Thứ Năm, 17 tháng 11, 2011

Truyện ngắn NGÕ NHỎ

 

                      
       Ngõ nhỏ
           Truyện ngắn của Trọng Bảo


           Tung nắm thóc cho đàn gà xong, bà Cần chống gậy đi ra đầu ngõ. Cái ngõ nhỏ sâu hun hút. Hai bức tường đá ong cao quá đầu người. Mưa gió, thời gian làm những viên đá ong lát đường, xây tường mòn lõm đi. Cái ngõ nhỏ này thuở bé bà vẫn nhảy tưng tưng mỗi khi đi về. Thế mà bây giờ, bà phải lần từng bước, tiếng gậy khua lọc cọc, lọc cọc. Qua cổng nhà bà Miên, bà Cần nhắc cây gậy lên tránh tiếng. Bàn chân bà bấm xuống mặt đường, hai tay hơi giang ra, bước đi như người làm xiếc trên giây để giữ thăng bằng.
           Bà Cần không muốn người bạn già biết mình đang đi ra đầu ngõ. Bà Miên đang ốm. Hôm qua bà Cần đã nấu cho người bạn già một nồi lá xông nên bà ấy đã đỡ. Hôm nay, bà ra đầu ngõ mua nửa cân đường. Người già khi ốm thường nhạt miệng, có một thìa đường cho vào bát cháo dễ ăn hơn là với muối.
           Thấy bà hỏi mua đường, anh phó chủ tịch xã đang ngồi uống bia hơi trong quán ngạc nhiên:
           - Nhà hết đường rồi hay sao mà cụ phải đi mua thế này?
           - Còn khối ra đấy ăn làm sao mà hết được!
           - Thế sao...?
           Bà Cần vừa gỡ cái kim băng mở túi lấy tiền vừa trả lời anh phó chủ tịch:
           - Bà Miên bà ấy ốm! Mua nửa cân đường cho bà ấy ăn cháo. Đường nhà còn cả mấy chum nhưng có mang sang lại mang về thôi, bà ấy không chịu nhận.
           Anh phó chủ tịch xã vẫn không hiểu. Bà Cần cũng không nói thêm nữa. Bà mua thêm hai cái bánh giò rồi lọc cọc chống gậy quay vào trong ngõ.
           Bà Cần rất hiểu tính tình của người bạn già. Bởi họ đã sinh ra và lớn lên cùng nhau ở cái ngõ nhỏ này. Thuở ấy, hai người như hình với bóng. Đi đâu, làm gì cũng có nhau, chăn trâu, nhảy dây, bắt cào cào, châu chấu, củ khoai, củ sắn chia đôi, quả khế, quả me mỗi người một nửa, đi cấy, đi cắt cỏ, lấy củi cứ ríu ran ngõ nhỏ. Mặt mũi lấm lem bùn đất, áo vá, nón mê thế mà thấp thoáng cả hai đã thành thiếu nữ.
            Có anh giáo học trên tỉnh về quê si tình đã viết cả một bài thơ dài về hai người mà bà còn nhớ được một câu: “Ai về làng Vũ, thôn Đoài/ Trông trong ngõ nhỏ có hai nàng Kiều...”. Hai người ngày ấy đẹp nhất làng mà cũng chăm chỉ, nết na nhất làng. Hai dáng kiều đã làm cho anh giáo si tình ngày ngày dạy chữ, đêm đêm làm thơ, ngơ ngơ ngẩn ngẩn đi trên con đường làng đầy rơm rạ.
            Nhưng, cuộc đời người con gái ở quê ngắn lắm. Bà Miên lấy chồng khi chưa đầy mười tám. Anh chồng trông lù đù thế mà khi cách mạng tháng Tám nổ ra dám ôm mã tấu xông vào nhà công sứ trên tỉnh treo cờ đỏ sao vàng, rồi tham gia du kích suốt chín năm. Còn bà Cần, ai ngờ lại bén duyên anh giáo si tình. Đám cưới của bà vui nhất làng. Anh giáo tứ cố vô thân. Ông chủ tịch uỷ ban hành chính kháng chiến đứng ra đại diện nhà trai. Nước nhà độc lập, làng xóm suốt ngày mít tinh, hội họp, có thêm một đám cưới càng thêm vui, tiếng cười nói, hát hò rộn trong ngõ nhỏ.
           Song, ngày vui thường chẳng tày gang. Cuộc kháng Pháp nổ ra. Anh giáo lên rừng theo bộ đội để lại cho bà Cần đứa con chưa đầy hai tuổi. Bà Miên cũng đã hai mặt con. Thằng Thông con cả sinh thiếu tháng quặt quẹo mãi. Thằng Thái là thứ hai cũng mới hơn một tuổi. Hai bà vẫn thường đổi nhau. Người này đi chợ, người kia ở nhà cho cả hai thằng bé bú luôn. Bà Cần vẫn nhớ cái lần thằng Tây từ vùng Tề càn lên. Bà Miên đi chợ vắng, một mình bà đưa cả ba thằng bé chạy vào trong núi. Một đôi quang gánh hai thằng bé hai bên thúng, thằng lớn thì dắt chạy dưới làm đạn của giặc. Khi bà Miên bỏ chợ chạy về thì bọn giặc đã rút. Bà dáo dác đổ đi tìm, khi thấy con, tháy bạn mới hết lo. Cứ thế, lũ trẻ lớn lên trong vòng tay của hai bà mẹ. Thằng Thái và thằng Quốc - con bà cùng tuổi nên chơi thân với nhau hơn cũng như mẹ của chúng ngày trước.
            Hòa bình lập lại, cả ba đứa đều được đi học. Anh giáo làng hy sinh ở thượng Lào, bà Cần ở vậy nuôi con. Cái ngõ nhỏ có ba thằng bé đi về, hò hét. Chúng cưỡi trâu, đánh trận giả ngoài đồi. Khi đã lớn lộc ngộc thì thằng Thái và thằng Quốc đều đi bộ đội, vào chiến trường đánh Mỹ. Thằng Thông lên huyện học tiếp cấp 3. Ông chồng bà Miên thì lênh đênh trên con thuyền ngoài sông kiếm cá. Thỉnh thoảng ông lại đáo về lấy thêm gạo muối, để lại mớ tép khô cho cả hai nhà.
            Rồi tin thằng Quốc hy sinh báo về làng. Bà Cần khóc ngất đi mấy lần. Bà Miên cũng khóc cạn cả nước mắt. Bởi từ lâu hai bà đã coi thằng Quốc và thằng Thái là con chung của cả hai người. Trong dòng máu mỗi đứa có cả dòng sữa và sự lam lũ, tảo tần của cả hai bà mẹ. Chiến tranh chưa kết thúc. Nỗi đau của hai người đàn bà chưa nguôi thì lại có tin đồn bay về làng như sét đánh ngang tai. Đó là tin Thằng Thái chạy theo giặc, phản bội Tổ quốc. Bà Miên suy sụp hẳn. Bà Cần cũng đâm ra ngơ ngơ, ngác ngác. Chuyện có con bỏ quân ngũ đi theo giặc khiến hai vợ chồng bà Miên lúc nào cũng phải cúi gằm mặt xuống đất, không dám nhìn bà con xóm giềng nữa. Nhưng sống thì vẫn cứ phải làm ăn. Không ai muốn làm chung với bà Miên. Ngày ấy làm ăn tập thể mà không được làm chung với mọi người thì thật khốn khổ, khốn nạn. Suốt vụ cấy bà phải lầm lũi cắm từng cây mạ ở một góc ruộng. Mùa gặt, bà thui thủi bó lúa ở cuối cánh đồng. Bà thấy như xát muối trong lòng mỗi lần nghe trẻ con rêu rao:
           “Bà ăn cơm ta,
            Bà ở đất ta
            Con bà theo giặc!
            Tắc đùng... tắc tắc...
            Tắc tắc đùng đùng,
             Súng bắn lung tung,
            Vào làng, vào xóm...”.
            Bà Cần thương bà Miên lắm. Thấy bạn lủi thủi là rất muốn sang chia xẻ như hồi trước nhưng anh công an xóm đe: “Bà là mẹ liệt sĩ không được sang nhà có người theo giặc!”. Khổ thân bà cho Miên. Ông Được, chồng bà ấy nghe tin con trai theo giặc thì ở tịt luôn trên con thuyền giữa sông chẳng mấy khi về làng. Thằng Thông làm cán bộ ở trên tỉnh đang vào “nguồn lãnh đạo” liền làm đơn xin từ cả bố mẹ và em trai để lý lịch sạch sẽ thơm tho còn thăng tiến.
            Bà Miên cứ lủi thủi qua năm tháng mà sống. Trong sâu thẳm trái tim người mẹ, bà vẫn không tin là thằng con mình rứt ruột đẻ ra đã phản bội Tổ quốc đi theo giặc. Mỗi sáng thức dậy bà thường phải dọn những gói phân trâu, phân bò lũ trẻ con đêm qua ném vào sân. Ông lão Được sa vào rượu chè vì chán cảnh gia đình, con cái. Ông thường chèo thuyền ngược lên phía thượng nguồn, bắt được con tôm, con cá nào là đổi ngay lấy rượu uống cho khuây khỏa.
            Một sáng, người ta thấy con thuyền rách của ông trôi về bến sông đầu làng. Trên thuyền không thấy bóng ông lão đâu. Hai ngày sau người ta mới vớt được xác ông lập lờ nổi lên cạnh đám lau sậy bên bãi bồi. Ông lão ngồi uống rượu trên mũi thuyền say ngã lộn cổ xuống sông. Ông chết mà bụng vẫn lép kẹp không có một hột cơm. Đám ma ông chỉ có cánh công nhân khai thác cát sỏi và hai người đàn bà đi đưa. Bất chấp lời can ngăn của anh công an xóm, bà Cần cứ chống gậy ra tận cánh đồng, tiễn người quá cố về nơi chín suối.
            Ông lão Được chết được vài hôm thì máy bay Mỹ ném bom vào làng. Thực ra đó chỉ là một quả bom máy bay Mỹ định ném xuống cây cầu sắt nhưng quá đà rơi vào làng. Quả bom lạc rơi trúng nhà mụ Thiết. Mụ Thiết là dân buôn bán, phe phẩy. Mụ chuyên buôn tem phiếu, là đường dây móc ngoặc tuồn hàng trong mậu dịch quốc doanh ra ngoài bán ăn chênh lệch giá. May mà cả làng đã đi sơ tán vào trong núi nên không ai việc gì. Căn nhà gỗ lim năm gian cùng những thứ của chìm, của nổi của mụ Thiết tan tành. Một cái hố sâu hoắm tưởng tới tận âm phủ.
            Mụ Thiết đi chợ về tiếc của gào khóc inh ỏi. Gào khóc chán, mụ ta bắt đầu tru tréo, xỉa xói:
            - Cha tiên nhân quân bán…. nước… hại…. dân… theo giặc, chỉ điểm máy bay ném bom vào nhà bà…. Bà thì… móc mắt… moi gan… xé xác cái quân tay sai ấy ra... Cha… tiên… nhân… bố… nhà… mày... Sao này không bỏ làng, bỏ xóm mà đi cho mất tăm, mất tích, mất tông, mất giống nhà mày đi… Mày ở đây để làm hại cả làng à?
             Bà Miên nuốt nước mắt. Bà biết mụ Thiết gào thét, ám chỉ, chửi rủa mình nhưng vẫn im lặng. Bà đã phải chịu đựng quá nhiều những lời chưởi đổng, nói xa, nói gần như vậy rồi.
            Một hôm, khi bà đang lụi cụi cấy lúa ở mảnh ruộng đầu thừa đuôi thẹo gần cây cầu sắt bắc qua sông thì chợt giật nảy mình bởi tiếng quát:
            - Này, bà kia... bà kia! Bà định làm ám hiệu cho máy bay Mỹ ném bom xuống cầu hả?
             Bà Miên giật mình thảng thốt ngẩng lên. Anh công an xóm vứt “oạch” cái xe Phượng hoàng xuống vệ đường rồi xăm xăm lội xuống ruộng. Anh ta giật cái nón bà Miên đang đội trên đầu. Cái quai nón vướng vào cằm khiến bà ngã dúi dụi xuống ruộng bùn. Anh công an ném cái nón của bà xuống bờ ruộng rồi dẫm mạnh cho bẹp rúm. Vừa dẫm đạp cái nón vô tội, anh ta vừa gầm gừ:
            - Này thì... làm ám hiệu cho máy bay ném bom này...
