Thứ Năm, 14 tháng 5, 2015

Truyện dài TRĂNG LẠNH (phần 3)

   


            TRĂNG LẠNH
             Truyện dài của Trọng Bảo

           Ngay sau lễ truy điệu liệt sĩ, ông chủ tịch và anh xã đội trưởng chờ gặp ông Đạt, đội trưởng đội sản xuất làng Hạ để bàn công việc gấp. Hai ông cán bộ xã sốt ruột đứng đợi ở cổng nhà bà Thêm. Ông đội trưởng thì còn đang mải dài dòng kêu gọi bà con xã viên trong đội sản xuất nhanh chóng biến đau thương thành hành động cách mạng sau đó lại còn phân công người thì đi cày, kẻ đào mương, cuốc đất mãi mới xong.
            Về đến nhà nhà ông Đạt, chủ tịch xã Trần Khuông vội vớ ngay cái điếu bát để trên bàn mồi liền hai điếu thuốc lào, hóp má rít òng sọc vẻ rất ngon lành. Suốt buổi lễ truy điệu liệt sĩ Hà Quang Nghĩa ông thèm thuốc lào quá nhưng không dám bỏ ra ngoài rít thuốc như đám thanh niên. Anh xã đội trưởng không hút thuốc lào. Anh nhón tay rút một điều thuốc là Tam Đảo trong túi áo ra châm lửa.
            Sau khi thỏa mãn hơi thuốc ba người mới bắt đầu bàn công việc. Ông chủ tịch xã chợt nhớ ra liền bảo ông đội trưởng:
            - Anh sang chỗ nhà đám mời thêm trưởng công an xóm và cô Tình, bí thư chi đoàn về dự họp luôn!
            Ông Đạt lại lật đật đi ra cổng. Một lát sau ông cùng anh Kỉnh, trưởng công an, chị Tình bí thư chi đoàn làng Hạ cùng vào nhà. Họ ngồi xuống quanh chiếc bà trà cũ kỹ. Ông chủ tịch xã nhìn mọi người một lượt rồi trịnh trọng:
            - Đây là một việc bí mật quân sự! Đề nghị các ông không ghi chép, không phổ biến… - Ngừng một lúc nhìn hai người đang chăm chú nghe, ông chủ tịch hắng giọng nói tiếp: - Thời gian tới có thể giặc Mỹ sẽ bắn phá miền Bắc ác liệt hơn, hủy diệt ghê gớm hơn. Chúng đang muốn biến miền Bắc nước ta trở về thời kỳ đồ đá… Khu vực xã ta sẽ trở thành trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ vì các xe vận tải quân sự sẽ lưu thông theo quốc lộ 2C lên Tuyên Quang, sang Yên Bái để tránh phải qua cầu Việt Trì là trọng điểm, túi bom của bọn chúng. Thêm nữa nay mai xưởng sửa chữa xe tăng của bộ đội cũng sẽ được sơ tán về khu vực núi Mồng thuộc xã ta. Trước sau gì thì bọn gián điệp cũng sẽ phát hiện ra và chỉ điểm báo cho máy bay địch đến bắn phá. Vì thế, cán bộ chúng ta phải chuẩn bị tư thế sẵn sàng, không được hoang mang, dao động…
            Nghe ông chủ tịch xã phổ biến tình hình, ông Đạt rất ngạc nhiên, thắc mắc. Ông nghĩ: “Mình chỉ là cái thằng đội trưởng đội sản xuất cùng hai cán bộ cấp thấp nhất mà sao lại được dự một buổi họp quan trọng thế này nhỉ?”. Nhưng ông không dám hỏi tại sao, chỉ im lặng lắng nghe.
            Sau khi phổ biến, quán triệt tình hình, chủ tịch xã Trần Khuông bảo:
            - Bây giờ xã đội trưởng Phạm Bản sẽ bàn việc cụ thể cho đội sản xuất làng Hạ.
            Xã đội trưởng Phạm Bản mở cái xà-cột may bằng vải bạt đeo kè kè bên hông lấy ra một cuốn sổ ghi chép. Không nhìn vào sổ nhưng xã đội trưởng Phạm Bản vẫn nói vanh vách:
           - Xã ta nằm dưới đường bay của máy bay Mỹ từ trên dãy núi Tam Đảo lao xuống bắn phá thủ đô. Máy bay giặc Mỹ từ tàu sân bay bay vào đất liền thường tập kết trên bầu trời khu vực dãy núi Tam Đảo để tránh lưới lửa phòng không của ta trước khi lao xuống không kích Hà Nội. Những chiếc bị thương, bị cháy chúng cũng sẽ cố bay lên khu vực núi Tam Đảo phi công nhảy dù xuống rừng rậm dễ lẩn trốn, chờ cứu hộ… Vì thế, theo chỉ thị của cấp trên, xã ta sẽ thành lập một trung đội dân quân thường trực, sẽ được trang bị một khẩu đội 12ly7 xây dựng trận đia ở khu Đồi Ma đón lõng bắn máy bay địch bổ nhào từ Tam Đảo xuống đánh Hà Nội, đồng thời bảo vệ cây cầu sắt qua sông Phó Đáy khi con đường 2C này trở thành tuyến giao thông huyết mạch lên Tuyên quang, Yên Bái. Đơn vị dân quân cũng làm nhiệm vụ cảnh giớ, phát hiện máy bay địch từ xa và phát lệnh báo động phòng không để nhân dân kịp xuống hầm tránh trú bom đạn… - Nói một hồi dài đến đây, anh xã đội trưởng ngừng lại. Anh vớ chén nước chè nhấp một ngụm cho thanh giọng rồi trình bày tiếp: - Làng Hạ gần khu vực Đồi Ma và cây cầu sắt nhất nên lực lượng thanh niên làng Hạ sẽ là nòng cốt của trung đội dân quân thường trực vì thuận tiện việc sinh hoạt, đảm bảo hậu cần, hết giờ trực chiến là ra ruộng sản xuất được ngay, tay cày luôn bên tay súng. Làng Thượng, xóm Mới ở xa sẽ thành lập các đơn vị dân quân cơ động sẵn sàng chi viện cho các đơn vị bộ đội, vây bắt giặc lái Mỹ nhảy dù…
            Nghe phổ biến đến đây ông Đạt chợt hiểu lý do tại sao mà ba cán bộ tép riu của làng Hạ lại được tham dự cuộc họp quan trọng thế này. Ông cảm thấy hơi sợ hãi. Nếu đúng như thế thì làng ông sẽ trở thành một nơi rất nguy hiểm. Máy bay phản lực của bọn Mỹ hiện đại, tốc độ âm thanh, mấy khẩu súng bộ binh bắn lên chỉ vuốt đuôi, phủi bụi cho nó, không khéo lại làm hiệu bảo nó quẳng bom xuống xóm làng.
            Chủ tịch xã Trần Khuông rít thêm một điếu thuốc lào rồi hỏi:
            - Lực lượng thanh niên làng Hạ hiện tại thế nào?
            Chị Tình bí thư chi đoàn đáp ngay:
            - Báo cáo chủ tịch! Thanh niên làng Hạ chủ yếu là nữ. Nam giới đi bộ đội hết cả rồi ạ.
            - Nam nữ thì cũng như nhau. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Cô báo cáo cụ thể xem nào?
