ấy đúng là đồ Sở Khanh mày ạ! Hắn chuồn mất hút mạng lươn luôn, không hỏi han, liên lạc gì với chị Nhân nữa...
Thằng Thứ nghe vậy nổi cáu cắt lời thằng Nam:
- Sao chúng mày không nện cho nó một trận hả?
- Nện sao được! Hắn là con một ông cán bộ to, giả vờ bị bệnh để khỏi phải đi bộ đội. Hắn bám theo các cán bộ lớn tuổi và đám phụ nữ cơ quan đi sơ tán lên quê ta. Sau trận bom hôm ấy và nhất là sau chuyện chị Nhân bị sảy thai, sợ bị kiểm điểm kỷ luật, hắn được ông bố đưa đi ngay. Nghe nói hắn chuồn ra nước ngoài nghiên cứu sinh, làm luận án tiến sĩ. Biết hắn ở đâu mà nện!
Thằng Thứ nuốt hận hỏi tiếp:
- Thế còn chị Nhân?
- Chị Nhân buồn và chán nản lắm. Chị ấy từ chức tiểu đội trưởng, xin đi thanh niên xung phong mở đường. Nghe nói, chị ấy cũng đã vào trong này rồi đấy.
Thằng Thứ im lặng. Nó mong gặp lại chị Nhân ở mặt trận để một lần nữa xin lỗi chuyện ngày nào ở ruộng bèo hoa dâu. Sau lần ấy thằng Nam và thằng Thứ đều cùng đơn vị tham gia các trận đánh ác liệt ở cửa ngõ Sài Gòn. Thằng Nam bất ngờ gặp lại thằng Thứ trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Hôm ấy, thằng Nam cùng tiểu đội nhận nhiệm vụ an táng một chiến sĩ vừa hy sinh trong trận đánh ở Xuân Lộc đi mai táng. Thằng Nam và đồng đội đưa thi hài người lính ấy vào khu vực nghĩa trang ở mặt trận. Tại đây đã có những nấm mộ nhiều chiến sĩ của đơn vị bạn hy sinh trong các trận đánh trên đường tiến về giải phóng Sài Gòn. Sau khi chôn cất người lính vừa hy sinh xong, thằng Nam mới nhìn sang một nấm mộ mới chôn nằm ngay bên cạnh. Nói chợt trố mắt sửng sốt khi đọc dòng chữ viết vội bằng sơn đen trên một tấm bia bằng gỗ: “Hà Quang Thứ, sinh năm 1953, quê xã Hòa Sơn, Vĩnh Phúc, hy sinh ngày 27-4-1975”. Đúng là thằng Thứ bạn thân cùng quê với mình đây rồi. Thằng Nam thấy tim mình nhói đau, cổ họng đắng ngắt. Nó thầm khóc và gọi bạn: “Khổ thân mày quá Thứ ơi! Sao mày lại nằm lại ở cái nơi xa xôi thế này. Mày đã dặn tao là ngày chiến thắng hai thằng sẽ cùng nhau trở về quê hương trung du cơ mà”.
Mấy tháng sau ngày giải phóng miền Nam, thằng Nam được về phép thăm nhà. Nó phấn khởi lên tàu ra Bắc. Toa xe quân sự toàn là lính quê ở miền Bắc. Những người sống sót sau trận chiến vui trên đường trở về nhà. Suốt hành trình mấy ngày đêm toa tàu luôn râm ran tiếng nói cười. Hầu như thằng lính nào trên đường ra bắc tay cũng xách một cái khung xe đạp, trên nắp ba lô gài một con búp-bê mắt nhắm mở, tóc vàng hoe. Thằng Nam cũng thế. Nhưng nó không mang khung xe đạp mà chỉ có một con búp-bê nho nhỏ.
Ra đến Hà Nội, thằng Nam chuyển sang tàu ngược Lào Cai. Đến ga thị xã Vĩnh Yên thì quá trưa. Xe khách về huyện ngày chỉ có một chuyến đã chạy từ sáng sớm mà mua được vé cũng rất khó. Thằng Nam quyết định cuốc bộ về làng. Sự háo hức được trở về nhà sau bao năm đi xa thì hơn hai chục cây số đối với nó chả là gì so với chặng đường dài hành quân ra trận. Đi một mạch thì chỉ đến gần tối là nó đã có mặt ở nhà rồi. Thằng Nam khoác chiếc ba lô nhẹ tênh trên vai vừa đi vừa ngắm cảnh. Thỉnh thoảng, nghe có tiếng ô tô ở phía sau nó ngoái cổ lại xem nếu là xe tải thì vẫy xin đi nhờ. Nếu đó là xe con thì thôi, vì chẳng ai cho một thằng lính quèn như nó lên xe, muốn thu tiền cũng khó. Thằng Nam guồng chân cuốc bộ. Chả mấy chốc nó đã đến chỗ ngày xưa từng bị anh công an chặn lại khi đi mua quả bóng ở thị xã trở về. Hôm ấy, nó đạp xe bỏ chạy bạt mạng làm rơi mất hai bánh chè mạn khô. Thằng Nam đang hồi tưởng lại chuyện cũ thì có tiếng còi xe ô tô. Nó ngoái lại và trông thấy một chiếc xe U-oát đang phóng rất nhanh cuốn bụi mù mịt. Biết khó xin đi nhờ nên thằng Nam liền quay mặt tiếp tục rảo bước. Chiếc xe con vượt qua thằng Nam thì phanh kít lại. Một người thò đầu ra hỏi:
- Đồng chí thượng sĩ có đi nhờ xe không?
Thằng Nam ngạc nhiên. Nó đi nhanh đến nhìn người vừa hỏi và reo lên vui mừng:
- Ối! Chào xã đội trưởng Phạm Bản! Cho em đi nhờ xe về quê với!
Chiến sĩ lái xe trợn mắt nhìn thằng Nam vặn lại:
- Ai là xã đội trưởng của cậu hả! Đây là đồng chí thượng úy, tiểu đoàn trưởng của chúng tôi đấy!
Phạm Bản cũng bảo:
- Mà mày chào cũng sai bét rồi. Khi mày lên đường nhập ngũ tao vẫn chỉ là xã đội phó cơ mà, có được phục chức xã đội trưởng đâu. Nhưng thôi, chuyện cũ qua lâu rồi, lên xe đi!
Thằng Nam vội chui vào xe ngồi ở ghế sau. Chiếc xe lập tức chuyển bánh. Phạm Bản và thằng Nam nói chuyện rôm rả, vui vẻ. Bây giờ thì thằng Nam mới biết là ngay sau khi nó lên đường nhập ngũ thì xã đội phó Phạm Bản cũng tái ngũ. Anh vào ngay chiến trường. Với những chiến công xuất sắc và tài năng chỉ huy đơn vị chiến đấu, Phạm Bản được phong cấp, đề bạt chức vụ khá nhanh. Phạm Bản hiện giờ là tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn trinh sát. Anh đang đi tiền trạm để chuẩn bị cho đơn vị lật cánh ra làm nhiệm vụ ở phía Bắc. Trên đường lên biên giới anh tranh thủ tạt qua thăm nhà. Trò chuyện với nhau thằng Nam cũng mới biết nó và Phạm Bản hiện đang ở cùng một quân đoàn. Thượng úy Phạm Bản bảo
- Nếu mày muốn tao sẽ xin cho chuyển về cùng đơn vị, anh em có nhau.
- Được thế thì tốt quá anh ạ! - Thằng Nam đáp.
Xe chạy một loáng đã về đến xã Hòa Sơn. Mới hơn ba giờ chiều. Thằng Nam bảo lái xe cho mình xuống đầu làng Hạ. Tiểu đoàn trưởng Phạm Bản dặn nó khi nào hết phép trở lại đơn vị nhớ sang tiểu đoàn của anh chơi. Thằng Nam gật đầu và chia tay với Phạm Bản. Nó khoác chiếc ba lô rẽ vào làng mình.
Đến đám ruộng ghềnh trồng màu đầu làng thằng Nam chợt trông thấy một người phụ nữ trẻ đang nhổ cỏ ở ruộng trồng lạc. Người phụ nữ quay lưng lên phía đường nên không rõ mặt. Người phụ nữ này chỉ còn một cánh tay phải. Một cô bé độ bốn năm tuổi xinh xắn đứng bên cạnh đang líu lo kể chuyện ở lớp mẫu giáo. Nhìn dáng người phụ nữ có vẻ quen quen. Thằng Nam định lên tiếng chào hỏi thì người phụ nữ đột nhiên quay đầu lại. Thằng Nam reo lên vui mừng:
- Liên... Liên đấy phải không?
Cái Liên đứng dậy đưa cánh tay phải lên gạt mồ hôi. Tay áo bên trái bay bay trong gió chiều. Cái Liên cũng reo lên vẻ vui mừng không kém:
- Ôi... Nam... Nam đã về đấy à?
Đoạn, cái Liên quay sang bảo đứa bé:
- Hằng, con chào... chú... À không, chào bác Nam đi con!
Con bé khoanh tay lễ phép: "Cháu chào bác Nam ạ!". Thằng Nam càng ngạc nhiên, có nghe chuyện Liên lấy chồng bao giờ đâu mà con gái đã lớn thế này. Chuyện Liên bị thương trong một trận chiến đấu bắn máy bay thì qua thư từ nó đã biết. Nhưng Liên bị mất hẳn cánh tay trái thế này thì thằng Nam cũng không ngờ. Cái Liên buông nắm cỏ dắt con gái lên đường gặp thằng Nam. Thằng Nam đặt cái ba lô xuống vệ cỏ gỡ con búp-bê gài trên nắp ba lô ra đưa cho bé Hằng:
- Bác tặng cháu con búp-bê này!
Con bé thích quá nhưng không dám cầm vì chưa được mẹ cho phép. Nó ngước đôi mắt tròn xoe ngẩng lên nhìn mẹ. Cái Liên bảo:
- Nam đem về là để làm quà cho các cháu ở nhà cơ mà!
Thằng Nam đặt con búp-bê vào tay bé Hằng rồi nói:
- Thấy anh em mua thì mình cũng mua một con chứ nhà mình có cháu nhỏ nào đâu mà chơi búp-bê.
Bé Hằng được mẹ cho phép nhận quà thích quá vội cảm ơn bác Nam rối rít rồi ôm con búp-bê áp lên má đu đưa như ru em ngủ. Hai mắt con bé long lanh vì niềm vui bất ngờ. Nhìn con bé thật xinh, thật giống mẹ.
Trên đường vào làng, thằng Nam hỏi cái Liên về những người đồng đội cũ trong trung đội dân quân thường trực làng Hạ. Cái Liên kể tóm tắt cho thằng Nam nghe mọi chuyện đã xảy ra trong quãng thời gian nó đi xa. Đầu tiên là chuyện của chị Nhân. Sau khi bị trụy thai với tay phó tiến sĩ "họ dê" chị rất nuồn. Phó tiến sĩ Dương Thụy lại biến mất tăm. Quá mệt mỏi với những lời đàm tiếu, chị Nhân viết đơn xin đi thanh niên xung phong. Đơn của chị được chấp thuận ngay. Lãnh đạo xã cũng mong chị đi cho đỡ ảnh hưởng thành tích của lực lượng dân quân Hòa Sơn nhiều năm quyết thắng. Đến năm 1973, sau hiệp định Pa-ri, chị Nhân trở về quê lấy chồng. Chồng chị là một chiến sĩ công binh mà chị đã gặp trên tuyến đường Trường Sơn. Anh đã công tác trên tuyến đường này hơn chục năm. Chồng chị Nhân cũng được về phục viên sau đó. Khi chị Nhân có mang, nhà chồng vui lắm. Họ chờ đợi một đứa cháu đích tôn để nối dõi tông đường.
Nhưng đứa con chị Nhân sinh ra đã khiến bà mẹ chồng ngất đi. Không ai biết là di chứng chất độc da cam mà chỉ nghĩ đích thị là loài yêu quái lộn kiếp thành người. Thằng con của chị Nhân đầu to hơn cả thân người, không có tai, con ngươi lồi hẳn ra khỏi hốc mắt, tay chân thì co quắp, thiếu ngón. Nó không biết nói, biết đi, chỉ biết ngửa mặt lên trời mà cười. Sau đứa con này, chị Nhân mãi không có thai lại nữa. Anh chồng chị chán nản, sa vào rượu chè, cờ bạc. Bà mẹ chồng thì suốt ngày nguyền rủa chị đem ma quỷ đến nhà. Mặc dù đứa con dị tật ấy chưa chắc chỉ là lỗi của riêng chị. Chị Nhân cắn răng chịu đựng lầm lũi làm lụng nuôi con. Nỗi đau bất hạnh biến chị thành một cái bóng đi về vô cảm. Vào một ngày cuối năm, bà mẹ chồng gọi chị đến trước bàn thờ tổ tiên. Vừa run rẩy kéo vạt áo lau nước mắt, bà vừa nghẹn ngào nói: "Thôi thì mẹ xin cắn rơm, cắn cỏ lạy con! Chồng con là độc đinh, trưởng họ. Con hãy buông tha cho nó. Để nó cưới vợ khác, lấy người nối dõi tông đường, hương khói cho tổ tiên con ơi…". Chị Nhân gạt nước mắt đưa con về ở với mẹ đẻ. Mẹ con, bà cháu dắt díu nhau bỏ làng ra đi. Họ dựng một căn nhà nhỏ gần chân núi Sáng, đói no nhờ vào nương sắn và gánh hàng rau mua đầu chợ, bán cuối chợ của chị.
Nghe chuyện của chị Nhân thằng Nam thấy buồn quá. Nó hỏi về anh Hừng. Cái Liên bảo:
- Anh Hừng bây giờ khá hơn rồi. Con gái đầu anh ấy vừa thi đỗ vào trường đại học. Hiện thì anh ấy đang ở ngoài bến sông...
- Anh ấy làm gì ở ngoài bến sông thế?
- Anh ấy trông nhà cho lão Vận. - Kể đến cái Liên mới chợt nhớ ra, kêu lên: - Lão Vận chết rồi. Số lão ấy cô đơn, chết cũng không ai biết. Nghe con chó của lão Vận kêu thảm thiết trong nhà bọn trẻ con mới vạch liếp ngó vào. Lão ấy nằm còng queo cạnh cái bếp nguội lạnh. Lũ trẻ con chạy đi báo cho ông Đạt đội trưởng biết. Khi dân làng đến thì lão Vận chết cũng phải đến nửa ngày rồi. Lúc khâm liệm, trong cái quan tài gỗ tạp đóng sẵn tìm thấy một lá thư và số tiền lão tích cóp để lại ủng hộ làng Hạ xây dựng lớp mẫu giáo. Lão ấy nghèo nhưng cái tâm thì không nghèo. Sau khi lão Vận chết, anh Hừng ra trông nhà, thắp hương cho lão và tranh thủ kiếm cá trên sông bán lấy tiền nuôi con ăn học.
Thằng Nam nghe vậy liền bảo:
- Thôi bây giờ mình về nhà đã. Tối nay mình sẽ ra bến sông với anh Hừng và thắp hương cho lão Vận. Ngày mai, chúng mình cùng đi thăm chị Nhân nhé! Mình sẽ mượn xe đạp đèo Liên, cho bé Hằng cùng đi luôn!
Cái Liên vội nói:
- Thế Nam không còn nhớ à?
- Nhớ cái gì cơ chứ!
Thằng Nam ngơ ngác hỏi lại. Cái Liên nhắc:
- Mai là ngày giỗ của chị Tình và cái Na. Chúng mình lên nghĩa trang liệt sĩ thắp hương cho họ. Ngày kia hẵng lên chỗ chị Nhân nhé!
Thằng Nam giờ mới sực nhớ cái ngày bi thương sáu năm về trước khi quả bom Mỹ rơi trúng trận địa Đồi Ma. Nó thừ người ra một lúc rồi gật đầu bảo cái Liên:
- Thôi thế cũng được! Mình về qua nhà cho bố mẹ mừng sau đó lên xã xuất trình giấy nghỉ phép, để chính quyền biết, không thì họ lại nghĩ là mình bỏ ngũ về nhà.
Nói đoạn, thằng Nam xong chào cái Liên và bé Hằng rồi rẽ vào ngõ nhà mình. Cái Liên nói với theo:
- Chủ tịch xã bây giờ là ông Vũ Sinh, trưởng công an xã ngày xưa. Phó chủ tịch xã là cái Hiên, chiến sĩ trung đội dân quân trực chiến với chúng mình thời còn trận địa phòng không trên Đồi Ma đấy…
Buổi sáng hôm sau đúng hẹn, thằng Nam tìm cái Liên để cùng lên nghĩa trang liệt sĩ xã Hòa Sơn. Căn nhà nhỏ của hai mẹ con Liên ở một góc vườn, trong khuôn viên mấy sào thổ cư của bố mẹ đẻ. Bé Hằng được mẹ xin các cô lớp mẫu giáo cho nghỉ một buổi. Thằng Nam, cái Liên và bé Hằng cùng nhau đi bộ lên nghĩa trang liệt sĩ xã. Trông ba người họ giống như một gia đình nhỏ.
Nghĩa trang liệt sĩ xã Hòa Sơn gần khu nghĩa địa của làng Hạ. Khi thằng Nam và hai mẹ con Liên đến nơi thì thấy một người mặc quân phục đang lúi húi bên mộ chị Tình. Mùi hương trầm thoảng thơm ngát. Nghe tiếng động, người mặc quân phục ngẩng đầu nhìn. Cái Liên bật kêu lên:
- Anh Thức! Anh cũng về thăm chị Tình à?
- Chào cô Liên và cậu…
Cái Liên vội đỡ lời anh Thức:
- Đây là anh Nam, cũng là dân quân làng Hạ ngày xưa đấy!
- A… nhớ ra rồi. Tại cậu mặc quân phục trông khác quá, mình không nhận ra ngay!
Anh Thức nhớ ngày chị Tình hy sinh nên về thắp cho chị một nén hương. Anh Thức cùng thằng Nam và cái Liên bày hoa quả trên mộ chị Tình và mộ cái Na. Họ thắp hương cắm lên mộ của hai người và các nấm mộ liệt sĩ trong nghĩa trang. Đã gần trưa. Có tiếng còi xe con giục gọi phía dưới chân đồi. Anh Thức chào mọi người để trở về đơn vị. Nghĩa trang còn lại ba người. Một cơn gió buổi sáng thổi ào qua lành lạnh. Cái Liên bảo thằng Nam:
- Chúng mình sang bên kia thắp cho lão Vận một nén hương nhé!
Ba người dắt nhau sang khu nghĩa địa nhân dân. Họ cùng đứng lặng hồi lâu trước một nấm mộ nhỏ bé lấp khuất dưới lớp cỏ hoang dại, um tùm…
(Hết) Hà Nội, tháng 10-2015
TRỌNG BẢO

Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2018

Tiểu thuyết TRĂNG QUÊ (phần 41)

TRĂNG QUÊ (phần 41)
Tiểu thuyết của Trọng Bảo

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, mọi người đang đứng, bầu trời, ngoài trời và thiên nhiên

Hừng "thọt" thập thò mãi mới dám gõ cửa phòng làm việc của ban chỉ huy quân sự xã. Đây là lần đầu tiên Hừng "thọt" đến tận trụ sở làm việc của lãnh đạo xã Hòa Sơn tại nơi sơ tán trong khu rừng lá cọ. Người mà Hừng "thọt" đang cần gặp là xã đội phó Phạm Bản.
Phạm Bản đang ngồi đọc tài liệu huấn luyện dân quân. Hừng "thọt" gặp xã đội phó Phạm Bản thắc mắc về những chuyện ở trung đội dân quân làng Hạ. Sau chiến công bắn rơi máy bay phản lực Mỹ việc khen thưởng, việc đề bạt người thay thế trung đội trưởng Tình đã hy sinh khiến cho đám dân quân có nhiều điều thắc mắc, không thông. Tuy thế, không ai dám kiến nghị lên trên. Hừng "thọt" quyết định trực tiếp đi gặp xã đội phó Phạm Bản. Sau khi nghe Hừng "thọt" nêu những bức xúc của mình, Phạm Bản bảo:
- Tôi cũng có việc cần lên trận địa Đồi Ma ngay bây giờ, chúng ta vừa đi vừa nói chuyện nhé!
- Vâng!
Hừng "thọt" đáp và đứng dậy đi ra cửa. Phạm Bản khoác cái xà-cột bạt cũ kỹ lên vai đi ra sau. Vừa đi hai người vừa trao đổi. Phạm Bản giải thích cho Hừng "thọt" việc tại sao cái Liên và chị Nhân không được khen thưởng gì trong trận chiến đấu vừa qua. Lý do là khi ban chỉ huy xã đội đưa lên để lãnh đạo xã xem xét khên thưởng thì có ý kiến của công an xã nêu việc chị Nhân chửa hoang vừa bị xẩy thai, cái Liên thì để mất vũ khí. Thế nên cả hai đều không được cấp trên tặng giấy khen và trao phần thưởng là một chiếc ca sắt tây tráng men có in dòng chữ "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" như những người khác. Mặc dù trong chiến công bắn rơi máy bay phản lực Mỹ thì chị Nhân và cái Liên là những người rất dũng cảm. Chuyện đề bạt chức vụ cũng vậy. Ban chỉ huy xã đội dự kiến đề bạt chị Nhân giữ chức trung đội trưởng trung đội dân quân làng Hạ, cái Liên giữ chức vụ khẩu đội trưởng khẩu đội 12ly7, nhưng trưởng công an xã Vũ Sinh kiên quyết phản đối cũng vì những lý do trên. Hiện tại, trung đội dân quân làng Hạ tạm thời giao cho cái Hiên phụ trách.
Nghe xã đội phó Phạm Bản giải thích, Hừng "thọt" vẫn chưa thông:
- Thế thằng Nam, nó chiến đấu rất dũng cảm, giao nhiệm vụ gì cũng sẵn sàng nhận và hoàn thành, tại sao trên lại không cho nó làm khẩu đội trưởng khẩu đội 12ly7?
- Thằng Nam đã có lệnh gọi nhập ngũ rồi!
Xã đội phó Phạm Bản đáp gọn lỏn. Hừng "thọt" trố mắt ngạc nhiên. Phạm Bản vỗ vai hắn nói tiếp:
- Khẩu đội 12ly7 sẽ do mày làm khẩu đội trưởng. Từ ngày mai trên trận địa Đồi Ma sẽ tăng cường thêm một khẩu 12ly7 nữa. Sắp tới, bọn Mỹ sẽ đánh phá ác liệt hơn rất nhiều đấy!
Hừng "thọt" giãy nảy:
- Em chân cẳng tấp tểnh thế này làm chỉ huy sao được chứ!
Phạm Bản thủng thẳng:
- Khẩu đội trưởng là cần người trụ lại ở trận địa trong lúc bom đạn mù trời như trận vừa rồi để chỉ huy chiến đấu, không phải để khi ác liệt bỏ chạy cho nhanh nên chân cẳng tập tễnh không thành vấn đề!
Vậy là mọi việc đã rõ ràng. Hừng "thọt" thôi không còn thắc mắc thêm gì nữa. Nhưng hắn lại cảm thấy buồn. Hóa ra người ta vẫn còn định kiến nặng nề với những khuyết điểm của cá nhân. Khi bom đạn mù trời, sống chết sát sạt thì không ai phân biệt, cứ chiến đấu dũng cảm là được. Nhưng khi bình yên thì việc phân định công lao, chia phần chiến thắng, khen thưởng, đề bạt bổ nhiệm thì phải xem xét kỹ đến lý lịch, tiền sự, gốc tích nhân thân như thế nào. Ai đã có lỗi thì không thể có công. Đó cũng là câu chuyện của muôn thuở. Chiến tranh là thế mà hòa bình rồi cũng thế.
Phạm Bản và Hừng "thọt" lên đến đỉnh Đồi Ma. Các chiến sĩ dân quân đang khẩn trương khôi phục lại trận địa sau trận bom. Không khí nặng nề vì trung đội dân quân làng Hạ bị tổn thất lớn sau trận đánh vừa qua. Tuy thế, không ai tỏ ra bị quan, hoảng sợ. Căn nhà hầm đã được làm lại mái. Giữa nhà kê một cái bàn nhỏ trên đặt một cái bát cắm đầy chân nhang và một lọ hoa rừng. Đó là bàn thờ chị Tình và cái Na. Vậy là từ nay trên đỉnh Đồi Ma có hai nơi để thờ những người phụ nữ. Một là bát hương trong hõm đá thờ các trinh nữ là thần giữ của ngày xưa và một là bát hương trong nhà hầm thờ các liệt nữ ngày nay.
Sau khi kiểm tra việc củng cố lại công sự trận địa, bố trí các loại hỏa lực, xã đội phó Phạm Bản gọi thằng Nam đến. Thằng Nam đang hì hục khoét hầm trú ẩn cạnh khẩu 12ly7. Thằng Nam ngạc nhiên không hiểu có việc gì mà xã đội phó trực tiếp gọi đến nó. Thằng Nam vội quẳng cái xẻng cùn rồi chui vào căn nhà hầm. Trong hầm đã có mấy dân quân đang ngồi nghỉ giải lao ngồi uống nước ở đấy. Phạm Bản mở cái xà-cột cũ kỹ lục lọi một lúc rồi lấy ra một tờ giấy đưa cho thằng Nam. Vừa cầm tờ giấy đọc lướt qua, thằng Nam đã nhảy cẫng vì vui mừng. Đó là tờ lệnh gọi nó nhập ngũ. Thế là nó được đi bộ đội trực tiếp cầm súng vào miền Nam chiến đấu. Trong đầu nó hình dung con đường ra trận thật đẹp và lãng mạn.
Thằng Nam định bàn giao luôn khẩu súng K44 cho trung đội dân quân để về làng chuẩn bị vì sáng sớm ngày kia nó đã phải lên huyện tập trung rồi. Nhưng Hừng "thọt" vội ngăn lại bảo:
- Mày cứ về nhà chuẩn bị, chia tay với gia đình, anh em, bà con làng xóm. Tối mai lên trận địa Đồi Ma liên hoan với bộ phận trực chiến của dân quân một bữa rồi hẵng đi!
Cái Liên cũng đồng tình:
- Đúng rồi! Phải liên hoan chia tay với trung đội chứ. Hôm nay thì không kịp chuẩn bị. Tối mai lên Đồi Ma với tụi mình Nam nhé!
- Đồng ý!
Thằng Nam nhận lời với vẻ rất phấn khởi. Nó đang háo hức vì được gọi nhập ngũ. Thằng Nam xin phép chỉ huy trung đội về làng ngay để thông báo với gia đình chuyện nhập ngũ. Hừng "thọt" bàn với cái Hiên và cái Liên việc chuẩn bị liên hoan tiễn thằng Nam lên đường nhập ngũ. Cả bọn thống nhất làm một mâm cơm cúng chị Tình và cái Na và cũng để liên hoan tiễn chân thằng Nam luôn. Bàn bạc xong xuôi, Hừng "thọt" tập tễnh đi xuống bến sông Phó Đáy. Hừng "thọt" tìm lão Vận để kiếm thêm một con cá tươi cho bữa liên hoan tối ngày mai.