            Khi anh công an đạp xe đi xa rồi, bà Miên mới lần lên bờ ruộng. Bà nhặt cái nón bẹp lên cố nắn lại. Cái nón bị gẫy vành nên méo mó. Trước khi úp lên dầu, bà vốc bùn non xoa lên nón. Bà lại cắm mặt xuống ruộng cấy lúa. Nước bùn, nước mắt và mồ hôi bà chảy ròng ròng trên mặt. Bà khóc cho đời bà, khóc cho con bà. Dù có theo giặc thì thằng Thái vẫn là đứa con bà rứt ruột đẻ ra. Bà nhớ khi còn bé, mỗi lần bú no nó đều cắn mạnh vào núm vú bà một cái đau điếng rồi mới chịu nhả. Lúc vừa biết đi nó đã lon ton đòi chạy theo mẹ ra đồng. Khi cu cậu biết chăn trâu, cắt cỏ thì xốc vác chăm chỉ, đỡ đần cho bố mẹ hơn hẳn thằng anh lười biếng, lẩn việc. Đang học lớp cuối cấp 2, nó bảo bà: “Con phải đi bộ đội đánh Mỹ, xong về lại học tiếp mẹ ạ!”. Nó rủ thằng Quốc làm đơn xung phong tòng quân. Hai thằng bảo nhau: “Nhất xanh cỏ, nhì đỏ ngực”. Rồi hai thằng ra đi. “Thế mà tại sao mày lại đi theo giặc Thái ơi!” - Bà Miên thầm gọi tên con và kéo vạt áo chùi mặt, nước mắt, nước bùn chảy ròng ròng xuống ngực áo.
*
           Bà Cần về đến cổng nhà bà Miên. Một cơn gió chợt ào đến khiến khóm tre xô nghiêng sàn sạt. Chợt nghe như có tiếng trẻ con nhao nhao: “Mẹ ơi! Mẹ ơi...”. Bà giật mình, ngỡ như vừa mới ngày nào mỗi lần đi chợ về đến đầu ngõ là thằng Quốc và thằng Thái đã reo lên gọi mẹ rồi ùa ra lục tung cả mấy mớ rau trong thúng tìm kẹo vừng, gióng mía. Thế mà... Bà thở dài, hai đứa đã đi mất cả rồi. Những tiếng gọi mẹ giờ như tiếng gió, tiếng mưa, hư hư, ảo ảo.
            Nghe tiếng kẹt cổng, bà Miên nhỏm dậy, quơ chân tìm dép.
            Bà Cần vào đến sân. Vừa nhìn thấy bà Miên, bà Cần đã nói vẻ thanh minh:
            - Tôi mua cho bà gói đường với hai cái bánh giò.
            - Bà cứ hay bày vẽ...
            - Thôi bà ăn cái bánh đi, còn nóng đấy.
            Bà Cần ngồi xuống bậu cửa.
            Bà Miên cầm hai cái bánh, gỡ lạt đưa lại cho bà Cần một cái. Hai người cùng ăn. Bà Miên bảo:
            - Còn nắm đỗ đen đấy, ta nấu bát chè ăn cho mát bà ạ!
            - Phải đấy! Sắp đến ngày hai bảy tháng bảy rồi, ta thắp hương cho các con luôn.
            Bà Miên lọ mọ xuống bếp tìm cái lọ đựng đỗ đen. Đỗ đen được trộn lẫn với tro bếp cho khỏi mọt. Bà đổ đỗ ra sàng bỏ tro bếp, đem ngâm rồi xả nước cho sạch. Khi nồi chè đã chín, bà Miên bảo: “Để tôi múc vài bát bà đem về thắp hương cho cu Quốc”. Bà Cần gạt đi: “Chúng nó ở đây cả rồi bà ạ!”. Bà Miên nhìn lên bàn thờ. ảnh hai đứa chụp chung khi mới nhập ngũ đặt trong khung viền tang đen mà vẫn cười toe toét.
            Bà Miên đặt mấy bát chè đỗ đen lên bàn thờ. Bà thầm gọi tên hai đứa con. Một cơn gió thổi bùng làm lửa cháy chân nhang. Có tiếng trẻ con reo hò văng vẳng ngoài ngõ.
            Bà Miên chợt nhớ lại cái ngày bà được đặt tấm ảnh của đứa con lên bàn thờ.
            Đó là một ngày cuối thu. Hôm ấy, có một chiếc xe quân sự rẽ vào làng. Nghe tiếng ồn ào đầu ngõ, bà Miên ra khép cổng. Bà nghĩ chắc lại có đoàn đại biểu nào đó đến thăm bà Cần. Từ ngày bà Cần được phong danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng thì thường có khách đến thăm luôn. Bà ấy còn được đón đưa đi tận Hà Nội viếng Lăng cụ Hồ, thăm nhà sàn, ao cá của Cụ và lên tận Hoà Bình xem cái nhà máy thuỷ điện to nhất nước.
            Nhưng đoàn người lại rẽ vào nhà bà. Có cả ông bí thư, ông chủ tịch xã đi cùng. Bà đang ngồi thái rau lợn ở góc sân. Bà lập cập đứng dậy lùi lại. Bà thoáng lo sợ khi nghĩ đến con mình - “cái thằng theo giặc” - chắc lại phạm thêm tội gì đây nên hôm nay họ về bắt bà. Anh bộ đội có mái tóc đốm bạc bước lại cầm tay bà nói: “Chúng tôi ở đơn vị đồng chí Thái. Hôm nay về thăm gia đình”. Bà hốt hoảng: “Thế nó lại gây ra tội lỗi gì thế...”. Anh bộ đội già nói tiếp: “Không… không phải... Đồng chí Thái là một chiến sĩ tình báo, chiến đấu, lập được nhiều chiến công và hy sinh rất dũng cảm”. Bà Miên buột miệng: “Thế sao người ta vẫn bảo là nó đi theo giặc?”. Anh bộ đội trẻ giờ mới lên tiếng: “Không phải theo giặc mà chui vào hàng ngũ của giặc hoạt động, nắm tin tức để đánh thắng nó mẹ ạ! Hôm nay chúng con đến báo tin anh ấy hy sinh...”.
             Mọi người vỡ lẽ, ồn ào. Có người chạy vội ra ngõ loan tin, kẻ từ ngoài cổng háo chuyện kéo vào. Chả mấy chốc nhà bà Miên đã chật cứng người. Lễ truy điệu cho liệt sĩ tình báo Lê Nguyên Thái được tổ chức. Cả làng bây giờ mới biết chuyện anh Thái không đi theo giặc mà là một chiến sĩ tình báo, hoạt động và hy sinh trong lòng địch. Bà Miên cứ như tỉnh, như mê. Mọi người xúm lại dọn dẹp bàn thờ. Người đem chuối, bưởi, hương nhang đến. Kẻ đưa xôi oản, bánh kẹo vào. Lão Hoàn chuyên nghề giết mổ ngoài chợ đem đến cả một cái thủ lợn vừa luộc chín còn đang bốc khói đặt lên bàn thờ. Hương khói nghi ngút. Trong đám người đến lễ vái trước bàn thờ liệt sĩ có cả những kẻ đã từng ném phân trâu vào nhà bà, hoặc đã từng vạch than lên cánh cổng nhà bà dòng chữ đen ngòm: “Đả đảo quân theo giặc, bán nước, ôm đít Mỹ ngụy”.
             Mụ Thiết cầm thẻ nhang len lén đi vào. Thời nào cũng vậy, dân buôn gian bán lận bao giờ cũng giàu. Chỗ căn nhà gỗ lim của mụ trúng bom Mỹ tan tành đã mọc lên ngôi nhà ba tầng đúc bê tông to nhất làng. Mụ Thiết vừa cắm nén nhang vào bát nhang thì đột nhiên có một cơn gió thổi thốc vào nhà. Bát nhang nhỏ lại cắm quá nhiều nên những nén nhang bung ra rơi xuống lả tả. Một nén nhang phóng vèo qua mặt mụ Thiết. Tóc mụ cháy xèo xèo. Mụ Thiết hoảng quá vái lạy như tế sao.
            Anh công an xóm, người đã từng bao năm theo dõi, quản lý mẹ của “kẻ theo giặc”, từng dẫm bẹp cái nón trắng của bà ngày nào để bà khỏi sử dụng làm ám hiệu cho máy bay Mỹ ném bom thì không đến được nữa.
             Hơn chục năm trước, xã mở một con đường mới. Đường làm đến đầu làng Vũ thì vướng phải một ngôi miếu nhỏ. Ngôi miếu này chẳng biết có tự bao giờ. Gia tự mấy dòng họ trong làng cũng không thấy ghi chép gì. Nhiều người bảo ngôi miếu này thờ thực thần, tức là người có công với nước, với làng. Có người lại nói cái miếu chỉ thờ hư thần, tức là yêu tinh, ma quỷ. Lão Hoàn mổ lợn thì khăng khăng khẳng định có một người ăn mày bị chết ở đây, qua một đêm kiến mối đã đùn lên thành mộ. Đời sau người ta lập thành miếu thờ. Thờ gì cũng mặc, vướng vào con đường đang mở thẳng băng là không được. Đám thanh niên sợ không dám vào phá cái miếu. Anh công an xóm hò hét mãi không được cáu tiết xông vào túm pho tượng nhỏ trên ban thờ ném xuống mương nước còn dọa đái vào bát nhang nữa. Đám thanh niên bấy giờ mới dám đập phá miếu.
             Khi con đường khánh thành thì anh công an xóm ngã bệnh, ốm liệt giường, chạy chữa ba bốn tháng mới khỏi. Nhưng lạ thay từ ấy hạ bộ của anh ta cứ to dần lên như cái ấm tích, không đau, không nhức, nhưng không kiểm soát được việc tiểu tiện, thải ra quần lúc nào cũng không hay. Giờ thì anh ta đã thành ông, có cháu nội, cháu ngoại. Nhưng lúc nào ông ta cũng phải đeo một cái gáo dừa để hứng nước tiểu nên chẳng dám ló mặt ra khỏi nhà.
             Đoạn đường đi qua nền cái miếu cổ ấy thường hay xảy ra tai nạn. Con gái thấy tháng đi qua về thế nào cũng ốm. Đàn bà có thai dè chừng bị xẩy. Đám đàn bà con gái sợ không dám đi qua đoạn đường này, toàn phải lội vòng con mương mỗi lần ra đồng. Có thằng cướp giật đồ, giết người ở đâu phóng xe máy chạy qua, đường trống trơn mà tự dưng ngã oạch một cái, nằm há mồm ra chờ người đến bắt.
*
            Buổi lễ truy điệu liệt sĩ Thái kết thúc. Chị cán bộ thương binh xã hội xã đưa cho bà Miên một cục tiền tuất. Hai anh bộ đội trước khi trở về đơn vị cũng trao tặng bà cuốn sổ tiết kiệm ba trăm nghìn đồng. Có ai đó nói: “Bà Miên phải được phong là bà mẹ anh hùng mới đúng!”. Một người vặn lại: “Danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng chỉ tặng cho các mẹ có ba con liệt sĩ trở lên hoặc có một con duy nhất nhưng là liệt sĩ thôi...”. Lại một người nữa cãi: “Thì bà Miên cũng chỉ có một con duy nhất đã hy sinh”, “Thế còn ông Thông không tính à?”, “Ông ấy đã từ bỏ gia đình, bố mẹ và em rồi, coi như không tính!”. Thêm một người tranh luận lại: “Mấy lần ông ấy vẫn gửi tiền cho bà Miên đấy!”, “Nhưng bà ấy đều không nhận”. Có ai đó chêm vào: “Mấy hôm trước, tôi thấy ông ta đi chiếc xe con bóng lộn về sân vận động huyện ta phát biểu, động viên cánh thanh niên xung phong tình nguyện mùa hè xanh đấy! Nói năng hùng hồn lắm…”.
            Cuối chiều, mọi người đến dự lễ truy điệu đều về cả, chỉ còn lại bà Cần. Lúc này, hai bà mới đốt một nắm nhang cắm lên bàn thờ. Và cũng đến lúc này hai người mới khóc. Suốt buổi lễ truy điệu, mắt họ ráo hoảnh. Vịn tay lên mép bàn thờ, nhìn tấm bằng “Tổ quốc ghi công” và cái khung kính gài đỏ những huân, huy chương của con, bà Miên chợt kêu lên:
            - Thôi chết! Chả còn giữ được cái ảnh nào của thằng Thái cả!
            Bà Cần lập cập:
            - Còn… vẫn còn đây! - Bà rút từ túi áo ra một tấm ảnh tày ba ngón tay. Thằng Thái chụp chung với thằng Quốc khi mới nhập ngũ. Hai thằng mặc quần áo bộ đội rộng thùng thình, miệng cười toe toét. Bà Cần bảo:
            - Bà đem lên phố truyền thần riêng ảnh cu Thái ra để đặt lên bàn thờ. Cái ảnh này tôi tìm thấy trong ba lô di vật của cu Quốc khi báo tử đơn vị họ đem về đấy.
            Bà Miên biết ngày trước cu Thái hay chụp ảnh, trước khi đi B cũng gửi về mấy cái. Khi có tin đồn em “theo giặc”, thằng anh đã về lấy hết cả ảnh, thư từ của em đem đi đốt để khỏi dính dáng gì tới kẻ phản bội nữa.
            Run run đỡ lấy tấm ảnh, bà Miên nói:
            - Mai tôi sẽ đem đi thuê chụp lại. Mà cứ để nguyên hai đứa chúng nó đứng với nhau, phóng lấy hai cái đặt cả bàn thờ bên tôi và bàn thờ bên nhà bà. Để chúng nó luôn có nhau và khi đói khát nhớ mẹ về đến nhà nào cũng có cơm ăn, nước uống...