            - Chi đoàn có ba mươi nữ, bốn nam. Chủ yếu là học sinh mới học xong phổ thông về sinh hoạt đoàn tại địa phương. Số này có nhiều người chưa phải là dân quân...
            - Tốt! Cô lập danh sách rồi cùng với xã đội trưởng thống nhất biên chế thành một trung đội dân quân có ba tiểu đội trực chiến. Sau khi có quyết định chính thức của xã và cơ quan quân sự ta sẽ tổ chức lễ ra mắt và thực hiện nhiệm vụ ngay, tình hình cấp bách lắm rồi!
            Trưởng công an làng Hạ vội lên tiếng:
            - Cần phải loại bỏ những thanh niên chậm tiến, những đứa hèn nhát ra khỏi danh sách…
            - Đúng… cần những đoàn viên thanh niên ưu tú vào trong đội hình chiến đấu, đây là một nhiệm vụ vinh dự và thiêng liêng. Nếu làng Hạ không đủ người thì ta huy động làng Thượng và xóm Mới! - Chủ tịch Khuông lại lên tiếng.
            - Không cần đâu ạ! Làng Hạ vẫn đảm bảo quân số đủ thành lập trung đội dân quân trực chiến. Chỉ có điều là cần có ba nam giới, biên chế vào ba tiêu đội để họ canh gác ban đêm ở khu Đồi Ma. Đám con gái hay sợ ma lắm ạ.
            Ông chủ tịch phì cười:
            - Thời đại nào rồi mà còn sợ ma?
            Ông trưởng thôn giờ mới lên tiếng hỏi:
            - Làng ta thanh niên nam đi hết rồi làm gì còn ba thằng để vào dân quân?
            - Thưa bác! - Chị Tình giải thích: - Một là anh Hừng thọt chân không phải đi bộ đội, hai là thằng Nam đang học lớp tám thì bỏ học, ba là thằng Biên cháu bà Thêm mới sơ tán từ tỉnh về ở với bà ấy ạ! Thằng Nam rất gan lỳ, không sợ cái gì. Có lần đi đơm đó bắt cá đêm nó nằm trên cái mộ xây xi-măng giữa đồng ngủ cả đêm để giữ lờ cá. Đêm hôm mà bảo nó chuyển công văn qua bãi tha ma cũng được…
            Ông đội trưởng nhăn mặt:
            - Hai thằng thanh niên mới lớn thì chả nói làm gì. Còn thằng Hừng thọt thì không ổn.
            - Tại sao ạ?
            - Thằng này thọt chân không phải đi bộ đội nhưng nó nổi tiếng là trai gái, máu dê, vợ nó mấy lần không chịu nổi phải bỏ về bên ngoại. Cho nó vào bộ phận trực chiến cùng đám con gái tơ không khéo sau mấy tháng nó chả biến một trung đội thành hai trung đội đấy!
            Chị Tình vung tay lên quả quyết:
            - Bác khỏi lo, cháu sẽ quản chặt không cho anh ta làm bậy! Nếu dám thò ra là… cắt ngay…
            Xã đội trưởng Phạm Bản xua tay:
            - Thôi việc biên chế trung đội dân quân thường trực sẽ bàn thêm cho kỹ sau. Việc cuối cùng tôi xin nhắc cán bộ ở làng Hạ là phải hết sức cảnh giác. Làng Hạ bây giờ là trọng điểm của xã rồi, cần chú ý việc phòng gian, bảo mật. Vừa rồi ở chỗ đám truy điệu liệt sĩ tôi thấy có rất nhiều người lạ thế mà đám thanh niên trong làng cứ bô nói chuyện lấy được bao nhiêu bó lá ngụy trang cho đoàn xe quân sự qua làng, đào được bao nhiêu hầm hào tránh trú máy bay rồi ghê nhất là chúng kháo nhau tận mắt thấy những chiếc xe tăng trong của bộ đội to như thế nào khi đến giúp xưởng sửa chữa xe thiết giáp đào hầm, xây dựng lán trại…
             Chủ tịch xã Trần Khuông nghe vậy liền đập mạnh tay xuống bàn làm mấy cái chén nảy lên ngã lăn, nước đổ tung tóe:
             - Thế thì nguy hiểm, mất cảnh giác quá! Tại sao các cán bộ đội đội sản xuất, công an xóm không nhắc nhở họ?
             - Vẫn có nhắc nhở, quán triệt thường xuyên đấy nhưng khi vui chuyện thì bọn thanh niên chúng nó rất hay quên.
             - Công tác phòng gian bảo mật ở làng Hạ thế nào rồi?
             Nghe chủ tịch xã truy vấn, anh công an xóm liền lấy từ trong túi áo ngực ra một cuốn sổ bìa đen nhỏ bằng bàn tay. Anh mở sổ ra rồi đọc:
             - Những nhân vật rất khả nghi cần xác minh là… mụ Chuyên, người bên kia sông thường hay đem các loại hàng hóa vào làng bán như mắm tôm, cá khô, muối ăn. Mụ này rất hay la cà hỏi han đủ thứ chuyện xay ra trong làng. Người đáng khả nghi thứ hai là lão Vận. Lão này nhà ở bên bờ sông Phó Đáy, làm nghề quét chợ. Nhiều lần người ta trông thấy lão này chôn giấu vật gì đó ngoài bãi sông, đã đào lên kiểm tra chỉ toàn là những hạt nhãn, hạt vải. Rất có thể lão chôn giấu tài liệu, vũ khí bí mật… người đáng nghi nữa là một người đàn bà tên là Nhu. Chị này nhiều lần đang trưa nắng, giờ cao điểm vẫn mặc áo trắng đi lên cây cầu sắt. Nghi ngờ là để báo hiệu mục tiêu cho máy bay Mỹ ném bom xuống cầu. Đã theo dõi, kiểm tra, nhiều người nói chị này phát bệnh tâm thần do bị chồng bỏ…        
             Chủ tịch xã Trần Khuông kết luận:
             - Chuyện thành lập trung đội dân quân làng Hạ, chuyện nhân sự và chuyện phòng gian, bảo mật bàn đến đây thôi. Bây giờ tôi phải về trụ sở để báo cáo đồng chí bí thư. Xã đội trưởng Bản sẽ bàn thêm với cô Tình về tổ chức biên chế đơn vị dân quân. Khi nào có quyết định thành lập chính thức, chúng ta sẽ tổ chức buổi ra mắt thật trọng thể, hiểu chưa?
             Nói xong, chủ tịch xã Trần Khuông xốc lại chiếc xà-cột làm bằng da, đeo chiếc đài Xiêng-mao qua vai rồi bước ra cửa. Ông Đạt và anh công an xóm cũng bước ra ngoài sân để cho anh xã đội trưởng và cô bí thư chi đoàn bàn thêm. Ông Đạt dặn anh công an xóm chú tâm tìm sẵn lấy một con chó. Buổi ra mắt thành lập trung đội dân quân trực chiến thế nào cũng cần đến nó…
                                                            