Bữa cơm cuối cùng của thằng Nam trên trận địa Đồi Ma chỉ gồm có bộ phận canh gác phòng không và khẩu đội 12ly7. Xã đội phó Phạm Bản hứa nhưng chắc có việc bận nên không thấy lên. Mọi người ăn uống trò chuyện đến tận khuya. Có một chai rượu gạo Hừng "thọt" mang lên, mỗi người làm một chén nhỏ. Đây là bữa liên hoan đầu tiên kể từ khi trung đội dân quân làng Hạ gặp một biến cố lớn, hai người hy sinh. Với chiến công bắn rơi máy bay Mỹ, trung đội dân quân làng Hạ được cấp trên khen thưởng, được đề nghị tặng huân chương chiến công nhưng không ai nghĩ đến việc tổ chức liên hoan mừng công. Họ vẫn còn chưa nguôi ngoai vì sự tổn thất, mất mát trong trận đánh ấy. Những người bị thương cũng chưa ai trở lại trận địa. Chị Nhân đang tạm nghỉ ở nhà uống thuốc nam. Hai chiến sĩ khác đang ở bệnh viện vì vết thương chưa lành hẳn. Riêng phó tiến sĩ Dương Thụy thì được gia đình đưa đi mất tăm luôn ngay sau trận bom hôm ấy.
Sau bữa liên hoan, thằng Nam quyết định ngủ lại trận địa với Hừng "thọt". Hai anh em nằm trong hầm tâm sự gần như suốt đêm. Họ đã quen những đêm thức trắng để trực chiến như vậy rồi.
Gần sáng, thằng Nam trở dậy. Nó lay lay Hừng "thọt" nói:
- Thôi em phải đi đây!
Hừng "thọt" bảo:
- Ừ! Mày đi mạnh khỏe, nhớ là khi ra trận phải thật cẩn thận đấy!
- Vâng! Anh cứ yên tâm... Hẹn ngày chiến thắng trở về anh em mình lại gặp nhau, lại cùng đi trực chiến trên Đồi Ma nhé!
Thằng Nam đi rồi, Hừng "thọt" vừa ngáp ngủ vừa lẩm bẩm một mình: "Mày mà trở về được đã là may lắm rồi. Lúc mày về hết chiến tranh còn trực chiến, trực chót trên Đồi Ma làm cái gì nữa chứ!".
Thằng Nam theo đường giao thông hào tụt xuống dưới chân đồi. Lòng hào giao thông mới dọn dẹp, san phẳng những chỗ nước xoáy thành rãnh nên rất dễ đi. Đã qua rằm, trời gần sáng nhưng trăng chưa kịp lặn. Mặt trăng không thật tròn đầy nhưng vẫn còn rất sáng. Mảnh trăng vàng treo lơ lửng mãi tận phía rừng xa. Ánh trăng mênh mông trải thảm trên cánh đồng làng Hạ cũng mênh mông.
Thằng Nam đi đến lưng dốc thì có tiếng gọi rất khẽ ở ngã ba tuyến hào giao thông:
- Nam ơi! Đợi mình với...
Thằng Nam ngạc nhiên nhận ra là giọng cái Liên. Nó dừng lại chờ và hỏi:
- Liên cũng về làng bây giờ à?
- Không... mình... mình đi tiễn Nam một đoạn.
Cái Liên nhô ra rất nhanh. Hình như nó đã đứng chờ ở đây lâu rồi. Cái Liên không mang theo súng. Nó mặc một bộ quần áo sáng màu, không đeo vòng lá ngụy trang. Ban đêm nên không sợ máy bay Mỹ phát hiện. Thằng Nam liền bảo:
- Không phải tiễn đâu. Liên về ngủ đi, mai còn phải trực chiến!
- Ngày mai Nam ra trận rồi. Mình muốn... tặng cho Nam một cái này!
Tiếng cái Liên rất nhỏ như đang thì thào bên tai thằng Nam. Cái Liên tiến lại gần thằng Nam. Nó kéo thằng Nam rẽ vào một lối hào giao thông khác. Đó là lối giao thông hào rẽ xuống phía bến sông Phó Đáy, nơi sườn đồi toàn những bụi cây gai xấu hổ rậm rạp. Thằng Nam hơi giằng lại. Nó không muốn đi lối này vì phải vòng qua cánh đồng về làng Hạ hơi xa. Thằng Nam bảo:
- Thôi chúng mình đứng đây nói chuyện một lúc rồi mình còn phải về làng chào bố mẹ để còn lên đường cho kịp thời gian giao quân.
Cái Liên buông tay thằng Nam và đứng dựa lưng vào thành hào giao thông rồi hỏi:
- Nam có biết chuyện gì sắp xảy ra với làng Hạ chúng ta không?
- Không! Mà có chuyện gì ngoài việc ngày mai làng ta tiếp tục tiễn ba thanh niên lên đường nhập ngũ vào miền Nam chiến đấu?
Cái Liên nói giọng chùng xuống:
- Ngày mai, sau khi Nam cùng mấy anh em trong làng, trong xã lên đường nhập ngũ rồi thì họ sẽ tổ chức báo tử và làm lễ truy điệu cho anh Xuyên và mấy người nữa đấy!
- Thế à?
- Giấy báo tử đã gửi về xã từ mấy hôm trước. Nhưng lãnh đạo xã họ muốn để bọn Nam lên đường yên tâm nên chờ sau khi giao quân xong mới làm lễ truy điệu cho các liệt sĩ. Lần này làng Hạ có gia đình anh Xuyên, toàn xã Hòa Sơn có bốn gia đình sẽ nhận được giấy báo tử liệt sĩ...
Thằng Nam lặng im không hỏi thêm. Cái Liên cũng lặng đi một lát rồi mới nói tiếp, giọng vẫn còn xúc động:
- Buồn quá! Tại sao con trai làng ta cứ ra đi mà không ai trở về thế nhỉ?
- Chiến tranh mà...
Cái Liên thì thào:
- Nhưng... Nam nhất định phải trở về nhé!
- Ừ... nhất định!
Thằng Nam đáp nhưng nó cũng không tin ở lời mình nói lắm. Cái Liên lại thì thào bảo:
- Đưa tay đây, mình tặng Nam cái này làm kỷ niệm...
Thằng Nam chìa tay phải cho cái Liên. Trong đầu nó thoáng nghĩ thầm: "Chắc lại là một cái khăn mùi-xoa thêu chim bồ câu hay cái vỏ gối có thêu hoa và hai chữ "Quyết thắng" chứ gì!". Cái Liên cầm tay của thằng Nam nâng lên soi dưới ánh trăng. Và, thật bất ngờ, cái Liên ấp bàn tay thằng Nam vào bên ngực trái của mình. Ngực áo cái Liên đã mở sẵn khuy tự bao giờ rồi. Bàn tay thằng Nam chạm vào một bầu vú căng tròn mịn màng của người con gái cùng làng. Thằng Nam hốt hoảng định rụt tay mình lại nhưng cái Liên cứ giữ chặt ở trên ngực mình. Cái Liên hổn hển bảo:
- Mình muốn... tặng Nam là cái này...
Cái Liên níu thằng Nam đổ người áp chặt vào mình. Nó lần tìm và kéo nốt bàn tay còn lại của thằng Nam đặt lên bên ngực kia của mình. Sau giây phút bất ngờ, thảng thốt, thằng Nam dần lấy lại sự bình tĩnh. Lần đầu tiên nó được đặt bàn tay trực tiếp lên khuôn ngực một người con gái mềm mại, tròn căng và đẹp như thế này. Nó cảm nhận được sự kỳ diệu đang ở trong lòng bàn tay của mình. Cái Liên để yên một lúc lâu rồi lại đột nhiên gỡ bàn tay phải của thằng Nam ra vít mạnh đưa xuống phía dưới. Thằng Nam thêm một lần nữa bị bất ngờ bởi những điều nó lần đầu được biết. Bàn tay thằng Nam chạm vào một sự rối bời nhưng đầy lạ lùng, hấp dẫn đến tận cùng trên cơ thể người con gái. Nó như mê đi... Mọi việc tiếp theo diễn ra rất nhanh. Cái Liên chủ động mọi việc. Khi thằng Nam lúng túng không biết làm như thế nào vì đối với nó đây cũng là lần đầu tiên trong cuộc đời và hoàn toàn mới lạ. Cái Liên lại phải hạ tay xuống để trợ giúp thằng Nam định vị. Đoạn cái Liên vòng hai tay ôm thằng Nam kéo giật mạnh về phía mình. Thằng Nam thấy người như hẫng đi, chơi vơi khi đã xâm nhập trọn vẹn vào cơ thể của người con gái cùng làng.
Sự việc diễn ra và xong rất nhanh nhưng cả cái Liên và thằng Nam đều thấy rất hài lòng thỏa mãn. Cái Liên chỉnh sửa lại quần áo rồi đi tiễn thằng Nam thêm một đoạn nữa xuống tận đầu cánh đồng làng Hạ. Trời sáng rõ, trăng đã tàn. Bình minh hồng lên ở phía chân trời. Hai đứa chia tay nhau hẹn ngày gặp lại. Một người quay lên trận địa phòng không, một người đi ra chiến trường. Đó cũng là ngày cuối cùng khi đất nước còn chiến tranh thằng Nam ở làng. Một ngày mà với nó là một kỷ niệm mãi mãi không thể nào quên...
(còn nữa) Hà Nội, 10-2015