*
            Câu chuyện tôi ghi lại được về hai bà mẹ ở cái ngõ nhỏ làng tôi là như thế đấy. Có người nói đời có luật nhân quả. Có kẻ lại bảo quá khứ nhắc lại mãi làm gì, bơn bớt ôn nghèo, kể khổ đi, cuộc đời ai biết trước rồi sẽ ra sao, sông cũng có bên bồi, bên lở, nhân vô thập toàn. Còn tôi thì cứ suy nghĩ mãi về câu chuyện của hai bà mẹ liệt sĩ và những gì họ đã phải trải qua, nghĩ về những điều còn trăn trở, khuất khúc của chiến tranh.
            Người làng tôi từ lâu vẫn nổi tiếng khái tính. Bà Cần là Bà mẹ Việt Nam anh hùng được thường xuyên thăm hỏi, tặng quà. Đường sữa, quà bánh cứ để đấy ăn thế nào được hết, đem cho, đem biếu người ta cung ngại nhận. Còn bà Miên, kể từ khi có tin đồn “nuôi con theo giặc” đã sống co mình lại như một con sâu, cái kiến. Bà từ chối mọi sự thương hại, ban ơn cũng như chai sạn dần với sự khinh ghét của xóm giềng. Khi trở thành mẹ liệt sĩ, bà cũng bình thường như hàng ngàn vạn bà mẹ khác có con hy sinh trong các cuộc kháng chiến mà thôi. Có lần bà Cần được người ta biếu nhiều quà cáp mang sang cho, bà cũng không nhận, không muốn ăn ké vào phần của bạn. Đọc đến đây chắc bạn đọc đã hết thắc mắc vì sao trong nhà có cả mấy chum đường, hàng chục hộp sữa mà bà Cần vẫn phải ra đầu ngõ để mua nửa cân đường đi thăm bạn ốm.
            Đó là câu chuyện trong cái ngõ nhỏ làng tôi. Cái làng với những con người nổi tiếng là khái tính...
                                                                                                               Làng Thượng, 7-2001

Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2011

Truyện ngắn ĐẦM HẠC


        Đầm Hạc
           Truyện ngắn của Trọng Bảo

        Thế là lão Sỏi trúng thầu đầm Hạc với số tiền phát giá gần gấp đôi người khác. Máu mặt nhất nhì xã như anh Hải cũng chỉ dám phát giá mười hai triệu. Thế mà lão Sỏi đặt giá những hai mươi triệu đồng. Hai mươi triệu đồng một năm! Nhiều người thè lưỡi, rụt cổ, cứ nghĩ tới đã sợ. Cái đầm rộng chưa đầy ba mẫu, thả cá, nuôi tôm gì để thu hoạch và nộp sản lượng khoán hai mươi triệu đồng mỗi năm.
       Sau cuộc đấu thầu, mọi người ra về. Nhiều người lo cho lão Sỏi phá sản, vỡ nợ. Lại có người chợt hỏi:
Lão ấy lấy tiền ở đâu mà nhiều thế nhỉ?
- Nghe nói hồi làm cán bộ trên tỉnh, lão ấy ở ban kinh tế, kinh toi gì ấy, kiếm được khá phết.
Một ngưòi nói vẻ khẳng định:
       - Lão ấy là dân buôn thuốc phiện "giải nghệ" đấy!
       - Tôi nghe đồn hình như lão ấy đào được vàng khi làm vườn...
       Mỗi người một chuyện. Thực thực, hư hư mà vẫn chẳng biết lão Sỏi ấy đào đâu ra số tiền lớn để đặt cọc ngay tại buổi đấu thầu đầm Hạc. Trong tâm trí mọi người hình ảnh lão Sỏi bắng nhắng khi còn là cán bộ thanh niên, lưng đeo xà cột hô hào thanh niên ba sẵn sàng, phụ nữ ba đảm đang ngày nào. Ngày ấy, có lẽ là những năm sáu mươi. Lão làm phó bí thư đoàn xã rồi được "cơ cấu" vào đảng uỷ. Chân đất, quần nâu thế mà chả biết tự lúc nào lão đã là cán bộ huyện. Mỗi lần lão về làng, cái xà cột đều căng phồng, cái đài Xiêng-mao hát xoe xóe bên hông khiến lũ trẻ con rồng rắn chạy theo cái xe đạp phượng hoàng của lão reo hò ầm ĩ vẻ khâm phục. Rồi sau đó lại nghe tin lão được đề bạt lên làm cán bộ cấp tỉnh. Lão làm cán bộ đoàn chuyên trách, rồi khi đã hết cái tuổi hăng hái thì được chuyển sang ngành nông nghiệp, rồi là cán bộ chỉ đạo kinh tế. Đấy là chuyện lão tự nói ra. Nhưng có người còn nghe nói lão hay bồ bịch bị vợ bỏ, rồi tham ô công quỹ bị kỷ luật nữa. Nghỉ hưu, lão Sỏi về làng. Lão xây nhà trên cái nền đất của bố mẹ để lại. Con cái chẳng thấy đứa nào về ở với lão. Nghe nói, chúng đều đã định cư cả ở bên Tây rồi.
       Khi hợp tác xã có chủ trương khoán quản, giao đất, giao hồ ao cho người lao động, lão nhảy ra đấu thầu đầm Hạc thả cá. Thấy lão bỏ thầu với giá cao ai cũng khiếp. Có người bảo đầm Hạc nước trong leo lẻo thả cá chậm lớn khéo mà lỗ vốn, nhưng lão bỏ ngoài tai.
       Sau hôm thắng thầu, lão Sỏi đi một vòng quanh đầm Hạc xem xét, tính toán. Cũng chả biết tự bao giờ người ta đã gọi cái đầm này là đầm Hạc. Hình dáng của nó trông hao hao như con hạc đang bay. Có lẽ vì thế mới gọi như vậy. Các cụ kể rằng ngày xửa, ngày xưa, đây chính là một khúc sông Hồng nước rất sâu và trong veo, thường có một đàn hạc từ trên trời bay xuống tắm. Đó chính là những nàng tiên nữ hoá thân. Một chàng trai nghèo làm nghề chài lưới bất ngờ chứng kiến cảnh những nàng tiên đẹp tuyệt trần khoả thân trong dòng nước như ngọc ngà. Chàng bèn bí mật giấu đôi cánh hạc của nàng tiên đẹp nhất vào bụi cây. Mất đôi cánh để trở về trời, nàng tiên ở lại cùng chàng trai trần thế thành vợ, thành chồng. Chuyện đến tai Ngọc Hoàng. Ngài nổi giận liền giáng họa lên đầu họ. Và, một cú sét đánh rền vang giữa ban trưa khi trời nắng chang chang, giết chết đôi uyên ương khi họ đang kéo lưới trên sông. Máu của họ làm cho nước sông Hồng còn đỏ đến ngày nay. Dòng sông bị sét đánh đứt đoạn đổi dòng. Nơi nàng tiên ngã xuống còn in hình con Hạc, trở thành đầm Hạc bây giờ.
       Nghĩ đến câu chuyện truyền thuyết, lão Sỏi chợt bật cười sằng sặc. Lão thì cần đếch gì những câu chuyện hoang đường ấy. Lão chỉ thấy cái nguồn lợi lớn sẽ thu từ cái đầm này. Lão sẽ thả cá, nuôi trai nước ngọt lấy ngọc. Những chân ruộng ngập nông ven bờ lão sẽ cấy lúa, thu hoạch một năm cũng vài tấn thóc, đủ lương ăn và cả tiền công thuê người trông coi đầm cá.
       Quả là những toan tính của lão không sai. Ngay năm đầu tiên lão đã thu hoạch được hơn bốn tấn cá gần một tấn rưỡi thóc. Suýt soát thành tiền cũng gần năm mươi triệu, trừ chi phí và tiền công thuê hai lao động đi, lão cũng lãi được hơn hai mươi triệu đồng. Năm thứ hai rút kinh nghiệm, lão thuê hẳn một cậu kỹ sư chăn nuôi mới ra trường chưa có việc làm chuyên lo việc chăn thả cá, nên năng suất tăng vọt lên thu hoạch hơn sáu, bảy tấn cá một năm.
       Thế rồi vận may lại đến tiếp. Trung ương quyết định cho tách tỉnh. Tỉnh lỵ mới xây dựng ngay ở thị trấn huyện, gần đầm Hạc. Đường xá mở rộng, dân cư tăng vọt. Đầm Hạc của lão trở thành một trung tâm cung cấp thực phẩm cá tươi, rau muống bè cho các cơ quan tỉnh. Cũng có một vài cơ quan nhòm ngó, quan tâm đến cái đầm của lão.
       Một hôm, lão từ ngoài đầm về thì anh kỹ sư giúp việc hớt hải chạy về gọi:
       - Bác ra ngay ngoài đầm có người hỏi.
       - Ai vậy! Sao không dẫn họ vào đây?
       - Dạ! Họ nói ở sở thương mại của tỉnh ạ! Họ muốn bàn với ta việc đầu tư để giúp phát triển khu đầm Hạc trở thành nơi cung cấp thực phẩm chủ yếu cho cơ quan tỉnh ạ!
       - Thế hả?
       Lão tong tả ra gặp đoàn cán bộ tỉnh. Nhưng cái "kế hoạch đầu tư" ấy bất thành. Vì lão nhận ra vị trưởng đoàn thương mại lại chính là người đã từng kiểm điểm, kỷ luật lão hồi đương vị vì tội bớt xén của công. Thực ra hồi ấy vì ăn chia không đều nên hắn ta mới hại lão, chứ hắn cũng chẳng tốt đẹp gì. Thôi, cũng đếch cần, lão tự nhủ. Thời buổi kinh tế thị trường này làm ăn tự do vẫn rộng cẳng hơn, trói buộc vào những cơ sở liên doanh nhiều khi bất lợi.
       Thời gian sau, sự tính toán của lão lại đúng. Khi tỉnh lỵ mới hình thành, các cơ quan đã yên vị. Nhà cửa xây xong thì mới thấy cả cái thị xã đồ sộ toàn bê tông là bê tông nằm trơ trụi ở nơi không một bóng cây, ngọn cỏ. Mùa hè tới chẳng khác nào giữa sa mạc. Khu đầm Hạc của lão ở cuối thị xã cây cối quanh bờ um tùm trở thành nơi chiều chiều trai gái, kể các gia đình cán bộ, vợ chồng, con cái đèo nhau phóng xe máy xuống ngồi hứng gió...
       Quan sát cảnh ấy lão Sỏi nảy ra một hướng làm ăn mới.
       Lão bỏ tiền mua lá cọ, tre nứa làm một loạt lều câu cá xung quanh bờ ao cho đám người rỗi việc, thừa tiền đến giải trí, hóng mát. Quả đúng như lão tính toán, hơn ba chục cái lều của lão lúc nào cũng có người ngồi câu. Trai gái, bồ bịch vào đấy "câu nhau" là chính chứ còn thiết gì đến câu cá. Lão vừa không mất cá lại được tiền thuê lều câu và bán đồ giải khát với giá cắt cổ. Thế là tiền của cứ tự nhiên đổ vào túi lão. Giàu thì sang. Cái vẻ tất bật ở lão mất dần. Bây giờ thì lão khác hẳn. Lão mặc quần soóc, giày thể thao trắng, chiều chiều đi bộ dọc bờ đầm Hạc vẻ thư thái. Thỉnh thoảng lại thấy chiếc xe con bóng lộn của một đại gia nào đó đến đón lão đi đánh quần vợt. Tất cả mọi công việc kinh doanh, chăn thả ở khu vực đầm Hạc, lão đều giao cho anh kỹ sư chăn nuôi. Anh kỹ sư ngày nào còn đi chiếc xe đạp lọc cọc bây giờ cũng đã xe máy vè vè. Mấy cô làm thuê cắt cỏ cho cá sau vài năm cũng thấy quần hoa, váy ngắn phơi phới.
       Nắm bắt được xu hướng phát triển, lão Sỏi tiếp tục suy nghĩ, tính toán. Lão đi đi, lại lại ngắm nghía mãi đoạn vệt nước hình cổ Hạc sát con đường vào thị xã. Đôi mắt ti hí của lão nheo nheo, cái sẹo giữa trán giãn ra như kẻ đôi khuôn mặt. Có tiếng con gái eo éo:
       - Anh Sỏi ơi! Có đi đánh quần vợt không?
       - Sỏi với đá cái gì! Hôm nay bận...
       - Bận thì bận cũng đừng có quên tụi em nhé!
       Tiếng cười phe phé. Rồi tiếng xe máy rồ lên phóng đi. Lão Sỏi nhìn kéo theo hai cái váy hồng lat lướt vẻ ngẫm nghĩ. Cái đầu hói tròn như quả bí của lão gật gù, gật gù tưởng sắp rơi xuống.
       Hôm sau, lão bảo anh kỹ sư chăn nuôi:
       - Từ hôm nay, cậu giao tất cả việc cá mú cho cô Mận rõ chưa...
       - Thế... thế... cháu làm gì ạ, sao bác nỡ... - Anh kỹ sư tái mặt.
       - Làm gì mà cậu hoảng thế! Ai đuổi việc cậu đâu mà sợ. Từ hôm nay, cậu chuyển sang phụ trách công trường rõ chưa?
       - Công trường gì ạ?
       - Xây dựng...
       Lão Sỏi lấp lửng. Anh kỹ sư chăn nuôi thấp thỏm theo lão ra ngoài bờ đầm Hạc. Rồi anh cũng hiểu ý định của lão. Đó là cái công trình lấp một phần đầm Hạc sát mé đường để xây dựng một loạt các ki-ốt, hàng quán cho ngưòi thuê kinh doanh.