           (còn nữa)                                                                    Hà Nội, 11-2014

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2015

Truyện dài TRĂNG LẠNH (phần 2)

               


         TRĂNG LẠNH
         Truyện dài của Trọng Bảo


          Chị Nhân đến nhà anh Nghĩa thì gần như cả làng Hạ đã có mặt tại đấy. Chị lách qua đám trẻ con đứng lố nhố ngoài cổng vào trong sân. Trong ngôi nhà tre lợp lá cọ cũ kỹ là đám họ hàng thân thích của liệt sĩ đang gào khóc. Bà Thêm-mẹ anh Nghĩa đang lăn lộn giữa nhà. Tóc tai bà rũ rượi. Bà quỳ dưới đất, vừa đập hai bàn tay xuống nền nhà vừa nói:
          - Ông trời ơi là ông trời! Cảnh nhà tôi đã mẹ góa, con côi thế này sao ông còn nỡ bắt nốt thằng con của tôi đi thế trời ơi là trời?
          Ông Đạt-đội trưởng đội sản xuất làng Hạ an ủi:
          - Bà ơi! Anh Nghĩa đi chiến đấu hy sinh vì nước, vì dân, không phải là do ông trời bắt đâu bà ạ!
          Bà Thêm không nghe lời ông đội trưởng. Bà vẫn cứ vừa gào khóc vừa oán trời, hận đất. Tiếng khóc của bà mỗi lúc một thêm thê thảm. Ông Đạt đành mặc kệ bà và quay ra ngoài sân. Nhìn thấy chị Nhân ông hỏi ngay:
          - Chi đoàn thanh niên đi đâu hết rồi?
          - Chúng cháu đây ạ! - Chị Tình, bí thư chi đoàn làng Hạ đang đứng ở góc sân vội lên tiếng. Ông Đạt ra lệnh:
          - Chi đoàn tổ chức làm rạp để chuẩn bị đón các đoàn đại biểu đến viếng liệt sĩ. Cử ngay mấy cô cậu làm nhiệm vụ lễ tân, đun nước, đón khách rõ chưa?
          - Vâng ạ!
          Chị Tình đáp và lập tức gọi đám thanh niên làng Hạ đến phân công đẵn tre, chặt lá cọ để làm rạp. Hai thằng thanh niên choai choai ông hai gốc cau ở góc sân nhoài người lên. Một loáng chúng đã néo được hai cây tre lên hai thân cây cau gác qua sân sang mái nhà. Đoạn chúng lao cây que lên để làm rạp. Đám con gái cặp lá cọ đưa lên che. Cái rạp dựng xong làm căn nhà đã tối lại thêm tối, chỉ nghe tiếng kêu khóc vọng ra mà chẳng thấy rõ mặt người. Nhà bà Thêm chỉ có hai mẹ con. Anh Nghĩa là con duy nhất thuộc diện tạm hoãn đi bộ đội. Bố anh là du kích bị Tây bắn chết trong trận càn “chim giẽ giun” lên vùng trung du. Khi bố chết anh vẫn còn đỏ hỏn mẹ địu đi tản cư chạy giặc mãi tận vùng Yên Sơn, Tuyên Quang. Học hết cấp ba, anh Nghĩa viết đơn bằng máu xung phong nhập ngũ. Bà Thêm khóc hết nước mắt can ngăn nhưng ý chí của anh không lay chuyển. Anh giấu mẹ cái giấy báo đi du học nước ngoài tại Liên-xô vì được ưu tiên là con liệt sĩ. Hôm anh lên đường đột nhiên có con chim lợn kêu eng éc ngay sau nhà khiến bà Thêm càng thêm lo lắng. Ngày nào bà cũng thắp nhang cầu trời khấn phật, gọi vong linh ông bà tổ tiên và chồng phù hộ cho con tránh được hòn tên, mũi đạn nơi sa trường. Vậy mà những lời khẩn cầu của bà đã không linh nghiệm, anh Nghĩa vẫn chết như bao đồng đội khác. Anh chết vì trúng bom ở khu bốn khi đang trên đường vào mặt trận. Nếu tính đúng ra thì anh chưa đủ một tuổi quân đã đủ tuổi liệt sĩ rồi.
          Tiếng khóc và tiếng kể lể thê thảm của bà Thêm khiến dân làng Hạ ai cũng bùi ngùi xúc động.
          Ông Đạt vẫn oang oang giữa nhà đám. Ông quát đuổi lũ trẻ con về đưa nhau đi sơ tán lên rừng đề phòng máy bay Mỹ vì sắp đến giờ cao điểm. Ông giục bọn thanh niên đun nước, đón khách, khênh vòng hoa. Những vòng hoa đem viếng tự làm bằng đủ các loại hoa rừng, hoa dâm bụt, hoa cúc dại mọc ở các bờ rào trong làng, bờ mương, ven đồi.
           Chị Nhân và cái Liên chịu trách nhiệm đun nước uống ở phía sau nhà. Trời lạnh nên ít người uống nước. Các đại biểu ban ngành đoàn thể đến viếng, chia buồn rất nhanh rồi đi ngay. Họ còn lắm việc và cũng ngại ở chỗ đám tang đông người khi tiếng tàu bay của giặc Mỹ đã ầm ì vọng đến. Chỉ có người làng Hạ là luôn có mặt bên tang chủ. Làng Hạ bao đời nay vẫn thế. Những lúc hoạn nạn, khó khăn vẫn xúm quanh, nhẫn nại chia xẻ với nhau. Họ sẽ còn ở nhà bà Thêm cho đến khi làm xong lễ truy điệu cho liệt sĩ Hà Quang Nghĩa.
           Khi các phích nước sôi đã được đổ đầy, nồi nước vối đã khênh vào để ở góc sân cho nguội, cái Liên liền kéo chị Nhân ra mé đồi phía xa ngồi nói chuyện. Nó bảo có một chuyện rất quan trọng. Chị Nhân và cái Liên rất thân nhau. Nhà chị và nhà Liên gần nhau, chỉ cách một rặng rào cây dâm bụt. Hầu như tối nào cái Liên cũng sang nhà chị Nhân ngủ chung. Đêm trăng hai chị em ngồi ở cầu ao cùng tán gẫu, ngắm chị hằng, nghe hết chương trình “đọc truyện đêm khuya” từ  chiếc loa truyền thanh trên ngọn cây gạo cổng nhà ông đội trưởng thì mới đi ngủ. Cái Liên cùng lớp với thằng Thứ. Hai đứa vừa mới kết thúc năm học cuối cấp ba xong.  
           Hai chị em ra đến bờ con mương nước mé đồi. Cái Liên cứ ấp úng mãi mới dám nói:
           - Có lẽ… em… bị… rồi chị ạ!
           - Bị cái gì?
           - Thì… - Cái Liên cúi mặt nhìn vội xuống bụng mình. Chị Nhân giật mình hỏi lại:
           - Thế là thế nào?
           - Thì em bị… chậm mấy ngày rồi…
           - Nhưng… làm sao lại thế hả?
           - Là tại em cả…
           - Thế với thằng nào?
           - Thì còn ai vào đấy nữa! Hắn là em họ xa đằng nhà chị đấy!
            Cái Liên ậm ừ lúng búng trong miệng. Chị Nhân biết ngay cái Liên đang nhắc đến ai. Đó chính là thằng Xuyên cùng học một lớp với cái Liên và cả thằng Thứ nữa. Hai đứa đã có tình ý với nhau từ lâu rồi. Chị Nhân ngơ ngác:
            - Thằng Xuyên cũng đã lên đường nhập ngũ từ hôm kia rồi còn gì?
            - Thì đúng vậy! Đêm trước khi lên đường hắn còn năn nỉ em “kỷ niệm” cho hắn thêm một lần nữa nhưng em không cho. Em nghe nói người sắp đi xa mà làm chuyện ấy là thường hay gặp điều sui rủi lắm.
            Con ranh này tý tuổi mà biết nhiều chuyện ghê. Nghe nó nói chị chợt nhớ tới chuyện thằng thứ sáng sớm nay ngoài ruộng bèo hoa dâu. Chị hơi đỏ mặt và chợt thấy rân rân trên ngực. Cái Liên lại hỏi:
            - Hắn đi xa rồi! Em biết làm sao bây giờ?
            - Mày liều lĩnh quá em ạ! Nhỡ mà vác bụng lên thì chết với chi đoàn, với đội sản xuất đấy!
            Cái Liên ngơ ngác nhìn chị Nhân:
            - Của… em, em muốn làm gì thì làm, có liên quan gì đến chi đoàn, đến đội sản xuất?
            Chị Nhân cốc nhẹ vào đầu cái Liên:
            - Mày còn nhớ chuyện bà Quỳnh ngày xưa chửa hoang không! Hồi ấy tao với mày còn bé tối nào chả kéo nhau ra sân kho hợp tác nghe đội sản xuất, công an xã, công an xóm họp kiểm điểm, tra hỏi bà ấy vì sao chồng chết hai năm rồi mà lại đẻ ra một thằng con út. Họ truy vấn bà ấy ngủ với ai để bắt đi cải tạo đấy.
            - Nhưng bây giờ khác rồi chị ạ!
            - Khác là khác thế nào! Nhưng mà tại sao bà bí thư chi đoàn quán triệt mãi về lẽ sống cao đẹp, thuyết trình về “tình yêu trong sáng” tại sao mày vẫn làm bậy như thế hả?
            - Thì em cũng nhớ lời của bà bí thư chi đoàn chúng ta đấy chứ! Nhưng hắn ta thì lại không chịu nhớ chị ạ!
            Cái Liên im lặng một lát rồi kể tiếp:
            - Nguyên nhân tại là cái hôm bộ đội về chiếu phục vụ dân làng Hạ bộ phim “Những kẻ báo thù không bao giờ bị bắt” đấy chị ạ. Hôm ấy đang xem phim thì trời đổ mưa. Bãi chiếu phim trong rừng lá cọ nên tiếng mưa rơi trên lá ào ào. Mọi người vội vàng lấy áo mưa ra che, trùm kín đầu để xem phim. Mấy tháng mới có một tối phim, lại hay đến thế. Không ai bỏ về, cũng chẳng ai biết người ngồi bên cạnh làm gì nữa vì ai cũng ni-lông trùm kín người. Em và hắn che chung một miếng ni-lông đen. Hai đứa ngồi sát vào nhau. Mỗi đứa dùng một tay giữ một góc ni-lông nâng lên cho khỏi ướt. Đang xem phim hay tự dưng hắn đặt tay lên đùi em. Em gạt tay hắn ra được một lúc hắn lại lặp lại. Khi hắn luồn được tay vào bụng thì em ngồi im, người cứng hết lại vì sợ, không phản ứng gì được nữa… Thế là hắn được đà càng lấn tới. Suốt buổi chiếu phim hôm ấy em không còn biết trên màn ảnh chuyện gì đang diễn ra nữa chị ạ!
            Cái Liên thôi không kể tiếp nữa. Chị Nhân lén nuốt khan một cái. Chị rất muốn nghe tiếp câu chuyện của nó nhưng không dám đề nghị. Mãi sau cái Liên mới kể tiếp là ngay sau buổi chiếu phim ấy hai đứa đã đưa nhau lên đồi sim đến gần sáng mới lén về nhà… Thảo nào sau buổi chiếu bộ phim “Những kẻ báo thù không bao giờ bị bắt” ấy chờ mãi không thấy nó về ngủ chung? - Chị Nhân nghĩ thầm. Hôm ấy chị mệt nên không đi xem phim.
            Cái Liên đang định kể tiếp câu chuyện thì trong nhà bà Thêm có tiếng ông đội trưởng oang oang kêu gọi toàn thể xã viên đội sản xuất làng Hạ hãy biến đau thương thành hành động cách mạng, ra sức thi đua tăng gia sản xuất, xây dựng hậu phương lớn vững mạnh chi viện cho tiền truyến lớn đánh giặc. Vậy là lễ viếng và truy điệu liệt sĩ xong rồi. Chị Nhân vội kéo cái Liên chạy vào nhà bà Thêm để cùng chi đoàn dỡ rạp thu dọn nhà cửa. Đến đầu nhà bà Thêm, cái Liên níu chị lại nói nhỏ: “Em không sợ gì cả nhưng nếu có thế nào thì chị cũng phải bảo vệ em nhé!”. Chị Nhân gật đầu. Cái Liên khẽ mỉm cười rồi ghé tai chị thì thầm: “Lúc nào em kể tiếp chuyện của chúng em cho chị nghe!”… Chị Nhân làm bộ nghiêm nét mặt. Hai người cùng lấy lại dáng vẻ nghiêm trang trước khi bước vào sân nhà bà Thêm.                                                            
             (còn nữa)                                                                        Hà Nội, 11-2014  