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2018

Tiểu thuyết TRĂNG QUÊ (phần 40)

TRĂNG QUÊ (phần 40)
Tiểu thuyết của Trọng Bảo

Không có văn bản thay thế tự động nào.

Chị Tình nằm đó, lặng yên trong hội trường. Không khí âm u. Không có tiếng máy bay khoảng trời trung du tự dưng trùng hẳn xuống. Đó không phải là sự bình yên mà là sự bất an, là một khoảng lặng của chiến tranh. Thằng Nam và cái Liên đã bóc bỏ hai chữ "Hạnh phúc" để dán lên dòng chữ "Lễ truy điệu đồng chí Nguyễn Thị Tình". Các bức tường hai bên và phía sau hội trường thì vẫn còn nguyên những hình họa tiết tươi vui của một đám cưới chưa kịp bóc.
Sắp tới giờ tổ chức buổi lễ thì anh Thức và một chiến sĩ mới đến. Trận địa đơn vị pháo cao xạ bên kia sông cũng bị trúng bom Mỹ. Một chiến sĩ đơn vị cao xạ hy sinh và ba chiến sĩ khác bị thương. Anh Thức phải lo cho xong mọi việc ở đơn vị mình rồi mới sang dự lễ truy điệu người vợ sắp cưới. Anh lặng lẽ đặt lên nắp quan tài chị Tình một cái lược, hai chiếc nhẫn và một cái hộp đựng bàn chải, thuốc đánh răng. Tất cả đều được làm bằng đuya-ra, một thứ hợp kim lấy từ xác những máy bay Mỹ mà đơn vị anh đã bắn rơi. Đây cũng là những vật kỷ niệm anh dự định sẽ tặng chị trong ngày cưới. Người chiến sĩ đi cùng trân trọng đặt lên một bó hoa tươi. Đó chính là bó hoa hồng mà các chiến sĩ đơn vị cao xạ chuẩn bị để tặng cô dâu trong tiệc cưới. Chỉ khác là dải nơ hồng buộc bó hoa đã được thay bằng một dải băng đen. Cái Liên cũng đặt lên trên nắp quan tài người chỉ huy của mình một cái gói nhỏ bằng giấy màu hồng nhạt. Đó là tặng phẩm đám cưới của nó và chị Nhân. Trong cái gói nhỏ ấy có một bộ đồ lót của phụ nữ màu trắng mỏng tang dành cho cô dâu mặc trong đêm tân hôn.
Bốn người gồm trung úy Thức, cái Liên, thằng Nam và người lính cao xạ cùng đứng cúi đầu từ biệt người đã khuất. Anh Thức bảo sau lễ truy điệu anh phải lên đường đi nhận nhiệm vụ mới ngay. Anh được bổ nhiệm giữ chức vụ tiểu đoàn phó tại một đơn vị tên lửa, loại vũ khí mới mà anh đã được cử đi tập huấn sử dụng và chỉ huy bắn mấy tháng trước. Đơn vị tên lửa của anh nhận nhiệm vụ hành quân gấp vào tuyến lửa khu bốn để "đón lõng" bắn hạ máy bay chiến lược B52 của giặc Mỹ.
Buổi lễ truy điệu diễn ra trong tình trạng báo động phòng không được nâng cấp sau trận bom lúc trưa nay. Hội trường đóng kín các cửa để ánh sáng lóa của cây đèn măng-xông khỏi lọt ra bên ngoài. Trên lễ đài khói hương nghi ngút. Tiếng khóc nghẹn của mẹ và em gái chị Tình. Chủ tịch xã Nguyễn Trung Hiếu đọc điếu văn, giọng đầy đau thương, xúc động. Giữa lúc đang tổ chức lễ tang chị Tình thì lại nhận được tin cái Na đã chết tại bệnh viện dã chiến của quân đội, vết thương quá nặng nên nó không qua nổi. Chủ tịch xã Nguyễn Trung Hiếu thông báo cho các đại biểu biết buổi tối ngày mai sẽ tổ chức lễ truy điệu nữ chiến sĩ dân quân Mai Thị Na tại làng Hạ. Bố mẹ cái Na đã đưa nó về nhà rồi. Vậy là trận bom lúc gần trưa nay trung đội dân quân làng Hạ có hai người hy sinh, bốn người bị thương, mất đúng một phần năm quân số. Làng Hạ kể từ hôm nay có thêm hai liệt sĩ mà không cần giấy báo tử.
Lễ truy điệu xong thì đã quá nửa đêm. Anh Thức rất buồn khi vĩnh biệt người vợ sắp cưới. Mặt anh hốc hác, sạm đen vì khói đan. Anh chia tay những người dân quân dũng cảm làng Hạ rồi cùng người chiến sĩ đi ngay trong đêm cho kịp thời gian hành quân. Anh không thể ở lại để đưa chị Tình về nơi an nghỉ cuối cùng. Mờ sáng hôm sau chị Tình sẽ được đưa đi mai táng ở trên một quả đồi lá cọ phía sau làng Hạ. Suốt đêm ấy, các chiến sĩ dân quân đã bồng súng thay nhau đứng canh cho chị yên nghỉ trong hội trường. Trên trận địa Đồi Ma một dải băng tang trắng được buộc vào nòng khẩu 12ly7. Chôn cất chị Tình xong thì trời đã tang tảng sáng, cái Liên rủ thằng Nam cùng tranh thủ đi thăm chị Nhân và những dân quân bị thương đang nằm điều trị ở bệnh viện quân y số 9 sơ tán tại xã bên. Sau đó, hai người vòng lên trận địa Đồi Ma luôn. Hai đứa đi tắt qua một khu rừng lim sang xã bên. Con đường mòn cắt qua mấy dòng suối lổm ngổm sỏi đá nên rất khó đi. Đến khu rừng bệnh viện quân đội sơ tán thì hai người bị chặn lại. Một chiến sĩ vệ binh đeo băng đỏ đề nghị họ xuất trình giấy tờ. Khi biết cái Liên và thằng Nam đều là dân quân làng Hạ, những người bằng súng bộ binh đã bắn rơi máy bay phản lực hiện đại của Mỹ hôm qua, chiến sĩ vệ binh nhiệt tình hướng dẫn họ đến nơi những người đồng đội của họ bị thương đang điều trị.
Chị Nhân và hai nữ dân quân đang nằm ở một phòng bệnh trong căn nhà dã chiến nửa chìm nửa nổi. Thấy cái Liên và thằng Nam đến hai nữ dân quân bị thương nhẹ ở tay và ở đầu liền ngồi dậy. Chị Nhân thì vẫn nằm nghiêng quay mặt vào vách nhà hầm như đang ngủ.
Vừa bước vào phòng cái Liên đã lên tiếng hỏi:
- Mọi người đã đỡ chưa?
- Tao với cái Linh đã đỡ rồi! Chỉ vài hôm nữa là xuất viện về tiếp tục chiến đấu được ngay. Chỉ có chị Nhân là vẫn...
Cái Mận cánh tay trái băng trắng toát treo trên cổ đáp rồi hất hàm về phía chị Nhân. Cái Liên ngạc nhiên hỏi lại:
- Chị Nhân bị thương nặng lắm à?
Cái Mận vội vã tụt xuống khỏi giường giơ cánh tay còn lành lặn lên ra hiệu. Đoạn, nó kéo cái Liên ra bên ngoài cửa phòng thì thào:
- Chị Nhân đã bị... sảy thai rồi! Chị Nhân đang rất buồn. Mày lựa lời động viên an ủi chị ấy nhé! Chuyện này cũng đừng nói cho ai biết kẻo chị ấy sẽ bị kiểm điểm kỷ luật mất thôi...
Cái Liên trợn tròn mắt, há miệng ngạc nhiên. Nhưng rồi nó hiểu ra ngay mọi chuyện. Thì ra, chị Nhân đã có thai với tay phó tiến sĩ "họ dê" kia rồi. Cái Liên nghĩ thầm: "Thảo nào dạo này trông chị có vẻ đẫy đà hơn, đi đứng chậm chạp, nhất là không bao giờ tắm chung với mình. Thì ra, chị ấy sợ mình phát hiện ra quầng vú bị thâm do nghén”. Đến bây giờ cái Liên cũng mới biết là chị Nhân đã buộc chặt bụng cố giấu không để mọi người biết đã có thai mấy tháng. Hôm qua, do bị sức ép của quả bom nổ gần, chị Nhân bị hất đập bụng vào thành công sự nên cái thai đã động mạnh. Khi chị đang tham gia đào bới tìm người dưới hố bom thì bị sảy thai, máu ra ướt sũng hai ống quần. Lúc ấy mọi người lại cứ tưởng chị bị thương vào đùi, vội vàng cáng ngay đến bệnh viện quân đội. May mà chị được đưa đi cấp cứu kịp thời nên không nguy hiểm đến tính mạng.
Cái Liên và cái Mận quay vào phòng. Chị Nhân đã nằm quay lại và đang nói chuyện với thằng Nam. Cái Liên cố nén hỏi:
- Anh Thụy đang nằm ở đâu?
Chị Nhân nói, giọng có vẻ còn rất buồn và mệt mỏi:
- Anh ấy nằm ở khu nhà bên cạnh. Tối hôm qua, sau khi tỉnh lại, anh ấy còn sang đây hỏi thăm tình hình của mọi người...
Cái Liên bảo thằng Nam cùng sang thăm Dương Thụy. Hai đứa đi theo tuyến giao thông hào rộng phía trước ngôi nhà nửa chìm nửa nổi sang khu dành cho các thương bệnh binh nam giới ở ngay gần bên cạnh. Trong căn nhà hầm này cũng kê mấy chiếc giường cho bệnh nhân. Chỉ có một người mặc quân phục đang nằm trên cái giường ở góc nhà. Một chị phụ nữ mặc áo blu trắng đang dọn dẹp gấp chăn màn trên cái giường giữa phòng. Đó là một y tá của bệnh viện quân đội. Cái Liên chào chị rồi hỏi:
- Chị ơi! Anh dân quân làng Hạ bị thương nằm ở đây đâu rồi ạ?
Chị y tá bảo:
- Đấy là phó tiến sĩ Dương Thụy?
- Đúng rồi! Hôm qua anh ấy bị thương đưa đến đây cấp cứu.
- À... ông này đâu có bị thương! Mà ông ấy chỉ bị ngất đi vì… hoảng sợ quá thôi!
Chị y tá nói nhấm nhẳng. Cái Liên phải hỏi lại cặn kẽ thì mới hiểu rõ mọi sự. Hóa ra là hôm qua khi máy bay Mỹ lao xuống ném bom, bắn rốc-két vào trận địa Đồi Ma, phó tiến sĩ Dương Thụy sợ quá đã bỏ chạy xuống chân đồi, vứt luôn hòm đạn 12ly7 ở lưng chừng dốc. Đấy cũng chính là hòm đạn mà lão Vận đã nhặt được và vác lên trận địa. Cũng do quá hoảng loạn nên Dương Thụy bị ngất xỉu đi, mặt úp xuống vũng bùn nhão, may mà có người kịp phát hiện. Chỗ Dương Thụy bị ngã ngất cũng là đoạn hào cụt đám con gái làm chỗ đi vệ sinh, nơi lần trước vị phái viên quân sự cấp trên Lê Thanh Tục đã lao vào ẩn nấp khi máy bay Mỹ ập đến ném bom.
Cái Liên đến gần chị y tá hỏi thêm:
- Thế vị phó tiến sĩ ấy đâu rồi hả chị?
- Đi rồi!
- Đi đâu ạ?
- Không biết! Bố mẹ ông ấy vừa mới đưa xe con đến đón xong. Họ đề nghị cho ông ấy xuất viện gấp để đưa ngay về một bệnh viện trung ương có phương tiện, trang thiết bị hiện đại, thuốc men đầy đủ, tốt hơn, bác sĩ giỏi hơn để tiếp tục điều trị và an dưỡng.
Cái Liên khẽ thở dài. Nét mặt nó hơi cau lại. Vậy là tay phó tiến sĩ “họ dê” này lặng lẽ ra đi mà không nói một lời nào với người yêu là chị Nhân đang nằm điều trị ở ngay phòng bệnh bên cạnh. Hắn ta đã bỏ chạy khỏi trận địa và người yêu như thế đấy.
Mãi sau này cái Liên và đám dân quân làng Hạ mới biết Dương Thụy đã được ông bố xin cho đi du học tại Liên-xô để nghiên cứu và bảo vệ luận án tiến sĩ về văn hóa với tiến trình phát triển của xã hội loài người...
(còn nữa) Hà Nội, 10-2015

Thứ Hai, 27 tháng 8, 2018

Tiểu thuyết TRĂNG QUÊ (phần 39)

TRĂNG QUÊ (phần 39)
Tiểu thuyết của Trọng Bảo

Không có văn bản thay thế tự động nào.