       Khi những chiếc xe ben ào ào trút đất đá xuống hồ thì dân làng mới sửng sốt bảo nhau: "Lão Sỏi lấp đầm Hạc rồi, lão ấy làm hại cả làng ta rồi!". Các cụ già thì chép miệng: "Tiếc quá! Cái đầm nước trong mát thế mà lấp đi". Có kẻ độc miệng còn bảo: "Lão ấy trêu trời khéo mà sét đánh". Những lời ấy đều đến tai lão Sỏi. Lão nhổ toẹt một cái đứng trên bờ vạch quần xả một bãi xuống nước rồi lẩm bẩm: "Mẹ kiếp! ông cứ làm đấy sợ gì! Nếu có người thuê nhà, thuê đất, ông còn lấp luôn cả cái đầm này nữa chứ".
       Dải đất lão lấp xây được cả một dãy ki-ốt, nhà hàng cho thuê hết. Những quán ăn, quán Karaôkê nhô ra ngoài mặt hồ trông sơn thủy hữu tình ra phết. Quả là lão Sỏi tính toán như thần. ở khu ngoại vi thị xã cây cối xum xuê, mát mẻ lại nằm trên trục đường quốc lộ nên các nhà hàng lúc nào cũng đông khách. Các ông chủ từ trong thị xã ra thuê nhà kinh doanh đều thu hoạch khá. Thấy vậy, lão Sỏi dựng thêm một số quán nữa theo kiểu nhà sàn của người dân tộc, cắm cọc bê tông xuống đầm, làm nhà lên trên để cho thuê. Lão cũng rời luôn ra ở tại một căn nhà nổi như thế, vừa gần thị xã, tiện giao lưu. Đêm đêm khu đầm Hạc sôi động hẳn lên, trở thành một trung tâm thư giãn, giải trí, ánh đèn xanh, đỏ nhấp nháy, khuyến rũ. Những đoàn xe tải đậu dài hai bên đường, cánh lái xe Bắc-Nam có chỗ xả hơi sau những ngày gian khổ trên đường trường.
       Đầm Hạc bây giờ bị thu lại, con Hạc như bị thắt ở cổ...
       Lão Sỏi thu từ hồ cá đã bộn tiền, giờ lại thêm nguồn lợi kếch xù từ lều câu, quán xá, nhà hàng cho thuê nữa, thật chả để đâu hết tiền. Lão ăn tiêu, chơi bời thoải mãi. Cao hứng lên lão tài trợ cho các giải thể thao của tỉnh, cho các trường trẻ em nghèo, khuyết tật nên tên tuổi lão được ghi trong nhiều "sổ vàng" các loại. Đến hội nghị, hội thao nào lão cũng được mời lên hàng ghế danh dự.
       Nhưng rồi hình như vẫn còn có luật "nhân - quả" ở trên đời.
       Đột nhiên, tất cả cá của lão đem bán ở các chợ thị xã và trong vùng không ai mua nữa. Có một tin đồn lan nhanh rằng nhiều người mua cá đầm Hạc, khi mổ ra đã thấy những chiếc bao cao su sử dụng rồi ở trong bụng cá. Từ lâu, người ta đã biết trong những dãy quán bia ôm, cà phê đèn mờ bên bờ đầm Hạc có nhiều chuyện mờ ám. Đầm Hạc ngày xưa nước trong xanh leo lẻo là thế mà bây giờ đục lờ lờ, bao ni lông, vỏ côcacôla, rác rưởi trôi lềnh phềnh khắp mặt hồ. Rồi cái mùi hôi hôi bốc lên mỗi khi trời nắng to, khiến lượng người đến hóng mát bên bờ hồ giảm hẳn.
*
       Lão Sỏi ngồi trầm ngâm trong căn nhà sàn nhô ra giữa đầm ngẫm nghĩ. Lão vẫn tự hào là cuộc đời lão những lúc "bĩ" nhất thì lại tìm thấy sự "thái lai". Đận này làm ăn sa sút có khi lại là tiền đề cho đận sau.
       Màn đêm đã buông xuống. Những trận mưa rền rĩ suốt mấy ngày đã ngớt hẳn. Mới đầu mùa hạ sao năm nay mưa nhiều thế.
       Tiếng ếch nhái sau mưa râm ran khắp mặt đầm nước. Điện mất nên dãy quán hàng ven hồ mập mờ bởi ánh nến leo lét. Có tiếng lảm nhảm của mấy gã say rượu ngoài đường.
       Lão Sỏi ngả người, hai ngón tay nhón ly rượu.
       Đêm dần về khuya. Bỗng "ùm" một tiếng. Rồi tiếng thét gào thất thanh:
       - Cứu... cứu... nhà...  sập... rồi!
       Lão Sỏi mở cửa lao ra. Có tiếng người lao xao: "Sập nhà ở đâu vậy". Ánh đèn pin loang loáng. Lão Sỏi kinh hoàng khi nhìn thấy cái nhà sàn bên cạnh đang từ từ chìm xuống dưới mặt nước đầm Hạc. Giữa đám hỗn độn của vôi vữa, tôn, gỗ ấy chồi lên một đôi trai gái trần như nhộng. Thì ra họ đang vào đoạn "cao trào" thì nhà bị sập.
       Mọi người vội vã kéo hai người lên. Vớ được cái quần ai đưa cho, họ che người rồi vội lủi mất. Giữa lúc đó lại "ùm" một tiếng, căn nhà sàn mà lão Sỏi vừa ngồi uống rượu cũng lộn xuống đầm Hạc. Lão Sỏi gào lên:
- Cứu... c... ứ... u... với...
- Cứu cái gì! Đấy là nhà của ông, còn ai trên đó không mà cứu?
- Cứu... cứu... - Lão vẫn gào lên và định lao xuống nước. Một anh túm lấy tay lão kéo lại quát:
       - Ông muốn chết à! Nhà đang sập lại lao vào làm gì!
       - Trời ơi... - Lão Sỏi rên rỉ, chân tay lão run run. Lão khụy xuống, mặt trắng bệch, mồm há ra, tiếng kêu ú ớ, tắt dần.
       Hai cái nhà làm thò ra giữa đầm như hai chiếc thuyền bị đánh đắm, chìm dần xuống đáy nước sâu. Đầm Hạc vốn nước rất trong. Đáy hồ là một lớp bùn lầy bùng nhùng "thụt chó". Khi mới nhận thầu đầm Hạc, lão Sỏi đã có ý định bơm hết nước để vét bùn, trước khi thả cá. Nhưng bốn máy bơm công suất lớn chạy suốt ngày đêm cạn được bao nhiêu thì nước lại đùn lên bấy nhiêu. Lão đành bỏ ý định vét đầm mà cứ cho thả cá giống xuống. Cá thả lớn nhanh, kéo lưới đánh bắt rất dễ. Đầm Hạc có rất nhiều các loại cá tự nhiên. Có người khẳng định nhiều đêm đi soi ếch còn nhìn thấy cả đàn cá to như người nổi lên vờn nhau giữa đầm, ánh vảy loang loáng. Thế nhưng lạ thay, cánh kéo lưới thuê cho lão dùng đến cả lưới vây, lưới vét cũng không bắt được con cá nào ngoài các loại cá thả và mấy con cua, con tép lẫn vào.
*
       Sau cái đêm bị chìm mất hai căn nhà nổi xuống đáy đầm Hạc, lão Sỏi đâm ra ngơ ngẩn. Lão thuê cánh thợ chuyên lặn ở cảng Phà Đen ngoài sông Hồng đến đeo cả bình ô-xy lặn xuống trục vớt đồ đạc. Nhưng bọn họ lặn xuống ngoi lên ngay, lắc đầu bảo dưới lòng đầm sạch trơn chẳng thấy có nhà cửa hay gạch ngói gì. Lạ nhỉ? Chả lẽ cả hai cái nhà nổi to như hai toa tàu hoả mà bị hút xuống lớp bùn sâu đáy đầm Hạc.
       Dân làng đồn lão Sỏi đóng hòm cả chục ki-lô-gam vàng và két tiền chứa đầy đô-la để ở căn nhà nổi bị chìm mất nên tiếc của quá đâm ra ngớ ngẩn, điên điên, khùng khùng. Lại có người bảo đầm Hạc là do ông trời đào. Nó chính là cái huyệt dùng để mai táng nàng tiên dám bỏ cả thiên đàng để lấy người trần tục. Thế mà lão Sỏi dám lấp cái huyệt ấy xây nhà hàng bia ôm, quán Karaokê, để vỏ chai, túi ni lông, bao cao su vứt đầy mặt đầm chả trách trời nổi giận là phải.
       Lão Sỏi hóa điên thật. Bây giờ thì lão chẳng còn biết ngày, đêm là gì. Lão cứ đi vòng quanh hồ, hết vòng này đến vòng khác, mắt đăm đăm nhìn xoáy xuống mặt nước. Mỏi chân, lão lại ngồi xuống gốc cây phượng vĩ già, rút từ trong cái túi áo cáu bẩn ra ổ bánh mỳ nhai ngấu nghiến. Những người làm thuê cho lão đều đã bỏ đi. Anh kỹ sư chăn nuôi tếch vào tận Lâm Đồng. Cô cháu gái họ xa vẫn cắt cỏ cho cá ăn thương lão, nấn ná ở lại chăm sóc lão và trông coi đầm cá cũng hoảng hồn bỏ đi nốt. Trước khi đi cô ấy còn kể lại cho dân làng nghe chuyện đang trưa lội xuống đầm vớt bèo thì bỗng có một bàn tay túm lấy chân mãi mới gỡ ra được để chạy lên bờ.
       Chuyện đầm Hạc cứ hư hư, thực thực, kẻ tin, người ngờ...
       Còn chuyện lão Sỏi suốt ngày cười, nói vô thức đi vòng quanh đầm Hạc thì ngày nào ai cũng thấy. Đêm đêm còn nghe cả tiếng lão hú lên ở bên kia đầm, nơi có cái miếu cô hồn bỏ hoang. Dân làng có người thương lão, ơn lão từng cưu mang, gặp lão tồng ngồng chỉ khoác mỗi cái chăn chiên rách thì khuyên lão về làng. Nghe xong, lão cười sằng sặc bảo: "Ta sắp được làm vua, sắp có ngai vàng, phải ở triều đình chứ, về làng làm gì!". Mấy hôm sau, lão lại bảo lão là nô lệ. Mà nô lệ thì cũng không thể về làng, còn mặt mũi nào mà gặp bà con nữa.
       Thế rồi lão Sỏi bỗng biến mất từ sau một buổi trưa có đám mây đen bay qua đầm và một tiếng sét nổ vang ngang trời. Có người nói lão vào tận Lâm Đồng để tìm anh kỹ sư chăn nuôi. Vì chính anh này đã cuỗm toàn bộ số vàng, đô-la lão tích cóp cả đời chứ chẳng phải nó bị chìm xuống nước. Lại có người thì khẳng định lão lặn xuống đầm tìm của bị hút luôn xuống đáy bùn...
       Thời gian sau, hợp tác xã ra quyết định thu hồi lại đầm Hạc. Các hàng quán bị dỡ bỏ. Chi đoàn thanh niên nhận thầu thả cá gây quỹ hoạt động và làm học bổng cho các cháu học sinh nghèo vượt khó, học giỏi. Cánh thanh niên đào vét chỗ đất lão Sỏi lấp đầm làm hàng quán, trả lại hình dáng xưa của cánh Hạc đang bay. Họ trồng nhiều loại cây ăn quả và hoa xung quanh đầm.
      Nước đầm Hạc dần trong trở lại.
                                                                                                                 