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

Truyện dài TRĂNG LẠNH (phần 1)

                     


            TRĂNG LẠNH
              Truyện dài của Trọng Bảo

           Đã cuối mùa thu.
           Trăng cuối tháng vẹt lõm như một chiếc liềm cùn cũ kỹ.
           Cánh đồng làng Hạ đẫm ướt sương đêm. Sắp sáng rồi. Tiếng gã gáy đổ dồn trong xóm nhỏ. Phía đông chân trời đã hừng lên màu sáng nhạt. Một trận gió lạnh ùa về trên cánh đồng làng. Sương mù ẩm ướt bay tạt qua mặt người. Chị Nhân quấn lại chiếc khăn voan mỏng quanh cổ. Đoạn chị cúi xuống sắn cao ống quần. Có tiếng chân người bước nhẹ phía sau. Không ngoảnh lại nhưng chị biết chắc đó là thằng Thứ. Sáng nay theo sự phân công của bí thư chi đoàn nó và chị sẽ cùng đi chăm sóc mấy ruộng thả bèo hoa dâu. Chiều hôm trước những ruộng bèo hoa dâu được bón bằng một lớp tro bếp. Sáng hôm sau phải dùng sào nứa dập cho tro bếp trên cánh bèo rơi xuống nước thì bèo mới sống được. Chị Nhân đang định quặc thằng Thứ về việc ra ruộng muộn thì nó đã đến sát ngay sau lưng. Khi chị Nhân chưa kịp đứng thẳng người lên thì thằng Thứ đã áp sát ngay bên. Hơi thở nó gấp gáp, hổn hển. Chị Nhân vừa định hỏi thì thằng Thứ đã vòng tay qua lưng ôm lấy hai bầu vú của chị bóp chặt. Chị Nhân giật mình hoảng hốt đứng thẳng người dậy. Thằng Thứ vẫn ôm chặt lấy ngực chị. Chị Nhân lúng túng vừa gỡ bàn tay chắc khỏe của thằng Thứ vừa hét lên:
           - Đồ khốn nạn! Mày làm cái trò gì thế?
           - Chị ơi… em… em…
           - Mày… mày…
           Chị Nhân thấy tức nghẹn ở cổ. Chị không dám quát mắng thằng Thứ ầm ĩ nữa vì phía trên con đường ra cánh đồng đã thấp thoáng có bóng mấy người đang vác cày bừa đi làm sớm. Chuyện tày đình thế này mà ai nhìn thấy, nghe thấy thì chết. Chị bức bối vớ cái sào nứa rồi lội ào ào xuống ruộng bèo hoa dâu. Thằng Thứ cũng vội vàng nhặt cây sào bước xuống ruộng để dập bèo. Vừa làm nó vừa ấp úng nói:
           - Em.. em xin lỗi chị… Sáng nay em phải lên đường nhập ngũ rồi… Chị… chị đừng báo cáo với chi đoàn chuyện lúc nãy nhé. Em cầu xin chị đấy!
            Chị Nhân vẫn chưa hết cơn bàng hoàng thảng thốt vì hành động táo tợn, bất ngờ của thằng Thứ. Chị càng thêm bất ngờ vì tin thằng Thứ đi bộ đội gấp thế. Hóa ra nó được gọi bổ sung nhập ngũ vì đợt giao quân hôm qua trong xã có một thằng trốn đi lính và hai thằng khi lên đến huyện đội tập trung khám lại sức khỏe thì bị loại. Miền nam đang chuẩn bị cho đợt tổng tiến công vào đầu mùa Xuân năm tới cho nên cần nhiều binh lực. Vì thế, các địa phương miền Bắc ra sức thi đua “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Xã nào thiếu người khi giao quân hoặc có người bị loại thì lập tức gọi người khác thay thế ngay. Những thanh niên gọi nhập ngũ bổ sung thường là gấp gáp như thế, gia đình nhiều khi chẳng kịp liên hoan, chi đoàn chẳng kịp trao tặng phẩm cho họ trước lúc lên đường. Thằng Thứ ở cùng làng lại sinh hoạt cùng chi đoàn thanh niên với chị Nhân. Nó kém chị gần hai tuổi và học sau một lớp. Tối hôm qua, nó mới được ông xã đội trưởng đem lệnh gọi hỏa tốc đến thông báo hôm nay lên đường nhập ngũ. Vậy mà nó vẫn đi làm bèo hoa dâu với chị Nhân sáng sớm hôm nay.
            Hai người dập hết mấy sào bèo hoa dâu thì trời sáng hẳn. Chị Nhân và thằng Thứ rửa chân rồi bước lên bờ ruộng. Thằng Thứ len lén nhìn chị Nhân rồi ấp úng nói:
           - Em về để chuẩn bị lên huyện tập trung…
           - Ừ… - Chị Nhân gượng gạo trả lời. Thằng Thứ lại nói:
           - Chị tha lỗi… bỏ qua cho em nhé!
           - Ừ…
            Chị Nhân cũng lúng túng. Mặt chị nóng phừng phừng khi nhớ lại chuyện lúc nãy. Thằng Thứ vẫn chưa yên lòng. Nó ngắc ngứ mãi rồi mới nói tiếp:
            - Chị ơi! Em ra đi lần này là có đi mà không có về nữa đâu chị ạ!
            Chị Nhân giật mình:
            - Tại sao lại như thế?
            - Vì… vì… dì em đi xem bói họ nói số em rồi sẽ… sẽ… “sinh bắc-tử nam”…
            - Chỉ mê tín vớ vẩn…
            - Đúng như thế chị ạ! - Thằng Thứ nói. Mặt nó buồn rười rượi. Ánh mắt nó nhìn xa xăm về phía chân trời. Mãi sau nó lại nói tiếp, giọng vẻ bùi ngùi: - Bọn bạn cùng xóm còn nói đời em sẽ không… không… biết… biết đàn bà là thế nào… nên lúc nãy em mới liều lĩnh như thế… em biết lỗi rồi, chị tha cho em nhé!
             Nói xong thằng Thứ bật khóc. Nói giơ bàn tay còn lấm bùn lên chùi mắt. Chị Nhân cũng phát hoảng. Tự dưng chị chỉ còn thấy ái ngại mà không còn giận thằng Thứ nữa. Nhưng chị cũng không biết nói thế nào để an ủi thằng Thứ. Tâm trí chị vẫn chưa thể quên được chuyện vừa xảy ra lúc nãy. Đây là chuyện lần đầu xảy ra đối với chị. Giữa lúc ấy thì phía trên con đường trồng bạch đàn có tiếng người quát rất to:
            - Những đứa nào kia! Giữa cánh đồng trống hơ trống hoác mà ăn mặc quần áo trắng toát lại không đeo vòng lá ngụy trang như thế hả. Máy bay Mỹ nó trông thấy quẳng xuống cho vài quả bom thì chết hết cả nút bây giờ…
            Đó là tiếng ông đội trưởng sản xuất làng Hạ. Thằng Thứ vội bảo chị Nhân:
            - Thôi em về trước để kịp lên trên huyện tập trung đây! Chị ở lại mạnh khỏe nhé…
            Nói xong nó liền ném cái sào nứa  dùng dập bèo hoa dâu xuống bờ ruộng rồi co giò chạy về phía làng. Chị Nhân vội gọi với theo:
            - Thứ ơi! Nếu có vào trong Nam chiến đấu mà gặp anh Luận nhớ nói là chị vẫn…
            - Vâng! Em nhớ rồi ạ.
            Tiếng thằng Thứ từ trên đường vọng xuống cánh đồng. Nghe giọng nó vang lảnh lói nhưng có vẻ phấn chấn hơn. Mặt nước ruộng rung rinh. Chị Nhân bước dọc bờ con mương nước nhỏ. Chị chợt rùng mình vì những cơn gió lạnh đầu mùa. Chị nhìn xuống ngực và giật mình khi thấy dấu bàn tay của thằng Thứ còn hằn trên màu áo trắng. Chị vội lội xuống mương vốc bùi quệt lên áo. Chị đi làm đồng quần áo vấy bẩn bùn là bình thường còn để thế này mà về làng ai nhìn thấy thì dễ sinh lắm chuyện. Chị Nhân là một người con gái đẹp vào loại nhất nhì của làng Hạ. Gần hai mươi tuổi rồi chị chưa một lần đụng chạm với đàn ông. Khi anh Luận người yêu của chị lên đường nhập ngũ hai người cũng chỉ dám cầm tay nhau thôi. Vậy mà lúc nãy thằng Thứ dám bóp ngực chị thật chặt, thật mạnh. Nó liều lĩnh quá, bậy quá. Nghĩ vậy nhưng chị không còn thấy ghét nó nữa. Chị thấy thương nó. Biết đâu lời nó nói đúng. Nó sẽ không trở về và chị cũng không còn gặp lại nó nữa. Chị chợt nhớ tới anh Luận. Năm ngoái cũng vào một đêm về sáng cuối mùa thu như năm nay chị và anh Luận cùng ra đồng chăm sóc ruộng bèo hoa dâu của chi đoàn. Chị cố tình đi sát bên anh, chạm vào vai anh. Khi cúi xuống dùng sào dập lên mặt ruộng bèo hoa dâu chị nhiều lần quay sang phía anh cố ý để ngực áo trễ xuống, thấp thoáng phô khuôn ngực trắng hồng tròn trịa nở nang. Vậy mà anh không dám một lần liều lĩnh, mạnh mẽ như thằng Thứ hôm nay. Đêm trước khi anh Luận lên đường nhập ngũ, hai người đã ngồi bên nhau trên đồi sim sau nhà. Trăng cuối tháng trắng xanh và lạnh. Chị ngả đầu vào vai anh, nghe được cả tiếng hơi thở của anh dồn dập. Vậy mà anh cũng chỉ dám cầm tay chị. Hôm sau anh lên đường rồi, chị mong chờ một điều gì đó xa xôi. Chiến tranh chẳng biết thế nào, người ra đi thì nhiều, người trở về thì ít. Mà người về thì cụt què, tàn tạ. Có anh thương binh trở về làng đám con gái vây quanh nhưng cú thờ ơ không màng đến. Hình như chiến tranh đã cướp mất chức năng đàn ông của anh ấy rồi. Nhiều người làng rỉ tai nhau nói thế. Năm tháng chiến tranh, làng vắng bóng đàn ông. Đám con gái, đàn bà phây phây, tràn đầy sinh lực suốt ngày đi cày, đi cấy, gánh phân, đổ ải, tối đến túm tụm ngồi ở sân kho hợp tác xã hò hát, ngắm trăng suông, khuya mới về ngủ, sáng mai lại ra đồng. Làm lụng vất vả, ăn uống kham khổ nhưng họ vẫn cứ nảy nở, tròn đầy. Trong những câu chuyện của họ giữa đêm trăng lạnh có bao nỗi ước ao, bao điều thèm muốn, mong chờ những điều bí ẩn.
            Chị Nhân về đến nhà thì nghe tiếng kêu trời, gọi đất thất thanh, tiếng khóc ời ời ở phía cuối xóm. Chị chạy vào buồng thay vội cái áo trắng có dấu bàn tay của thằng Thứ. Chị tìm miếng xà phòng 702 xát qua quýt đoạn cho vào cái chậu thau ngâm rồi chạy ra cổng. Tiếng người làng nháo nhác bảo nhau: “Xã vừa xuống báo tử anh Nghĩa đấy!”. Đúng là tiếng kêu khóc là từ phía nhà anh Nghĩa ở cuối làng. Chị Nhân thấy hơi run run. Anh Nghĩa cùng đi bộ đội với anh Luận, người yêu của chị. Mới tròn một năm đi xa vậy mà anh ấy đã thành liệt sĩ rồi.
            Chị Nhân bước thập thõm trên con đường làng đầy vết chân trâu. Chị đi về phía cuối làng Hạ. Người làng cũng đang kéo nhau đi về phía ấy. Mọi người đến để an ủi, xẻ chia nỗi đau với người thân anh Nghĩa. Đó là một việc vẫn thường diễn ra trong làng những năm tháng chiến tranh.
             Gió lạnh tiếp tục tràn về xóa nốt những ngày ấm áp cuối mùa thu…
                                                            