Thằng Nam về đến nhà thì quá nửa đêm. Nó ngả lưng xuống cái phản giữa nhà. Trong buồng, mẹ và em nó đã ngủ ngon. Có tiếng gà xao xác gáy. Trong đầu thằng Nam hình ảnh khuôn ngực tròn trịa của cái Liên nhìn thấy lúc trang trí đám cưới cứ luôn hiện lên khiến nó không tài nào mà ngủ được. Nó nghĩ đến cái chuyện mà nó chưa một lần được biết, được làm. Một đêm ngủ trên trận địa Đồi Ma, anh Hừng đã kể cho nó nghe về chuyện ấy hấp dẫn và tuyệt đến thế nào nhưng nó vẫn không hình dung được cặn kẽ. Đối với một thằng thanh niên mới lớn như nó mọi chuyện đều mới mẻ. Trong đầu nó luôn luôn là những câu hỏi, những thắc mắc tò mò mà không dám hỏi ai. Kể từ khi nó trông thấy chị Nhân và cái Liên tắm truồng dưới suối nhất là sau cái đêm nó quờ tay chạm vào một bên ngực tròn căng của cái Liên trong lòng thằng Nam luôn mơ hồ nghĩ về những điều khác lạ. Hôm nay, nó lại được nhìn thật gần, thật rõ bộ ngực tuyệt đẹp ấy. Thằng Nam thấy sức lực trẻ trung luôn rân rân chảy tràn trong cơ thể. Mặc dù ăn uống đói kém, lao động huấn luyện vất vả nhưng nó vẫn dồi dào sinh lực, không ốm o như mấy thằng cùng trang lứa.
Gần sáng, thằng Nam mới chợp mắt đi được một lát. Nó mơ thấy có một người con gái rất đẹp mặc bộ quần áo mỏng tanh, nhìn thấu cả cơ thể. Cô gái dìu nó bay lên, bay lên. Lần đầu tiên nó được bay như thế. Người con gái đẹp cứ áp chặt cái cơ thể ấm áp, gần như trần trụi ấy vào người khiến thằng Nam thấy lâng lâng, lâng lâng đầy những cảm giác mới lạ...
Có tiếng người gọi ngoài cổng, thằng Nam bừng tỉnh. Trời đã sắp sáng. Mẹ và em gái nó đã đi gặt sớm để phòng tránh máy bay Mỹ. Chắc là cái Liên và chị Nhân gọi nó cùng lên trận địa. Thằng Nam vội ngồi dậy vớ cái quần dài định mặc thì thấy hai đùi mình dinh dính. Nó sờ tay xuống và hơi hoảng. Thằng Nam vội tìm cái quần lót khác rồi chạy vụt ra nhà tắm. Mặc xong quần áo, thằng Nam khoác khẩu súng lao ra ngoài cổng. Vừa nhìn thấy thằng Nam cái Liên đã cằn nhằn:
- Làm gì mà hôm nay lề mề thế?
Thằng Nam ấp úng:
- Mệt quá... ngủ quên...
Chị Nhân đưa cho thằng Nam một gói lá chuối nhỏ và nói:
- Ăn đi! Cơm nếp gạo mới đấy! Thôi vừa đi vừa ăn cho kịp thời gian.
- Thế chị và Liên không ăn à?
- Hai chúng tao ăn trước rồi! Nấu xong, ăn xong mới đến gọi mày đấy. Ngủ gì mà ngủ khiếp thế. Mà mày hồi này là hay chậm chạp lắm!
Nói xong, chị Nhân và cái Liên đi trước. Thằng Nam lùi lũi theo sau. Vừa đi, thằng Nam vừa véo từng cục cơm nếp cho vào miệng nhai. Ngon quá. Miếng cơm nếp đầu mùa thật thơm và thật dẻo. Ba người đến chân Đồi Ma thì trời sáng hẳn. Mặt trời ló lên trên dãy núi Tam Đảo bung tỏa những tia nắng đầu tiên xuống vùng đồng bằng miền trung du Vĩnh Phúc, Sơn Tây. Ba người vội vã leo lên dốc. Cái Liên đi ngay phía trước thằng Nam. Thằng Nam chợt giật mình vì thấy cái Liên đang mặc một cái áo màu xám nhạt nhưng rất mỏng. Ánh nắng xuyên thấy qua lượt vải mỏng khiến thằng Nam nhìn thấy mờ ảo một bầu ngực rất tròn. Nó chợt nhớ tới giấc mơ kỳ diệu đêm qua.
Khi thằng Nam thông báo việc trang trí hội trường đám cưới của trung đội trưởng đã hoàn tất đám dân quân làng Hạ đều rất vui. Ai cũng háo hức mong trời tối nhanh để được đến dự lễ cưới của người chỉ huy. Chị Tình cũng đã có mặt trên trận địa Đồi Ma từ sáng sớm. Chị Tình đang đôn đốc khẩu đội 12ly7 khẩn trương tu sửa sang lại chỗ hào giao thông từ ụ súng vào hầm để đạn dược bị sạt lở. Mọi người đều giục chị về làng để chuẩn bị cho lễ cưới tối nay. Chị Tình chỉ ừ ào và bảo gần trưa chị sẽ về nhà. Bố mẹ chị đang chuẩn bị một mâm cơm cúng để kính cáo với tổ tiên, ông bà con gái lớn đi xây dựng gia đình. Bố mẹ chị đều đã già, chỉ mong con gái lớn chóng thành gia thất.
Gần trưa, bầu trời quang quẻ, chỉ có một vài dải mây trắng lơ thơ trên đỉnh núi Tam Đảo. Chị Tình căn dặn các bộ phận trực chiến phải nghiêm túc rồi chào mọi người để về làng. Chị cũng không quên nhắc lại lời mời mọi người tối nay đến chung vui cùng mình trong lễ cưới đời sống mới tại hội trường ủy ban xã. Đám con gái tíu tít chúc mừng và tiễn người chỉ huy, người chị của mình về chuẩn bị cho một ngày vui nhất trong cuộc đời. Chị Tình cảm ơn mọi người và quay người đi xuống dốc. Giữa lúc đó thì tiếng kẻng báo động vang lên dồn dập. Một tốp máy bay địch từ trên đỉnh núi Tam Đảo đang chúc đầu xuống cây cầu sắt. Khẩu lệnh chiến đấu vang lên gọn gàng, dứt khoát. Trung đội trưởng Tình vội lao vút trở lại vị trí chỉ huy của mình bên cạnh khẩu đội 12ly7. Chị giơ cao lá cờ hiệu hô:
- Toàn trung đội sẵn sàng chiến đấu! Khẩu đội 12ly7 bắt mục tiêu máy bay bay thấp! Tầm... hướng...
- Rõ!
- Đã bắt được mục tiêu ba chiếc. Tầm… hướng… cự ly…
- Mục tiêu chiếc thứ nhất… cự ly…
Trung đội trưởng Tình vừa hô các khẩu lệnh chiến đấu ngắn gọn vừa lắng nghe tiếng báo cáo mục tiêu của khẩu đội trưởng khẩu đội 12ly7 và của các xạ thủ đang thao tác súng. Tiếng máy bay địch gầm rú, lồng lộn trên bầu trời. Một tốp bốn chiếc bay hơi chúc đầu xuống rồi ngóc lên bay vụt qua trận địa Đồi Ma. Chị không quan tâm đến tốp máy bay vừa lướt qua mà chỉ chú ý quan sát một tốp máy bay khác đang lượn vòng trên đỉnh núi. Chị phán đoán tốp máy bay này mới chính là những chiếc sẽ lao xuống bắn phá cây cầu sắt và các trận địa phòng không hai bên bờ sông. Chị Tình chỉnh chiếc ống nhòm cho hình ảnh thật rõ nét. Tốp máy bay Mỹ trên đỉnh núi bắt đầu dàn đội hình lao xuống. Khẩu đội 12ly7 nhanh chóng ngắm mục tiêu. Các nòng súng bộ binh trên khắp trận địa của trung đội dân quân cũng sẵn sàng nhả đạn khi có hiệu lệnh. Tốp máy bay to dần. Chiếc máy bay đầu đã lọt vào vòng ngắm. Hừng "thọt" ghì chặt báng sáng, mặt ngước lên rê vòng ngắm theo sát mục tiêu. Cái Liên xoay theo khẩu 12ly7, tay nâng dây đạn. Thằng Nam ép ngực vào bờ công sự bên cạnh chĩa khẩu súng K44 về hướng máy bay Mỹ đang lao tới. Chị Nhân với cương vị là khẩu đội trưởng đứng ở bên cạnh, tay phải giơ cao lá cờ hiệu đuôi nheo sẵn sàng hạ lệnh bắn.
Trung đội trưởng Tình vẫn dán mắt vào tốp máy bay Mỹ đang chúc đầu lao xuống. Đột nhiên chị hô to:
- Bỏ tốp đang lao xuống! Ngắm đón mục tiêu chiếc máy bay bay thấp phía thượng lưu sông Phó Đáy!
Mọi người vội nhìn theo hướng lá cờ chỉ thị mục tiêu của trung đội trưởng. Một chiếc F4H đang bay rất thấp dọc theo dòng sông từ phía thượng nguồn xuống lao về phía cây cầu sắt. Chiếc máy bay Mỹ bay thấp để tránh hỏa lực pháo cao xạ 37ly và tạo thế bất ngờ phóng tên lửa vào cây cầu sắt. Nhưng ý đồ đánh lén của nó đã bị người trung đội trưởng dân quân làng Hạ phát hiện. Khi chiếc máy bay Mỹ vừa lọt vào tầm súng, chị Tình hạ lệnh bắn. Hỏa lực 12ly7 và các loại súng bộ binh vỗ mặt tên giặc trời. Nó vội ngóc đầu lên phóng một quả tên lửa sàn sạt trượt qua thành cầu bay cắm xuống dòng sông phía hạ lưu. Khi chiếc F4H ngóc lên phơi bụng ra hứng trọn những loạt đạn súng bộ binh của dân quân trên trận địa Đồi Ma. Chiếc F4H trúng đạn xịt khói đen rồi nổ và bốc cháy dữ dội lao xuống phía cuối cánh đồng làng Hạ. Cả trận địa Đồi Ma và trong các làng xóm xung quanh tiếng reo hò "Máy bay Mỹ cháy rồi! Máy bay Mỹ cháy rồi" vang lên át cả tiếng phản lực gầm gào trên bầu trời.