                                                                        Hà Nội, 3-2001

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

Truyện ngắn HƯƠNG THỊ (phần 3)


      


Hương thị
Truyện ngắn của Trọng Bảo

          Từ sau buổi trưa hôm ấy ở Thái Nguyên vào đến chiến trường tôi và thằng Thân không gặp lại nhau lần nào nữa. Chúng tôi cũng chẳng có thư từ gì cho nhau được vì đơn vị luôn luôn cơ động. Đơn vị của thằng Thân tham gia nhiều chiến dịch từ Đà Nẵng đến Sài Gòn. Tôi thì ở một đơn vị dự bị, luôn luôn di chuyển phía sau đội hình tác chiến, chuyên giải quyết hậu quả các trận đánh. Vì thế có nhiều người vẫn nói đùa bảo chúng tôi là loại lính chuyên “nhặt ống bơ”, thu chiến lợi phẩm.
          Tôi gặp được thằng Thân trong một tình huống không ngờ tới.
          Đó là mấy ngày sau ngày giải phóng Sài Gòn. Hôm ấy, tiểu đội của chúng tôi nhận nhiệm vụ đến trạm phẫu tiền phương đưa đi mai táng một chiến sĩ vừa hy sinh do vết thương quá nặng sau trận đánh ở Xuân Lộc. Chúng tôi đưa thi hài người chiến sĩ ấy vào khu vực nghĩa trang của mặt trận. Ở đây đã có nhiều chiến sĩ hy sinh trong trận đánh để công phá Xuân Lộc - “cánh cửa thép” bảo vệ Sài Gòn. Sau khi chôn cất người lính vừa hy sinh xong, chúng tôi chia nhau nắm hương đi cắm trên các nấm mộ những anh em chôn trước xung quanh ngôi mộ mới. Đến một nấm mộ còn tươi màu đất tôi chợt trố mắt khi nhìn thấy dòng chữ viết bằng sơn đen trên tấm bia tạm làm bằng gỗ: “Hà Văn Thân, sinh năm 1956, quê quán Lập Thạch, Vĩnh Phú, hy sinh ngày 29-4-1975”. Đúng là thằng Thân bạn của tôi rồi. Tôi thấy tim mình nhói lên, cổ đắng ngắt. Khổ thân mày quá Thân ơi, sao mày lại nằm ở cái nơi xa quê này. Tôi gần như khụy xuống. Tôi lập cập cắm mấy nén nhang lên nấm đất còn mới. Tôi cứ ngồi vốc từng nắm đất đắp thêm lên mộ thằng Thân cho đến khi mấy anh em giục mãi mới loạng choạng đứng dậy. Sau này trước khi trở về Bắc, tôi còn cố đến thăm thằng Thân thêm một lần nữa. Thằng Thân hy sinh chỉ trước ngày toàn thắng một ngày. Nó đã chiến đấu rất dũng cảm. Nó ngã xuống khi dùng thân mình che đạn cho một thương binh.
          Sau này thằng Thân cũng được trở về quê hương vào một mùa thị chín sau hơn hai mươi năm ra đi. Nó nằm trong nghĩa trang liệt sĩ. Cạnh nghĩa trang liệt sĩ có một cây thị già. Cái cây có lẽ phải đến trăm tuổi, năm nào cũng sai hoa, lắm quả. Mùa thị chín hương thị bay thơm ngan ngát khắp cả khu nghĩa trang.
          Một lần về quê, tôi gặp cái Thu, lớp trưởng 10B ngày nào. Thu đang học trường cao đẳng sư phạm tỉnh. Thủ kể lại chuyện sau khi tôi và Thân nhập ngũ, các bạn học sinh Hà Nội sơ tán lên cũng chuyển về thủ đô. Thằng Phú và Linh đều trúng tuyển đại học. Khi hai người cưới nhau, Linh có gửi một cái thiếp mời về nơi sơ tán cho lớp trưởng Thu nhờ báo tin cho các bạn. Nhưng Thu cũng không đi Hà Nội dự đám cưới của họ được.
          Khi chiến tình hình biên giới phía Bắc căng thẳng, đơn vị tôi hành quân lên tuyến trước. Khi chiến tranh nổ ra tôi có gặp lại thầy giáo chủ nhiệm lớp 10B tại mặt trận. Thầy đã chiến đấu và hy sinh rất dũng cảm. Tôi đã viết một truyện ngắn về thầy. Đó là cái truyện ngắn “Thầy ơi” đăng trên báo Văn nghệ Trẻ. Những lần sau về quê, bạn học cũ chẳng mấy khi gặp lại. Mỗi người giờ đã ở một phương trời, có rất ít thông tin về nhau. Riêng các học sinh Hà Nội sơ tán lên quê tôi thời chiến tranh chống Mỹ thì chả gặp lại ai cho đến khi gặp Linh ngoài chợ rau ngoại thành.