            (còn nữa)                                              Hà Nội, 11-2014
          

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2015

BỐN MƯƠI NĂM NHẬP NGŨ - thơ

BỐN MƯƠI NĂM NHẬP NGŨ
             Kỷ niệm 40 năm ngày nhập ngũ 25-2-1975

Bốn mươi năm từ mùa xuân ấy
Lũ chúng tôi khoác áo chiến binh
Cùng giã từ cái tuổi học sinh
Đi theo chặng quân hành dằng dặc.

Đêm Đại Từ ngồi ôm súng gác
Nghe rì rào tiếng suối rừng xa
Những thao trường Tân Thái, Lục Ba
Giọt mồ hôi đẫm trên báng súng.

Quên sao được những ngày lao động
Giữa núi rừng Tây Bắc thẳm xa,
Vắt Tà De cắn nát thịt da
Ve Khe Hiền hút bao máu lính.

Khi xuôi bè trên dòng suối lạnh
Vượt thác ghềnh nguy hiểm, gian lao,
Gái nông trường ánh mắt xôn xao
Nước suối Ngòi Lao trong xanh quá!        

Hà Giang chai sạn tay phá đá
Mở con đường xuyên giữa đại ngàn
Đói run người năm tháng gian nan
Măng đắng ơi sao mà đắng thế?

Chiến tranh lại rập rình hai phía
Chúng tôi lên trấn giữ Cao Bằng
Một mùa xuân lạnh lẽo mù giăng
Bao bè bạn không về được nữa.

Nhớ Sóc Giang bốn bề đạn lửa
Chập trùng là máu đổ, xương rơi
Những người bạn thân thiết của tôi
Đã gục chết ở nơi biên ải…

Ngày giặc rút chúng tôi trở lại
Nhặt tìm từng chút thịt xương tàn,
Ngày nào cùng nhập ngũ hân hoan
Giờ tôi-bạn xa rồi, cách biệt.

Bốn mươi năm bạn không đi hết
Con đường quân ngũ của chúng mình!

                    Hà Nội, 24/2/2015
TRỌNG BẢO

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2015
      
Năm cũ đi qua bao nhiêu trăn trở
Biển Đông giặc lăm le nhòm ngó
Đợi ta sơ hở để ra tay.
Đất liền chuyện cơm áo hàng ngày
Những số phận éo le, đói khổ
Khi quan tham nhà cao, biệt thự
Vẫn ngang nhiên chiếm đất, lấn rừng.
Ở biên thùy người lính kiên trung
Vẫn chắc súng ngày đêm cảnh giác...
Năm mới đến mong đất trời sẽ khác
Hoa đẹp hơn, non nước đẹp hơn
Bởt đi nhiều những bất hạnh, cô đơn
Những chuyện đời đau thương, ngang trái
Để người lính vững vàng nơi biên ải
Cho biển Đông sóng gió hiền hòa
Và mùa Xuân sẽ lại đến cùng ta
Mang lời chúc an khang ấm áp...
                         Hà Nội, 1/1/2015
                                 TB

Thứ Tư, 24 tháng 12, 2014

Kịch bản phim hoạt hình VE SẦU ĐI HỌC

 LTG: Năm ngoái, một đơn vị chuyên sản xuất phim hoạt hình Việt Nam có đặt hàng tôi viết một kịch bản phim hoạt hình dành cho thiếu nhi. Kịch bản phim này tôi đã gửi cho họ. Nhưng đến nay, sau hơn một năm vẫn chưa được dựng thành phim, có lẽ là họ đã xếp xó vào kho lưu trữ rồi. Vì thế, tôi đưa lên blog để cho đỡ phí công đã cặm cụi viết lách bao ngày (Trọng Bảo).
  