Chị Tình định hạ lệnh cho thằng Nam và một bộ phận chạy xuống kiểm tra chỗ máy bay rơi. Một tốp máy bay Mỹ khác từ trên đỉnh núi lại tiếp tục lao xuống. Chị Tình vừa hô khẩu đội 12ly7 bám bắt mục tiêu thì một quả tên lửa phóng xuống trúng đỉnh Đồi Ma. Thêm một loạt bom nữa. Trận địa của dân quân chìm trong khói lửa. Khẩu 12ly7 bị bom hất văng vào một góc công sự. Hừng "thọt" và cái Liên bị đất đá vùi kín. Hừng "thọt" lồm cồm bò dậy cất tiếng gọi chị Nhân, cái Liên và thằng Nam. Họ vội vã bới đất khênh giá lại khẩu súng để sẵn sàng nhả đạn khi máy bay Mỹ tiếp tục lao xuống. Hừng "thọt" tiếp tục gào to gọi phó tiến sĩ Dương Thụy đem hòm đạn 12ly7 lên ngay. Nhưng gọi mãi không thấy Dương Thụy trả lời mà lại thấy lão Vận hì hục bê hòm đạn đến. Cái Liên ngạc nhiên hỏi:
- Sao ông lại lên đây! Bom đạn đang ác liệt thế này?
Lão Vận hổn hển vừa thở vừa nói không ra hơi:
- Tao đem cho tụi mày mấy cân cá để liên hoan mừng đám cưới tối nay. Thấy hòm đạn này lăn lóc ở trên sườn đồi nên vác lên đây.
Lúc này mọi người mới nhớ đến chị Tình. Họ vội lao ngay đến chỗ trung đội trưởng vẫn đứng chỉ huy đơn vị. Chỗ chị Tình đứng lúc nãy không rõ bị trúng một quả bom hay quả tên lửa mà tạo thành một cái hỗ rất rộng và sâu. Cái Hiên và mấy nữ dân quân đang vừa gào khóc vừa cuống cuồng đào bới. Xã đội phó Phạm Bản cũng đang có mặt tại đây chỉ huy việc tìm kiếm. Lúc nãy, Phạm Bản vừa tới chân dốc thì trận địa Đồi Ma bị trúng bom. Anh bị hơi bom hất ngã văng vào bụi tre gai. Bom nổ vừa dứt, Phạm Bản vội lao ngay lên đồi. Anh đến ngay hầm chỉ huy và hô hét mọi người khẩn trương đào bới tìm kiếm. Mọi người ngay sau sự hân hoan với chiến công bắn rơi máy bay phản lực Mỹ là sự kinh hoàng vì bom đạn đổ xuống đầu. Bây giờ thì là một đám nữ dân quân đầu tóc quần áo tả tơi vừa kêu khóc vừa đào bới như điên để tìm kiếm những người bị vùi lấp vì bom. Căn hầm chỉ huy bị đánh sập hoàn toàn. Mùi thuốc bom còn khét lẹt. Các chiến sĩ dân quân phải dùng tay bới moi đất vì sợ dùng cuốc xẻng sẽ đâm vào người bị thương. Một số chiến sĩ ở trung đội dân quân cơ động làng Thượng cũng đã lên trận địa Đồi Ma tham gia việc cứu hộ, vận chuyển người bị thương về tuyến sau. Trưởng công an xã Vũ Sinh cùng mấy công an viên cũng có mặt để làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh và tham gia việc đào bới tìm người bị vùi lấp. Vũ Sình yêu cầu lão Vận phải rời khỏi khu vực Đồi Ma ngay.
Đám dân quân đào bới tìm thấy cái Na gục dưới một đoạn giao thông hào bị đất vùi lấp kín. Cái Na vẫn còn thoi thóp thở được đưa ngay đến trạm cấp cứu của đơn vị quân đội. Mọi người tiếp tục đào bới trong đống đất đá ngổn ngang, hoang tàn. Họ tìm thấy thi thể trung đội trưởng Tình bị đè dưới một tảng đá khá to. Mọi người xúm lại cẩn thận bê hòn đá lăn xuống đáy hố bom. Chị Tình được đưa lên khỏi hố bom. Cái Liên bật khóc và gào lên:
- Chân và tay của chị ấy đâu rồi!
- Ối trời ơi...
Nhiều người xúm lại. Mấy nữ dân quân ngất xỉu đi khi nhìn thấy thân thể người chỉ huy của mình đẫm máu. Ngực người nữ trung đội trưởng bị đá đập nát bươm, quần áo rách tả tơi. Chân trái và cánh tay phải vẫn cầm cờ chỉ huy bị mảnh bom phạt đứt văng đi đâu mất. Xã đội phó Phạm Bản lệnh cho đám dân quân tiếp tục tìm kiếm. Họ đào bới xung quanh nơi chị Tình hi sinh chỉ tìm thấy bên chân trái còn cánh tay phải thì không biết đã bay đi tận đâu. Phạm Bản bảo chị em dân quân đưa chị Tình vào nhà hầm lau chùi, thay quần áo, bó buộc trước khi chuyển về phía sau. Giữa lúc ấy thì có tiếng cái Hiên kêu lên:
- Chị Nhân cũng bị thương, máu chảy nhiều quá ngất đi rồi!
Cái Liên vội lao ngay đến. Chị Nhân gục xuống phía bên kia hố bom. Máu chảy ướt đẫm cả hai ống quần. Mấy nữ dân quân vội xô lại băng bó, sơ cứu rồi đặt chị Nhân lên cáng khênh đi ngay. Xã đội phó Phạm Bản yêu cầu các tiểu đội kiểm tra lại quân số, vũ khí xem thiếu, đủ thế nào để tiếp tục tìm kiếm. Giữa lúc ấy thì lại có tiếng kêu thảng thốt ở dưới lưng chừng dốc:
- Có người chết! Có người chết ở đây!
Phạm Bản lệnh cho dân quân tản ra các hầm trú ẩn đề phòng máy bay Mỹ tiếp tục bắn phá rồi bảo thằng Nam, cái Hiên cùng hai dân quân làng Thượng đem cáng thương theo mình chạy xuống lưng chừng dốc. Họ chạy đến chỗ tiếng người kêu. Đó là một nữ dân quân làng Thượng lên chi viện. Nữ chiến sĩ dân quân chỉ vào một đoạn chiến hào cụt. Có một người đang nằm co quắp ở đấy mặt úp xuống bãi đất bùn nhão. Thằng Nam chạy đến bê lật người này lên. Đó là phó tiến sĩ Dương Thụy. Thằng Nam vội vàng sờ nắn, kiểm tra khắp người Dương Thụy. Không có một vết thương nào. Thằng Nam ghé tai vào ngực trái Dương Thụy rồi kêu lên:
- Vẫn còn sống! Tim vẫn còn đập rất rõ...
- Chắc là chỉ bị sức ép của bom nên bị ngất đi thôi!
Phạm Bản nhận định và lệnh cho hai dân quân làng Thượng khênh cáng đưa phó tiến sĩ Dương Thụy về tuyến sau cấp cứu. Đoạn anh cùng thằng Nam và cái Hiên quay trở lên đỉnh Đồi Ma.
Chị Tình đã được đưa xuống đặt giữa căn nhà hầm. Căn nhà hầm bị bom thổi bay mất mái chỉ còn trơ mấy cái cột tre. Cái Liên và lão Vận đang thay quần áo, lau mặt, chải tóc cho chị Tình. Đám nữ dân quân sợ, cứ nhìn thấy máu là muốn ngất xỉu đi chỉ có cái Liên là không sợ hãi. Lão Vận giúp cái Liên việc khâm liệm. Xã đội phó Phạm Bản hướng dẫn thêm cho họ việc gói buộc người đã hy sinh. Họ đặt bên chân trái bị đứt rời vào thân thể của chị Tình sau đó dùng cái võng bạt gói lại. Cái võng bạt còn mới này là của anh Thức tặng cho chị Tình. Xong xuôi, đích thân phó xã đội trưởng Phạm Bản và trưởng công an xã Vũ Sinh hộ tống đưa thi thể chị Tình về hội trường ủy ban xã trong khu rừng lá cọ. Tại đây sẽ tổ chức trọng thể lễ truy điệu cho người nữ trung đội trưởng dân quân làng Hạ dũng cảm. Chị Tình được đặt vào chiếc quan tài màu đỏ phủ một lá quốc kỳ. Chị đang nằm ngay dưới tấm phông cưới của mình, dưới hai chữ "hạnh phúc" và câu khẩu hiệu "Vui duyên mới không quên nhiệm vụ". Mọi người và cả chị Tình nữa không ai ngờ rằng lẽ ra tối hôm nay sẽ là đám cưới, nhưng lại là lễ truy điệu của chị. Mâm cơm bố mẹ làm để kính cáo tổ tiên ông bà báo hỷ lại trở thành mâm cơm cúng cho chị.
Phạm Bản bảo thằng Nam bóc bỏ hết những chữ đã dán tối hôm qua chuẩn bị cho đám cưới để dán thế lên đó một dòng chữ mới sẵn sàng cho lễ truy điệu liệt sĩ vào buổi tối hôm nay...
(còn nữa) Hà Nội, 10-2015

Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2018

Tiểu thuyết TRĂNG QUÊ (phần 38)

TRĂNG QUÊ (phần 38)
Tiểu thuyết của Trọng Bảo

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng và ngoài trời

Một chuyện rất vui đã đến với trung đội dân quân thường trực làng Hạ. Đó là đám cưới của người chỉ huy của họ với anh đại đội trưởng đại đội cao xạ. Hai người đã chính thức thông báo là sẽ tổ chức lễ cưới vào giữa tháng mười. Thời gian này cũng là lúc lúa chín. Một mùa màng trông đợi của bao người nông dân quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, nghe tiếng kẻng là vội vã ra đồng làm lụng, nghe tiếng bom là chui ngay vào lòng đất lánh nạn. Dân làng Hạ chờ mong mùa về sân kho của hợp tác xã vụ gặt sẽ ngồn ngộn lúa vàng. Được mùa, giá trị ngày công lao động sẽ cao, cái đói sẽ bớt đi. Ở vùng quê trung du rất nghèo này nhiều khi nỗi sợ hãi về chiến tranh không lớn bằng sự sợ hãi của những ngày giáp hạt.
Chị Tình và anh Thức cùng lên trận địa Đồi Ma để thông báo và nhờ anh chị em trong trung đội dân quân giúp đỡ việc chuẩn bị tổ chức lễ cưới. Nhìn hai người thật đẹp đôi. Niềm hạnh phúc sáng ngời ngời trong mắt họ. Cả trung đội dân quân xúm lại chúc mừng hai người. Trong khi mọi người đều mừng vui thì cái Liên lại buồn. Nó ngập ngừng hỏi anh Thức:
- Thế khi... cưới xong anh có đưa chị Tình về quê không ạ?
- Thuyền theo lái, gái theo chồng! Có thế mà cũng phải hỏi! - Thằng Nam nhanh nhảu cắt lời cái Liên và nói thêm: - Chiến tranh thì chiến tranh, anh cứ phải tố chức đưa đón dâu thật đàng hoàng. Dùng xe vận tải chuyên kéo pháo để đón dâu cũng được, đi ban đêm cho an toàn, cho tụi em về quê anh một chuyến để biết biển là thế nào.
Cái Liên bực vì bị thằng Nam ngắt lời. Nó càu nhàu vặc lại:
- Không biết gì cũng cứ ra vẻ! Thế khi chị Tình về nhà chồng rồi, trung đội dân quân làng Hạ chúng ta mất người chỉ huy à?
- Ừ nhỉ...
Mọi người lúc này mới ớ người ra ngơ ngác khi nghe cái Liên nói như vậy. Anh Thức mỉm cười nhìn đám dân quân rồi bảo:
- Yên chí! Cưới xong thì mình sẽ... xin ở rể làng Hạ cho đến khi nào hết chiến tranh mới đưa cô dâu về quê cơ!
- Ôi thế thì còn gì bằng. Anh vẫn được cô dâu mà dân quân làng Hạ chúng em vẫn không bị mất trung đội trưởng!
Mọi người đều vui vẻ khi nghe anh Thức nói như vậy. Thằng Nam lại làm ra vẻ hiểu biết lên tiếng an ủi anh sĩ quan cao xạ:
- Thôi thì... anh cố gắng "nằm gầm chạn" một thời gian nhé! Chắc là bọn Mỹ cũng sắp hết sạch bom đạn rồi. Chúng nó hết bom đạn rồi thì sẽ không còn suốt ngày ầm ào bay lượn quậy phá miền Bắc được nữa. Lúc ấy anh đưa chị Tình về quê Nam Định cũng yên tâm hơn.
- Gầm chạn quê em cũng... êm ái lắm anh ạ! - Cái Hiên nói thêm giọng đầy sự động viên, an ủi.
Giữa lúc mọi người đang ồn ào nói cười vui vẻ thì tiếng kẻng báo động dồn dập vang lên. Tất cả xách súng lao ra trận địa. Chị Tình lập tức vào ngay vị trí chỉ huy chiến đấu. Anh Thức cũng chạy ra chỗ đặt khẩu 12ly7 để quan sát và hỗ trợ các xạ thủ thao tác súng. Một tốp máy bay Mỹ đang từ phía đỉnh núi Tam Đảo đang chúc đầu lao xuống mục tiêu cây cầu sắt. Những chiếc phản lực bay nhanh hơn tốc độ âm thanh nên nhìn thấy máy bay to lù lù mà vẫn chưa nghe thấy tiếng động. Trận địa pháo cao xã bên kia sông lập tức bẳn trả. Tốp máy bay ngóc đầu lên bay sượt về phía hạ lưu dòng sông. Nhưng chúng cũng đã kịp ném xuống một loạt bom. Mấy quả bom rơi xuống nổ dưới lòng sông, cột nước vọt lên cao hơn cả những bụi tre ven bờ. Cây cầu sắt qua sông vẫn an toàn. Hỏa lực pháo cao xạ 37ly rất mạnh và dày đặc buộc bọn chúng phải vội vàng cắt bom và ngóc đầu lên tránh đạn. Khi máy bay Mỹ đã bay xa, anh Thức chào mọi người để về trận địa. Chị Tình nhắc nhở các bộ phận kiểm tra lại trang bị, vũ khí, củng cố công sự trận địa sẵn sàng đợi lũ giặc trời quay lại.
Chiến tranh với bao nhiêu nỗi lo âu, mất mát hàng ngày nhưng chuyện chị Tình trung đội trưởng sắp cưới khiến cho cả trung đội dân quân làng Hạ luôn luôn háo hức. Mọi người bàn nhau góp tiền mua tặng phẩm chung tặng cô dâu, chú rể. Cái Liên được giao nhiệm vụ đi làm "dân vận" đối với anh chàng đẹp trai cửa hàng trưởng bách hóa thị trấn huyện. Nó đã hoàn thành nhiệm vụ một cách thật xuất sắc, mua được một chiếc phích Trung Quốc mới tinh đem về làm tặng phẩm cho đám cưới. Cái Liên và chị Nhân còn có một món quà riêng để tặng người chỉ huy của mình trong ngày vui. Đám cưới sẽ được tổ chức theo quy định đời sống mới. Lễ cưới tổ chức tại hội trường sơ tán của ủy ban xã sâu trong khu rừng cọ. Mọi người đến dự đám cưới ăn kẹo, uống trà và ca hát chúc mừng đôi uyên ương. Chị Tình đã nhờ mua trong cửa hàng mậu dịch quốc danh được mười cân kẹo chanh và năm cân bánh bích quy. Khi hai người chính thức có giấy đăng ký kết hôn thì sẽ được cửa hàng mậu dịch phân phối cho một cân chè mạn và một tút thuốc lá nhãn hiệu Tam Đảo, Điện Biên bao thường. Nếu có người quen ở cửa hàng thì mới mua được các loại thuốc lá có bao bạc. Do tình hình chiến tranh nên đám cưới sẽ tổ chức vào buổi đêm khi máy bay Mỹ giảm tần xuất hoạt động. Khách khứa chủ yếu là bộ đội và dân quân hai đơn vị bảo vệ cây cầu sắt trên sông Phó Đáy. Cả hai đơn vị đã có sẵn phương án đảm bảo lực lượng trực chiến tại trận địa, khi đang tổ chức đám cưới có báo động số chiến sĩ đại diện đi dự sẽ cơ động nhanh về trận địa.
Sắp đến ngày cưới, thằng Nam và phó tiến sĩ Dương Thụy được anh chị em trong trung đội dân quân giao cho nhiệm vụ lo trang trí hội trường đám cưới của chị Tình và anh Thức. Nếu tình hình phòng không bớt căng thẳng thì đơn vị pháo cao xạ sẽ cử nhân viên văn hóa sang hỗ trợ việc trang trí. Phó tiến sĩ Dương Thụy vốn là một người có hoa tay, kẻ vẽ rất đẹp nhưng đành xin thôi việc này vì không có màu, bút vẽ và giấy tơ-rô-ki. Thằng Nam thì không cần đến những thứ đó. Chỉ với một cây kéo và mấy tờ giấy màu xanh vàng tím đỏ mua ngoài chợ đem về là nó có thể trang trí cho một đám cưới quê. Thằng Nam dùng kéo cắt giấy màu thành những hình họa tiết trang trí lên phông và các bức tường của hội trường. Đó là hình đôi trai gái đứng bên gốc cọ, bụi tre, hình chim bồ câu ngậm trái tim bay lên, hình hoa, hình lá... trông thật ngộ nghĩnh và vui mắt. Tấm phông chính trên sân khấu chuyên để dán khẩu hiệu hội nghị, lễ phát động thi đua, lễ đưa tiễn thanh niên nhập ngũ nên dày cứng những vết hồ bột sắn và những nét chữ những lần trước dán lên bóc chưa hết. Chị Nhân và cái Liên, cái Na phải mất một buổi tối ngồi bóc lại rồi giặt rũ phơi thật cẩn thận tấm phông. Trên tấm phông này thằng Nam dự định sẽ cắt dán một đôi chim bồ câu đang bay lên mỏ ngậm một trái tim có hai chữ "hạnh phúc". Giữa tấm phông là hai chữ "T" lồng quấn quýt vào nhau. Đó là hai chữ cái đầu tên của anh Thức và chị Tình. Hai bên cạnh của tấm phông chính là hai câu thơ "Hạnh phúc non sông, hạnh phúc nhà. Thắm tình đất nước, thắm tình ta". Phía dưới là một câu khẩu hiệu quen thuộc của các đám cưới đời sống mới thời chiến "Vui duyên mới không quên nhiệm vụ!". Trong hội trường đã có sẵn hai khẩu hiệu viết trên tường hai bên sườn là "Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt" và "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược". Hai khẩu hiệu này kẻ viết đã lâu nên màu chữ mờ phai, nhòe nhoẹt.
Việc cắt hình, trang trí cho đám cưới thằng Nam đều phải tranh thủ làm vào những buổi tối. Ban ngày nó còn phải cùng trung đội trực chiến hoặc canh gác phòng không trên trận địa Đồi Ma. Sau khi trang trí xong các bức tường trong hội trường, đêm trước khi lễ cưới diễn ra, thằng Nam mới trang trí cái phông chính trên sân khẩu. Thằng Nam đã cắt sẵn các hình trang trí theo ý định của mình để dán lên cái phông chính. Nó đã có kinh nghiệm trang trí đám cưới rồi. Đám cưới của chị Tình và anh Thức nhất định nó sẽ trang trí thật đẹp.
Đêm trước ngày tổ chức đám cưới của chị Tình và anh sĩ quan pháo cao xạ trời lâm thâm mưa. Thằng Nam đóng kín các cửa hội trường để ánh sáng của chiếc đèn măng-xông khỏi lọt ra bên ngoài. Cái phông trắng giặt sạch đã được căng lên phẳng phiu trên sân khấu. Thằng Nam kê bàn ghế để leo lên dán các hình cắt trang trí. Cứ dán xong một hình, một nét chữ nó lại phải nhảy xuống phét hồ. Thằng Biên nói là sẽ đến giúp nó trang trí nhưng mãi không thấy đâu. Chắc là thằng này đang bận việc gì trên trận địa Đồi Ma chưa về kịp.
Giữa lúc ấy thì cái Liên lại tới. Nó mang cho thằng Nam cháo để ăn đêm. Thấy cái Liên mở cửa, thằng Nam vội bảo:
- Vào nhanh rồi đóng cửa lại. Đừng để ánh đèn hắt ra bên ngoài, công an xã họ vào nhắc nhở phê bình bây giờ!
Cái Liên vội khép cửa. Thằng Nam lại hỏi:
- Thằng Biên đâu! Sao tận bây giờ không thấy mặt mũi nó thế?
- Thằng Biên bận rồi. Hình như nhà nó có ai ốm. Nó phải đưa ra trạm xá khám, mua thuốc. Mình sẽ giúp Nam làm tối hôm nay!
Thằng Nam lủng bủng trong miệng:
- Cái thằng này chán quá, cứ lúc nào cần là nó lại có việc bận...
Cái Liên giúp thằng Nam phết hồ vào những hình cắt để dán lên tấm phông chính. Thằng Nam đứng trên bàn để dán, cái Liên ngồi dưới sàn nhà phết hồ vào các hình đã cắt sẵn. Lúc cúi xuống để nhận cái hình cắt trái màu tím, thằng Nam giật nảy mình. Nó hơi loạng choạng, suýt ngã. Nó vừa nhìn thấy thật gần hai bầu vú của cái Liên. Buổi tối cái Liên không mang đồ lót lại mặc cái áo rộng cổ nên cứ lồ lộ. Hai vầng trăng trên khuôn ngực của người con gái miền trung du ấy thật tròn, thật trắng và thật đẹp. Giữa hai vầng trăng ấy là hai chấm nhỏ màu hồng đầy sự quyến rũ, mê hoặc.
Thằng Nam mãi mới dán nổi cái hình trái tim lên tấm phông. Trong đầu nó thiếu sự tập trung vào công việc. Thằng Nam vừa lo sợ lại vừa thích thú mỗi lần cúi xuống nhận các hình cắt mà cái Liên phết hồ đưa cho. Nó thấy trong lòng mình lâng lâng, ngây ngất. Nó chỉ mong cho công việc cứ thế này mãi, đừng bao giờ xong để được chiêm ngưỡng một tác phẩm tuyệt vời của tạo hóa. Cái Liên như không biết ánh mắt thằng Nam đang nhìn trộm vào chỗ không được phép nhìn. Nó vui vẻ vừa làm vừa tán đủ thứ chuyện với thằng Nam.
Khi việc trang trí vừa xong thì chị Nhân đến. Ba người cùng ngồi ăn cháo. Cháo gạo mới thật thơm và ngọt. Chị Nhân vừa ăn vừa ngước nhìn quanh phòng cưới vừa xuýt xoa:
- Ước gì mình cũng có một đám cưới như thế này!
Thằng Nam bảo:
- Bao giờ chị và Liên cưới em sẽ cắt vẽ, trang trí cho thật đẹp!
Chị Nhân nói giọng thật xa xôi và đầy sự khát khao, mong ước:
- Nhất định như thế Nam nhé!
Thằng Nam gật đầu.
Đêm đã về khuya, ba người trở về làng tranh thủ ngủ một lát để sáng sớm mai lại lên trận địa. Bầu trời đêm không trăng nên rất tối tăm. Gió mùa thu ào qua cánh rừng hơi lạnh. Con đường họ đi trên sườn đồi mờ mờ ảo ảo trong ánh sáng của bom nổ, nhà cháy từ phía thị xã hắt lên. Thứ ánh sáng khiến cho lòng người ta không một chút yên tâm...
(còn nữa) Hà Nội, 10-2015