*

          Một ngày nghỉ, theo địa chỉ Linh dặn, tôi tìm đến nhà của Linh và Phú.
          Đi đến cuối cái ngõ nhỏ ngoằn nghoèo, tôi tới một ngôi nhà nhỏ hai tầng cũ kỹ ở cuối con đường. Ngày xưa thấy bọn học sinh thành phố về quê quần áo bảnh bao cứ nghĩ là họ sống khá giả lắm. Nhưng thành phố cũng có những vùng ngoại ô giống như nông thôn thế này.
          Linh mở cổng đón tôi. Cô đưa tôi vào nhà đến bên một ngoài đàn ông đang ngồi trên một chiếc xe lăn. Người đàn ông nghểnh cổ lên nhìn khách. Đoạn, ông ta ú ớ mãi mà không thốt lên thành tiếng. Riêng tôi thì do biết trước nên tôi nhận ngay ra đó chính là thằng Phú của gần bốn mươi năm trước. Tôi nói:
          - Nhận ra tao không hả Phú? Tao là Hà… thằng Hà “nghiện sách” của lớp 10B đây!
          - Nhận… nhận ra rồi! - Phú cũng reo lên mừng rỡ.
          - Sao mày lại… bị như thế này hả?
          Tôi nắm tay thằng Phú hỏi, nó im lặng không trả lời.
          Linh rót cốc nước lọc mời tôi. Phú bảo vợ:
          - Có gói càphê Ban Mê Thuột hôm qua bà tổ trưởng dân phố mới cho đấy, pha mời anh Hà…
          - Thôi… tôi uống nước lọc cũng được!
          Tôi ngồi xuống cái ghế. Thằng Phú lăn cái xe đến cạnh ghế của tôi.  Ba chúng tôi cùng ngồi ôn lại quãng đời học sinh xa xưa. Qua câu chuyện của Phú và Linh, chắp nối thông tin lại tôi hiểu được phần nào về chuyện của hai người bạn cũ.
          Ngày ấy, khi tôi và thằng Thân đi bộ đội thì Linh và Phú trở về Hà Nội và cùng vào trường đại học bách khoa. Tốt nghiệp ra trường cả hai đều nhận công tác tại Hà Nội. Phú đã lên đến chức trưởng phòng của một bộ lớn. Tai họa xảy ra với Phú khi nó bị tai nạn sáu năm trước đây. Hôm đó trời mưa to, gió lớn nó đi làm về muộn. Hôm ấy nó được thông báo ngày hôm sau lên gặp lãnh đạo bộ để nhận quyết định bổ nhiệm chức cục phó. Nó rời cơ quan rất muộn. Đang phóng xe máy trên đường thì nó bị một cái cây gãy đổ xuống trúng người. May mà không chết. Nó bị chấn thương cột sống nặng nằm liệt giường tại bệnh viện cả năm trời. Hai vợ chồng đã phải bán căn nhà mặt phố ở trung tâm để lấy tiền chạy chữa. Thế là con đường công danh của nó đang lên như diều thì bị đứt phựt. Hai thằng con trai thì một thằng lại vướng vào chuyện ăn chơi, nghiện hút, nhà có thứ gì bán được đều tìm cách lấy trộm đem bán. Khi nhà hết của thì nó đi ăn trộm của hàng xóm phải đưa vào trại cải tạo và cai nghiện. Linh phải xin nghỉ hưu non trước mấy năm để chăm sóc chồng. Họ chuyển nhà ra ngoại thành ở. Linh thả đám rau muống ở cái ao gần nhà thỉnh thoảng cắt gánh ra chợ bán kiếm thêm tiền mua thức ăn cho chồng. Phú thì suốt ngày ngồi trên xe lăn trông nhà. May mà gần đây bà tổ trưởng dân phố kiếm được cái nghề làm hoa giả, hoa lụa  bảo nó tham gia cùng làm với các anh chị trong tổ hưu cho vui. Nó cũng có thêm chút thu nhập và một niềm vui.
          Tôi tìm lời động viên chia sẻ với vợ chồng Phú-Linh hứa sẽ thường xuyên đến thăm hai người. Căn hộ chung cư của tôi cũng không xa ngôi nhà của họ lắm. Khi thấy tôi có ý muốn về Linh đứng dậy bảo:
          - Anh đi theo em! - Linh nói rồi leo lên cầu thang. Tôi ngơ ngác hỏi lại:
          - Đi đâu vậy?
          Phú cũng bảo:
          - Thì ông cứ đi theo Linh khắc biết!
          Tôi đắn đo nhưng cũng theo Linh lên gác.
          Vừa lên đến tầng hai tôi đã ngửi thấy mùi hương thị chín thơm ngát.
          Linh đưa tôi đến trước cái bàn thờ ở giữa gian nhà. Tôi nhìn thấy ảnh của hai ông bà già treo chính giữa bàn thờ. Tôi nhận ra đó là ảnh bố mẹ của Phú mặc dù khi cùng cơ quan sơ tán về quê tôi họ trẻ hơn trong ảnh rất nhiều. Khi Linh đang bật lửa đốt mấy nén hương thì tôi lại giật mình nhận ra một bức ảnh nhỏ bằng bàn tay trong một cái khung bé xíu đặt ở bên phải bàn thờ ngay phía sau cái đĩa có một quả thị chín vàng ươm. Đó là ảnh của thằng Thân. Thì ra Phú và Linh thờ thằng Thân cùng bố mẹ mình.
          Tôi cắm mấy nén hương vào bát nhang.
          Mùi hương thơm và mùi thị chín quyện vào nhau có mùi thơm rất lạ, rất khác.
          Hương thị thơm khiến tôi thấy nhớ quê hương da riết với bao kỷ niệm ngày xưa một thời tuổi trẻ ồn ào, nông nổi.
          Vậy là đã lại đến mùa thu…
                                                                                  Hà Nội, 10-2011
          (hết) 

Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011

Truyện ngắn HƯƠNG THỊ (phần 2)


              