Ve sầu đi học
 Kịch bản phim hoạt hình của Trọng Bảo
             
1
            Một khu vườn sum xuê cây lá.
          Những cái cây cổ thụ vươn cành lên trời cao. Dưới gốc cây là hoa cỏ xanh tươi. Một dòng suối nhỏ róc rách chảy ngang qua khu vườn càng làm cho phong cảnh thêm tươi đẹp. Trên những cái cây sum xuê cành lá ấy là nơi ở của muôn loài. Cuộc sống của muôn loài luôn luôn sôi động.
          Chiếm vị trí cao nhất trên cành một cái cây to là lũ chim rừng. Những cái tổ chim lù sù ngất ngưởng tít trên đầu cành lúc nào cũng có những chú chim non tham ăn, đói khát. Lũ chim non luôn luôn há cái miệng rộng ngoác to kêu la inh ỏi đòi ăn suốt ngày.
          Ở giữa những cành cây ấy là các gia đình ve sầu.
          Những ngôi nhà nho nhỏ xinh xắn nằm ẩn vào các hốc lõm của thân cây. Trong khi bố mẹ đang hối hả làm việc thì lũ ve sầu con chỉ mải mê nô đùa, quậy phá.
          Tại một gia đình nhà ve. Có một chú ve sầu con đang tuổi lớn, ham chơi, rất nghịch. Chú ve con này có đôi mắt to sáng, rất hiếu động. Chẳng mấy khi thấy chú ở yên trong nhà. Suốt ngày chú cứ đi ra, đi vào, đập cánh, khua chân múa tay.
          Rồi chú ve con này la cà, lêu lổng đi lang thang khắp khu vườn.
          Hết dùng gậy chọc thằng bé con nhà chị ong khóc thét, chú ve sầu con lại dùng súng cao su bắn trúng đầu cô bé con nhà anh chị bướm trắng đang tập múa ở cửa nhà mình. Cô bé bướm trắng ngã lăn ra đất bẩn hết cả cái váy mới tinh. Cô bé bướm trắng khóc nức nở.

 2
          Ở tận dưới gốc cái cây cổ thụ là những ngôi nhà của lũ dế mèn.
          Ngôi nhà của anh dế mèn khá kiên cố và ấm áp. Trong nhà chất đầy những bó cỏ xanh non. Khoảnh sân nhà nhỏ có những khóm hoa. Một hàng rào bằng cây xanh bao quanh ngôi nhà của dế mèn.
           Phía trước ngôi nhà của dế mèn là một bãi cỏ rộng. Trên bãi cỏ có những bông hoa nhỏ li ti, nhiều màu sắc. Những ông bố mẹ dế đang hì hục lao động trên bãi cỏ. Họ trồng và cắt, đem những lá cỏ xanh non về tổ làm thức ăn dự trữ.
          Có một thằng dế con cũng rất nghịch ngợm. Chú dế con này có hai thanh gươm bằng gỗ được đẽo gọt nham nhở. Chú dế con rất thích múa gươm, tập võ trước cửa nhà. Chú ta lộn người đâm chém loạn xạ làm những cái lá cây rơi xuống đất lả tả. Vừa vung tay múa hai thanh gươm gỗ, chú vừa hò hét vẻ rất hứng khởi: “Chém này… chém… này… chém…”.
          Khi chú dế mèn con đang co chân tung trưởng rất hoành tráng thì một làn gió mạnh thổi qua. Lá cây khô bị cuốn tung lên mù mịt. Chú dế mèn con bị mất đà loạng choạng ngã lăn quay ra đất. Hai thanh gươm bằng gỗ văng ra xa lăn long lóc. Chú dế mèn con lồm cồm ngồi dậy. Giữa lúc chú ta đang xuýt xoa nhăn nhó vì đau thì nghe có tiếng cười “he… he…he…” ngay ở phía ngoài hàng rào.
          Thằng dế mèn con liền nhỏm dậy quát to:
          - Ai dám cười tôi thế hả?
          - Tôi đây! Tôi là ve sầu đây…
           Chú ve sầu con nhô hẳn người lên khỏi hàng rào và vẫn cười nhăn nhở. Nhìn thấy bạn dế con liền dịu giọng:
           - Ve con hả! Vào nhà đi!
           - Không vào đâu! Chúng mình đi chơi đi!
           - Có trò gì vui không?
           - Có… có… vườn ổi nhà thầy Cóc chín thơm lắm. Tụi mình đến kiếm một quả đi!
           - Vậy thì đi ngay thôi!
            Chú dế mèn con liền vơ vội hai thanh gươm gỗ rồi theo ve sầu con đi ngay.


3
           Tại nhà của ve sầu buổi tối.
          Bố mẹ ve sầu đang tiếp chị ong và anh bướm. Họ đến để phàn nàn vì chuyện ve con trêu chọc các con nhỏ của họ. Ve con cúi mặt ngượng đứng sau lưng mẹ.
          Khi những người khách không mời mà đến đã ra về, bố ve sầu mới lên tiếng bảo ve con:
          - Con phải bớt nghịch ngợm đi. Mà ngày mai con phải đi học thôi!
          - Học để làm gì ạ?
          Ve con ngơ ngác hỏi lại. Bố giải thích:
          - Học để biết chữ con ạ!
          Mẹ ve sầu thì âu yếm:
          - Mẹ đã mua cho con cuốn vở, cây bút và cả một cái cặp sách thật đẹp rồi đây này!
          Ve sầu con lo lắng hỏi thêm:
          - Nhưng biết chữ rồi để làm gì ạ?
           Bố ve sầu xoa đầu con bảo:
           - Học để làm người! Có chữ thì mới nên người con ạ!
           Ve con vẫn băn khoăn:
           - Nhưng… đi học con có được đi chơi nữa không ạ?
           - Có chứ! Ở trường cũng có nhiều trò chơi vui lắm đấy!
           Bố ve nói thêm. Ve con có vẻ yên tâm.
          Thế là ve sầu con chuẩn bị ngày mai đi học. Trong đầu nó hình dung ở trường chỉ toàn là những trò chơi thú vị.

 4
           Buổi sáng hôm sau.
          Ông mặt trời đỏ rực nhô lên. Ánh nắng long lanh rơi xuống cành cây. Chú ve con vẫn ngủ ngon giấc trên giường. Mẹ ve phải gọi mãi ve con mới tỉnh giấc. Nó uể oải ngồi dậy dịu mắt. Mẹ ve sầu giục nó chuẩn bị đi học. Nó mới chợt nhớ ra rồi kêu toáng lên:
          - Đúng rồi! Hôm nay mình phải đi học thôi!
           Ve sầu quáng quàng ăn sáng rồi vội vàng đeo cặp sách để đến lớp. Nó tụt nhanh xuống đất đi theo con đường nhỏ giữa khu vườn.
           Đang cắm cúi bước đi, ve con chợt nghe tiếng gọi giật:
          - Này! Đi đâu mà vội vã thế?
          Nghe tiếng gọi, ve sầu con nhớn nhác nhìn quanh. Thì ra đó là dế mèn con thằng bạn thân của nó. Thằng dế mèn con đang hùng hổ khua hai thanh gươm gỗ chém lia lịa trong đám cỏ non bên đường vẻ rất thích thú. Trông nó giống như một võ sĩ thực sự. Ve sầu con làm loa tay gào to:
          - Tớ đang đi học đây!
          Dế con ngơ ngác:
          - Học để làm cái gì thế! Mà tại sao lại phải học chứ?
          - Thì… học là để biết chữ, là để làm người. Bố mẹ tớ bảo thế. Mà cậu cũng phải đi học đi thôi…
          Dế con nhìn ve sầu đeo cặp sách băn khoăn:
          - Nhưng mà bây giờ tớ không có sách vở. Cậu đợi chờ để tớ chạy về nhà lấy nhé!
          - Ừ… cậu nhanh nhanh lên nhé không thầy dạy cho bọn ong, kiến, chuồn chuồn hết mất chữ đấy! 
           Dế mèn con vứt hai thanh kiếm gỗ rồi chạy vội về nhà. Hai chân dế mèn con cuống quýt. Bóng nó khuất dần trên lối nhỏ giữa khu vườn.

 5
          Ve sầu con đứng chờ dế con.
          Mặt trời đã nhô lên cao. Ánh nắng xuyên qua tán lá cây trong vườn nhảy nhót lung linh trên mặt đất. Dòng suối giữa vườn chảy trong veo.
          Chờ mãi chả thấy dế con ra, ve con lẩm bẩm: “Lại mải đi chơi ở đâu rồi!”. Nói đoạn, ve con đành một mình đi đến lớp trước. Nó bước đi hấp tấp. Cái cặp sách lạch xạch bên hông.
          Lớp học chữ nằm dưới tán một cái cây to.
          Trong lớp, các bạn kiến, chuồn chuồn, bướm, ong mật, bọ dừa… đang chăm chú nghe thầy giáo Cóc giảng bài, dạy viết chữ. Trong những cuốn vở của họ đã ghi được nhiều con chữ. Những con chữ thật đẹp và lạ mắt. Ve sâu ngơ ngác nhìn các bạn ngồi xung quanh. Nó lấy vở và bút ra. Bắt chước các bạn nó cũng định viết nhưng không biết viết cái gì trên trang vở mới trắng tinh.
          Thầy giáo Cóc đã dạy đến chữ “e”. Ve sầu con vội vàng ghi luôn chữ “e” vào vở. Một chữ “e” to tướng, nghuệch ngoạc. Nó tô thật đậm thêm chữ “e” rồi gập vở lại. Nó hí hửng chạy luôn ra khỏi lớp.
          Vừa chạy ve sầu con vừa reo to:
          - A… a… mình… đã… biết… chữ… biết… chữ… rồi… mình… đã… thành… người rồi…
          Trong lúc đó dế con mới cầm cây bút chì và một cuốn vở nhàu nát hổn hển chạy đến. Nhìn thấy ve con đang chạy ngược ra, dế con vừa thở vừa hỏi dồn:
          - Cậu đã học được chữ chưa?
          - Được… được rồi! Chữ hay lắm!
          - Thế hả! Cậu đưa cho tớ xem với?
          Ve con lắc đầu:
          - Không cho cậu xem đâu! Đây là cái chữ của tớ học được chứ, cho cậu xem để cậu lấy mất cái chữ của tớ à!
          Dế con ngẩn người vẻ lo lắng. Ve sầu an ủi:
          - Cậu vào lớp ngay đi, thầy giáo Cóc vẫn còn đang còn dạy chữ đấy, thầy vẫn còn nhiều chữ lắm!
          Dế con dặn bạn:
          - Thế thì cậu đứng ở đây chờ mình với nhé! Học được chữ là mình sẽ lập tức quay ra ngay. Chúng mình sẽ lại cùng nhau đi chơi thoả thích nhé!
          Ve sầu gật đầu. Dế con len lén bước vào lớp học. Nó ngồi ghé xuống cái ghế cuối lớp rồi ẩy thằng kiến con lùi vào tận góc lớp.
          Lúc này thầy giáo Cóc đã dạy đến chữ “i”. Cây thước trên tay thầy giáo Cóc chỉ vào chữ “i” viết trên bảng và đọc để cả lớp đọc theo. Bọn học trò vừa tập đọc theo thầy vừa nắn nót viết chữ “i” vào vở của mình. Dế con cũng vội vàng ghi ngay lấy chữ “i” vào cuốn vở nhàu nát đem theo.
           Ghi được chữ “i” giống như cái chữ của thầy Cóc viết trên bảng dế con tỏ vẻ thích lắm. Nó lao luôn ra khỏi lớp phấn khởi gào to:
          - Biết…biết… chữ… mình đã… biết…. chữ rồi…!
  
6
          Dế con gặp lại ve con ở bãi cỏ cạnh dòng suối.
          Cả hai vô cùng phấn khích vì đã biết chữ. Hoá ra việc học chữ cũng chả khó khăn gì đối với chúng. Ve sầu con và dế con mở hai cuốn vở ra so đọ với nhau. Hai đứa cãi nhau ỏm tỏi. Ve sầu con bảo:
          - Chữ “e” của tớ rất đẹp và là chữ quan trọng nhất!
          Dế con cãi lại:
          - Không đúng! Chữ “i” của tớ mới đẹp và quan trọng nhất!
           Ve sầu con gân cổ lên:
           - Chữ e quan trọng nhất!
           Dế con gào lên:
           - Là chữ i!
           - Chữ e… e… e… e… e… e… e…
           - Chữ i… i… i… i… i… i… i…
           Ve sầu con và dế con chẳng ai chịu ai. Hai đứa đỏ mặt tía tai, cãi nhau ầm ĩ cả khu vườn. Hai đứa cãi nhau to quá khiến lũ chim non tít trên cành cao cũng phải giật mình ngó xuống xem có chuyện gì xảy ra. Cãi nhau một lúc mệt quá, hai đứa ngồi phệt xuống bãi cỏ cùng thở dốc. Mãi một lúc sau ve sầu mới bảo :
           - Hai chữ mà chúng mình đã học được đều là quan trọng cả! Nhưng việc quan trọng nhất là hai đứa chúng mình đều đã biết chữ rồi, đều là người có học rồi. Bây giờ lại đi chơi thôi!
           - Đúng… đúng…
           Dế con đồng tình. Song nó chợt ngần ngừ. Nó chìa quyển vở đang cầm trên tay hỏi lại:
           - Thế chúng mình làm gì với cuốn vở này?
           Ve sầu con bảo:
           - Chúng mình đã biết chữ rồi, là người có học rồi thì cần gì đến sách vở nữa chứ! Vứt luôn đi thôi…
           Ve sầu con và dế con liền xé luôn sách vở, ném bút đi. Hai đứa tung nắm giấy vừa xé từ những cuốn vở tập viết lên trời. Những trang giấy trắng bay tung toé khắp nơi. Trang giấy có chữ “e” của ve sầu con và trang giấy có chữ “i” của dế con bay xa và rơi luôn xuống dòng suối đang chảy. Dòng nước cuồn cuộn chảy cuốn ngay những trang giấy có hai chữ cái ấy trôi đi. Những con chữ rập rờn rồi biến mất dưới làn nước chảy xiết.
           Ve sầu con và dế con kéo nhau đi khắp vườn.
           Gặp ai chúng cũng vênh mặt lên đấm bình bịch vào ngực khoe là người biết chữ, là người có học. Càng ngày chúng càng trở nên kênh kiệu và tỏ vẻ khinh người ra mặt.

 7
            Một buổi sáng xôn xao trong khu vườn của muôn loài.
            Thầy giáo Cóc dẫn đầu bọn trẻ đi trên con đường nhỏ giữa vườn. Đó là những chú kiến, chuồn chuồn, ong mật, bọ dừa, châu chấu. Cặp sách đeo trên vai, đứa nào đứa nấy mặt mày đều hớn hở, phấn khởi.
            Đoàn học sinh và thầy giáo Cóc đi qua chiếc cầu nhỏ bắn qua con suối. Cả khu vườn ồn ào. Mọi người đổ ra chào đón thầy giáo Cóc và các học sinh. Trong lúc ấy thì ve sầu con và dế con đang đùa nghịch ở bãi cỏ non ven đường. Thấy mọi người ồn ào đi qua ve sầu và dế con cũng vội chạy ra xem.
            Nhìn thấy đám bạn bè học sinh cùng lớp cũ, ve sầu con liền hỏi:
           - Các cậu kéo nhau đi đâu đấy?
           - Bọn mình theo thầy giáo Cóc đi tham dự hội thì viết chữ đẹp đấy!
           Thằng ong con vui vẻ trả lời. Ve sầu con quả quyết:
           - Thế thì tớ và dế mèn con cũng sẽ đi thi!
           Ong con ngạc nhiên:
           - Nhưng hai cậu có biết chữ đâu mà đòi đi thi viết chữ đẹp chứ?
           - Biết… biết, bọn mình đã biết chữ từ lâu rồi mà!
           Dế mèn con cự lại. Đoạn nó lấy thanh gươm gỗ vạch trên mặt đất một chữ “i” nghuệch ngoạc. Ve sầu cũng dùng que viết ra mặt đất một chữ “e” xiêu vẹo và nói: “Thấy không! Chúng mình cũng biết chữ cả đấy!”. Đám học sinh ồn ào. Thấy vậy, thầy giáo Cóc bèn rẽ đám đông tiến đến vỗ vai ve sầu và dế con ân cần bảo:
          - Các con mỗi người chỉ biết có mỗi một chữ mà không hiểu là còn có nhiều chữ khác nữa chưa biết. Với mỗi một chữ duy nhất mà các con đã biết thì không viết nổi cả tên của mình đâu! Các con không thể đi tham dự hội thi viết chữ đẹp này đâu!
           Ve sầu ngơ ngác:
           - Con cứ tưởng chỉ cần biết chữ là đã thành người có học rồi chứ ạ?
           Thầy giáo Cóc ân cần:
           - Biết chữ thì chưa phải đã là người có học đâu các con ạ! Biết chữ rồi còn phải tiếp tục học, học nữa, học cả đời thì mới nên người… Các con chỉ biết một chữ thì không thể đi tham dự cuộc thi viết chữ đẹp này đâu…
           Ve sầu và dế con cúi đầu xấu hổ. Hoá ra bây giờ chúng mới hiểu ngoài chữa “e” và chữ “i” chúng đã học được còn nhiều chữ khác mà chúng chưa hề biết… Đoàn học sinh và thầy giáo Cóc tiếp tục hồ hởi lên đường đi dự hội. Ve sầu và dế con đứng trông theo. Nét mặt cả hai rất buồn. Rồi cả hai lủi thủi quay về. Thằng dế con kéo lê hai thanh gươm gỗ trên đường…
           Thế là cũng bởi ngộ nhận và lười biếng vậy, cho nên cả đời ve con và dế con mỗi đứa chỉ biết đúng có một chữ duy nhất. Vì thế ngày ngày trên cành cây cao chỉ nghe thấy tiếng ve sầu ra rả đọc mãi một chữ “e…e…e… e…” và dưới mặt đất thì dế chỉ biết ri rỉ lẩm nhẩm mỗi một chữ “i…i…i… i…” mà thôi.
                                                                                               Hà Nội, cuối năm 2012

                                                                          



Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2014

VỀ TRUNG DU - thơ

 

Về Trung du
 
Theo em về thăm lại bến xưa
Sông Lô mùa thu xanh thăm thẳm
Một trung du dịu dàng đằm thắm
Cọ xòe ô vẫy dọc đường chiều.
 