Hương thị
Truyện ngắn của Trọng Bảo

          Tôi được biên chế về trung đoàn 246B. Thời chống Mỹ, quân đội ta đều có các đơn vị A và đơn vị B. Đơn vị có chữ A thường là khung huấn luyện, đơn vị có chữ B là đơn vị chiến đấu. Mặt trận cũng đặt là theo chữ cái A, B, C sau này thêm mặt trận K nữa. A là mặt trận miền Bắc. Miền Bắc cũng phải đánh nhau với máy bay của bọn Mỹ. Mặt trận B là chiến trường miền Nam, C là chiến trường Lào, K là Campuchia. Ngày ấy cứ nói đi B tức là sẽ vào miền Nam chiến đấu. Ở chiến trường A (miền Bắc) còn có hy vọng sống, còn đi B thì phần sống trở về rất thấp. Làng tôi ngày ấy mười người đi B thì chỉ có ba, bốn người trở về. Cũng vì thế mới có chuyện nhiều người mang danh hiệu “bê quay”. Đó là những người không chịu nổi bom đạn, hy sinh bỏ mặt trận hoặc đào ngũ khi được biên chế vào đơn vị B, trên đường đi chiến trường thì trốn quay trở về hậu phương.
          Đơn vị tôi khẩn trương huấn luyện để chi viện cho miền Nam. Hồi ấy chỉ là bọn “lính quèn” nên tôi không biết chuyện có kế hoạch chuẩn bị tổng tiến công giải phóng miền Nam năm 1975, chỉ biết sẽ ra đi không biết ngày nào trở về. Chúng tôi được cấp phát các loại vũ khí, trang bị, quân trang để sẵn sàng lên đường. Khẩu súng AK nhãn hiệu “made in CCCP”, bộ quần áo, tăng võng, cái bình tông “made in China” va cái ca tráng men sắt tây có in dòng chữ “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.
          Một buổi trưa ăn cơm xong tôi vừa chợp mắt thì tiểu đội trưởng kéo chân gọi nhỏ:
          - Ra ngay chiêu đãi sở có khách đến thăm!
          - Khách nào thế hả anh?
          Tôi hỏi. Tiểu đội trưởng lắc đầu:
          - Chả biết! Cũng là lính tráng. Nghe nói cùng quê với ông. Nhớ là chuyện trò tâm sự gì thì đến trước giờ báo thức buổi chiều phải về để đi tập chiến thuật nhé!
          - Vâng… nhưng cùng là lính tráng sao trực ban không cho vào luôn trong doanh trại hả anh?
          - Quy định là như thế! Vào đây để các ông trò chuyện ầm ầm, đơn vị mất ngủ, chiều đi tập thế nào được hả!
          Tôi vội mặc quần áo ra nhà chiêu đãi sở. Một người mặc quân phục vải Tô Châu mới tinh đang ngồi chờ sẵn. Tôi vô cùng ngạc nhiên nhận ra đó là thằng Thân. Thằng Thân rất vui mừng vì gặp được tôi. Hai thằng ngồi nói chuyện với nhau suốt buổi trưa.
           Qua lời kể của thằng Thân tôi lờ mờ hiểu được mọi chuyện.
          Ngay sau khi tôi lên đường nhập ngũ thì chi đoàn lớp 10B cũng tổ chức kết nạp đoàn cho thằng Thân. Trong một buổi sinh hoạt lớp Thằng Phú đã nhận việc nó đến mượn cuốn sách hoá học của thằng Thân đã sơ ý để quên cái bút Kim tinh và tờ năm đồng vào hộc bàn chỗ ngồi của thằng Thân. Khi mọi việc vỡ lở nó đã định nhận lỗi của mình ngay nhưng lại sợ khuyết điểm nên không dám nói. Bây giờ nó thấy hối hận nên xin chịu kỷ luật trước lớp và chi đoàn.
           Việc thằng Phú nhận là vô tình bỏ quên cái bút máy và tiền vào hộc bàn đã xoá được cái tội ăn cắp cho thằng Thân. Trong lớp có người nghi ngờ việc “vô tình bỏ quên” của thằng Phú nhưng không ai muốn truy cứu. Việc xong xuôi, êm đẹp thì thôi. Ngày ấy ai cũng sợ khuyết điểm, mất thành tích chung của tập thể. Lớp không có người ăn cắp thì càng tốt. Cô bé Thu, lớp trưởng kiêm bí thư chi đoàn lớp tôi ngày ấy là một người con gái rất xinh, tính tình hìền dịu, nhu mỳ, lúc nào cũng chỉ sợ thành tích lớp mình kém lớp khác. Hôm lớp xảy ra chuyện “ăn cắp” của thằng Thân, tôi để ý thấy Thu rất buồn. Cả năm xây dựng phong trào thanh niên, tổ chức phong trào thi đua của lớp thế là công lao đổ hết xuống sông, xuống bể. Thu đã khóc sưng cả mắt và buồn hơn chính cả thằng Thân - tên tội phạm số 1 của lớp 10B chúng tôi ngày ấy.
          Thân thoát tội ăn cắp và được xem xét kết nạp vào đoàn thanh niên lao động. Đơn xin nhập ngũ của nó lập tức được chấp nhận, và nó trở thành một người lính, một đồng đội của tôi. Nó cũng ở một đơn vị B đóng quân gần đơn vị. Đơn vị nó cũng đang khẩn trương huấn luyện để chuẩn bị hành quân ra mặt trận chiến đấu.
          Lại nói về chuyện ở lớp 10B ngày ấy. Thằng Phú bị kiểm điểm vì đã gây ra chuyện nghi ngờ trong lớp có kẻ ăn cắp, làm cho lớp tôi mất điểm thi đua trong học kỳ 1. Cuối năm học, thằng Phú không đạt tiêu chuẩn “Đoàn viên 4 tốt”. Thế mà nó có vẻ chẳng lo lắng, buồn phiền gì. Sau này chúng tôi mới biết việc nó đứng lên nhận khuyết điểm trước lớp đã gây họa, làm oan cho thằng Thân là có một sự hy sinh, đánh đổi của một người khác. Người đó chính là Linh. Linh đã đoán biết ngay là thằng Thân là nạn nhân, bị ném đá giấu tay, vu oan giáo họa. Linh cũng biết cả người đã ném đá giấu tay và lý do vì sao hắn làm như thế. Linh đã gặp Phú. Rồi sau đó Linh đã nhận yêu nó. Sau khi thằng Phú nhận lỗi trước lớp, chịu hình thức kỷ luật hình như Linh còn hiến dâng cho nó tất cả. Linh đã cứu danh dự cho thằng Thân như thế đấy. Chẳng biết Linh làm như vậy là khôn hay dại.
           Đám học sinh cùng lớp, cùng trường, nhất là bọn học sinh thủ đô sơ tán về nông thôn có nhiều đứa bảo là thằng Phú ngu, tự dưng lại giơ đầu chịu báng, nhận hết khuyết điểm về mình một cách hoàn toàn tự giác như thế. Khi thằng Phú không đạt tiêu chuẩn “Đoàn viên 4 tốt”, có người đẫ gặp để chia sẻ, an ủi nó. Họ không biết thằng Phú làm như thế là nó đã “bắn một mũi tên trúng hai đích”. Nó đã có được một người con gái đẹp. Điều quan trọng hơn là nó còn đạt được một mục đích khác nữa mà bọn chúng tôi ngày ấy không một ai nghĩ tới.
           Thằng Phú có một ông chú làm ở Bộ Tổng tham mưu quân đội. Ông này là cán bộ cấp cao, biết được nhiều thông tin bí mật. Ông biết chuyện sẽ tổng động viên chuẩn bị cho những chiến dịch lớn giải phóng hoàn toàn miền Nam. Là một người lính chiến, ông càng hiểu rõ sự khốc liệt, chết chóc của chiến tranh. Thằng Phú là đứa con của anh ruột ông, cũng là cháu đích tôn của dòng họ. Ông ấy tính đến chuyện an toàn cho thằng cháu. Khi đi công tác qua Vĩnh Phú, ghé thăm anh trai và cháu ở nơi sơ tán, ông đã bày cách để thằng Phú khỏi phải đi bộ đội. Việc thằng Phú nhận khuyết điểm gây nên sự hàm oan cho bạn nên cuối năm học không đạt tiêu chuẩn “Đoàn viên 4 tốt” lại là một cơ hội tốt. Thế là nó cũng không đủ tiêu chuẩn đi bộ đội. Đi bộ đội đánh Mỹ ngày ấy chỉ ưu tiên cho những thanh niên ưu tú mà thôi. Sau đó một thời gian ngắn nó chuyển trở về Hà Nội, làm lại học bạ và đi học đại học, trong khi thằng Thân và tôi cũng chuẩn bị ra chiến trường.
 *
           Buổi trưa hôm ấy tôi và thằng Thân đã nói với nhau rất nhiều chuyện. Chúng tôi nhớ về ngày ấu thơ cùng nhau cắp sách tời trường, nhớ về kỷ niệm những đêm lửa trại thanh niên, cả chuyện hai thằng trốn học đi bộ lên huyện xem phi công Mỹ bị bắt sống tại núi Sáng. Bao nhiêu chuyện được nhắc lại nhưng tiệt nhiên không thấy thằng Thân nói về chuyện của nó với Linh. Nó chỉ tặc lưỡi nói mấy cậy thị trên đồi Ma mùa này ra quả xanh sai lắm, ánh mắt thì lại có vẻ xa xăm, thoáng buồn. Lúc chia tay tôi thằng Thân bảo:
          - Đơn vị tao sắp đi rồi… Hẹn gặp mày ở quê sau ngày chiến thắng nhé!
          - Ừ! Mày cũng phải cố gắng mà rèn luyện. Trông mày nhỏ con, gầy yếu thế liệu có đủ sức mà leo qua đỉnh Trường Sơn không đấy?
           - Mày yên tâm! Nhất định tao sẽ không bao giờ chịu lùi bước đâu.
           Chúng tôi chia tay nhau.
           Sau ngày miền Nam giải phóng tôi có gặp lại thằng Thân nhưng không phải tại quê hương trung du của chúng tôi như lời hẹn ước ngày còn ở thao trường huấn luyện Thái Nguyên. Thằng Thân đã không trở về quê sau ngày chiến thắng trong một mùa thị chín như là lời nó đã hẹn với tôi…
                                                                               Hà Nội, 10-2011
          (còn nữa)