Bờ đê thấp thoáng những cánh diều
Đàn em nhỏ đầu trần đen nhẻm,
Phương Khoan (1) ấy một lần tôi đến
Hai mươi năm nay mới trở về.
 
Bến sông xưa vẫn những rặng tre
Uốn cần câu đợi mùa nước lớn
Chuyến phà Then sang ngang chộn rộn
Người lính già lặng lẽ bên sông (2).
 
Một mùa thu rơi xuống cánh đồng
Lúa rực vàng vui ngày gặt hái
Giữa rơm rạ thấy lòng thư thái
Quên nỗi lo bận bịu phố phường.
 
Tôi gặp trong màu nắng quê hương
Ánh mắt trung du sao trừu mến,
Có tiếng em gọi tôi xuống bến
Thật dịu dàng như sóng Lô giang...
 
Vĩnh Phúc, 8/2014
   Trọng Bảo
------------------
(1) Phương Khoan là một xã ven sông Lô thuộc tỉnh Vĩnh Phúc
(2) Người lính già - nhân vật trong truyện ngắn Ký ức sông Lô mà tôi đã viết. Mời đọc truyện ngắn này theo đường link:  http://Truyện ngắn KÝ ỨC SÔNG LÔ
 

Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014

Chúng tôi lính trung đoàn 246

Ngày chủ nhật (29-6-2014), tại nhà khách Bộ Tư lệnh Quân khu 2, các cựu chiến binh Trung đoàn 246 (Đoàn Tân Trào) sẽ tổ chức buổi gặp mặt truyền thống. Tôi xin đưa lại bài thơ đã viết trong dịp về dự gặp mặt hai năm trước gửi đến các bạn bè, đồng đội cùng trung đoàn năm xưa.
Tôi bị cháy hỏng máy điện thoại, mất hết số điện thoại của các bạn cùng đơn vị cũ. Ai đọc được bài thơ này hãy nhớ điện lại cho tôi nhé!
Trọng Bảo, ĐT: 0986676547

Chúng tôi lính trung đoàn 246
 
           Chúng tôi lính trung đoàn 246
           Nhớ thuở tựu quân giữa chiến khu
           Tấm áo nâu và thanh mã tấu
           Dặm trường chinh khói lửa mịt mù.
 
           Chín năm trường kỳ, chín năm gian khổ
           Tuổi hai mươi vương vãi sa trường
           Dọc ngang chiến hào mồ hôi, máu đổ
           Bao người không trở lại quê hương.
 
           Trường Sơn xưa có người lính trẻ
           Súng trên vai hăm hở lên đường
           Vượt rừng già, suối sâu, vách đá
           Những nơi nào còn đẫm máu xương?
 
           Đoàn quân băng qua bao vực thẳm
           Hướng chiến trường rẽ núi mà qua
           Đâu có biết tấm lòng quả cảm
           Lại phôi pha giữa chốn rừng già!
 
           Một người sống, hai người chết đói
           Mặt trận xa vời vợi tận nơi đâu
           Lương thực cạn, rừng không biết nói
           Để mách cho người lính một ngọn rau…
 
           Trung đoàn tôi có thêm tên mới,
           Trung đoàn “hai-bốn-đói” từ đây
           Những người lính gầy gò đói lả
           Mà làm nên chiến thắng Làng Vây…
 
           Hòa bình khi niềm vui chưa dứt
           Rừng núi Hà Giang phá đá mở đường
           Miếng măng đắng quặn từng khúc ruột
           Hạt bo bo đợi lúa chín trên nương.
 
           Và trận đánh ở Cao Bằng năm ấy
           Đồng đội tôi những ai mất, ai còn
           Đêm phá vây giữa bốn bề lửa cháy
           Thêm nhiều người ngã xuống ở sườn non…
 
           Lũ chúng tôi hôm nay về gặp mặt
           Những mái đầu đã trắng thời gian
           Cùng nhớ về những người đã khuất
           Để mãi mãi bên nhau lính trung đoàn…
                           Phú Thọ, 30/6/2012
                              TRỌNG BẢO

Thứ Tư, 7 tháng 5, 2014

Tản văn Một mét chiến hào Điện Biên

   

      Ảnh: Hoa ban miền Tây bắc
 
Một mét chiến hào Điện Biên
Tản văn của Trọng Bảo

          Mùa hè năm 1999, cũng vào dịp kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi đang nghỉ phép ở quê thì nhận được điện thoại của ông Đỗ Văn Tường, Bí thư huyện uỷ Lập Thạch-Vĩnh Phúc. Ông thông báo: "Ngày mai Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ về thắp hương tại đền thờ Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn tại xã Sơn Đông, nhà báo cố gắng đến nhé!". Tôi hứa sẽ đến sớm. Bí thư huyện uỷ  Đỗ Văn Tường còn cho biết thêm đã mấy lần đại tướng về thăm đền thờ Trần Nguyên Hãn. Hai vị danh tướng có tài "kinh bang tế thế" ấy đều là những người có công khai quốc công thần, tuy âm dương cách biệt nhưng hình như có sự đồng cảm với nhau.

            Trần Nguyên Hãn là một vị tướng giỏi có công lao rất lớn trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, trợ giúp Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh, lập ra nhà Hậu Lê. Song cũng chính vì công lao của ông lớn quá, tính tình của ông lại cương trực khiến cho lũ tham quan, nịnh thần ganh ghét. Chúng gièm pha, xúc xiểm khiến Lê Lợi dần dần không còn tin dùng Trần Nguyên Hãn nữa. Chán nản trước sự đời và hiểu được cái xu thế: "Tướng tài thời loạn, quan hoạn thời bình" nên Trần Nguyên Hãn đã dâng tấu xin được quy hưu. Ông trở về vùng quê nghèo Lập Thạch là nơi đã sinh thành để lập ấp, làm ruộng, vui cảnh điền viên. Thế nhưng đám quan tham kia vẫn không buông tha ông. Chúng tiếp tục xúi bẩy Vua Lê Thái tổ, vu cho ông tội tụ tập mưu phản. Lê Lợi u mê tin vào bọn ấy đã hạ chỉ, sai quan quân bắt trói Trần Nguyên Hãn rồi dìm chết tại bến Đông Hồ trên Sông Lô. Cũng có tài liệu khác thì lại viết là ông đã tự trầm mình xuống sông tự vẫn. Đó cũng chỉ là một sự bức tử mà thôi. Nhân dân đã lập đền thờ Trần Nguyên Hãn ngay trên bến sông, nơi ông bị dìm chết.

            Chuyến đi đón vị danh tướng của thời nay về viếng vị danh tướng của thời xưa đã giúp tôi có thêm tư liệu để viết xong truyện ngắn có tính dã sử "Bến sông xưa" mà tôi đã ấp ủ từ lâu.

          Tháng 5 năm 1963, khi trả lời phỏng vấn của "Tuần báo Cách mạng châu Phi", Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định cùng với sự lãnh đạo tài tình của Đảng, Bác Hồ, của nghệ thuật quân sự Việt Nam, của quyết tâm sắt đá của quân, dân ta là những nhân tố quyết định dẫn đến thắng lợi của Điện Biên Phủ, còn có một nguyên nhân nữa là ý chí được hun đúc từ hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước. Đó là ý chí giành độc lập tự do cho Tổ quốc, đem lại ruộng đất cho nông dân. Ông nhấn mạnh đó chính là động lực để những người lính không sợ đổ máu hi sinh cầm súng lao vào trong lửa đạn, là sự thôi thúc những đoàn dân công ngày đêm ăn đói, nhịn khát thồ gánh gạo từ hậu phưong lên mặt trận Tây Bắc xa xôi tiếp tế cho bộ đội. Ý nghĩa và bài học đó đến hôm nay vẫn luôn tươi mới. Chúng ta đang xây dựng đất nước với mong muốn phát triển Việt Nam sánh vai cùng các quốc gia trên thế giới. Lớp người hôm nay chỉ quen nghe tiếng pháo hoa, chưa từng nghe tiếng pháo giặc, chỉ biết những dự án hàng trăm, hàng ngàn hec-ta xây dựng những sân gôn, khu công nghiệp. Song xin đừng quên là chỉ một mét chiến hào Điện Biên thôi mà hàng chục, thậm chí hàng trăm người đã ngã xuống, máu liệt sĩ thấm sâu vào lòng đất. Và cũng xin đừng bao giờ quên cái giá của độc lập, tự do và của từng tấc đất Việt Nam là rất đắt.
                                                                Hà Nội, tháng 5-2009