Thứ Năm, 14 tháng 7, 2011

Truyện ngắn THẰNG XÓT

THẰNG XÓT
Truyện ngắn của Trọng Bảo
           Tôi đang cặm cụi đẽo mấy quả lựu đạn gỗ ở đầu nhà thì nghe tiếng chị chủ nhà quát thằng con:
          - Từ rày, tao cấm mày nhận quà của người lạ cho nghe chưa? Ngày mai phải đem ngay cái áo trả cho bà ấy...
          - Nhưng! Đó là bà...
          - Không bà...bà gì hết! Dắt trâu ra ruộng ngay!
          Rồi im lặng hẳn. Một lát có tiếng chân nhè nhẹ phía sau. Tôi quay lại. Thằng Xót mặt còn bị xị đi lại. Tôi hỏi:
          - Có chuyện gì mà mẹ mắng thế?
          - Vì cháu đã nhận cái áo bà cho.
          - À! Tại chưa được mẹ cho phép đã nhận đồ người khác cho chứ gì?
          - Nhưng đó là bà nội cháu cơ mà!
          Tôi ngạc nhiên:
          - Chắc lại tự ý vòi vĩnh bà chứ gì?
          - Không phải! Bà tự cho đấy chứ. Nhiều lần bà cho quà, mẹ biết đều mắng hết.
          Tôi càng không hiểu. Thằng Xót ngồi xuống cạnh tôi cầm quả lựu đạn gỗ lên xem. Nó đã mười lăm, mười sáu tuổi rồi, phổng phao, lộc ngộc. Một lát nó bảo:
          - Lớn lên, cháu cũng đi bộ đội như bố cháu và chú.
          - Ừ...
          - Bố cháu hy sinh tay vẫn cầm súng đứng giữa chiến hào, lựu đạn còn đeo bên hông đấy nhé...
          - Ừ... - Tôi vừa chăm chú gọt quả lựu đạn vừa đáp. Chợt tôi giật mình:
          - Nhưng bố cháu lúc nãy còn xách giúp chú cái ba lô vào nhà cơ mà?
          - Đấy là bố dượng cháu. Bố dượng cháu tốt lắm. Bố dượng coi cháu như con đẻ, nuôi cháu lớn lên và cho đi học đến bây giờ. Còn bố đẻ cháu hy sinh rồi.
          - Thì ra vậy! Chú vừa mới đến nên không biết...
          Tôi định hỏi thằng Xót về bố đẻ của nó thì chị chủ nhà gọi giục nó đưa trâu ra ruộng bừa cấy. Nắng đã bớt gắt. Cánh đồng trước làng đã có người xuống cấy. Tôi thu dọn và đem mấy quả lựu đạn gỗ vào nhà.
          Cả nhà đi vắng hết. Tôi tranh thủ quét dọn nhà cửa, sân vườn vì ngày mai bắt đầu bước vào huấn luyện chiến thuật không có nhiều thời gian.
          Đang lúi húi khơi cái rãnh thoát nước ở cổng thì có tiếng người gọi:
          - Chú bộ đội ơi!
          Tôi ngẩng lên. Một bà cụ dáng vẻ mệt mỏi vì đi nắng đang đứng ngoài cổng. Tôi hỏi:
          - Bà gọi cháu ạ!
          Bà cụ gật đầu:
          - Chú có thấy thắng Xót ở nhà không?
          - Cháu nó vừa đưa trâu ra ruộng rồi ạ! Mời bà vào trong nhà cho đỡ nắng.
          - Thôi! Chú cứ kệ tôi. Tôi ngồi ngoài này đợi cũng được.
          Tôi băn khoăn, cố mời, nhưng bà cụ nhất định không vào. Bà cụ lại hỏi:
          - Thế... chú ở trọ ở đây à?
          - Vâng ạ! Chúng cháu lên ở nhà bà con xóm ta để tập quân sự ạ!
          Chợt nhớ ra câu chuyện lúc nãy thằng Xót kể. Tôi rất muốn hỏi chuyện bà cụ nhưng không dám. Bà cụ vẫn ngồi ngoài cổng bỏm bẻm nhai trầu nhưng trông vẻ buồn. Bỗng bà lập cập vẻ lúng túng rồi chào tôi:
          - Chào chú! Tôi về nhé.
          Bà vội vàng đi luôn. Cây gậy lọc cọc khua trên đường sỏi. Một lúc sau, chị chủ nhà quảy quang gánh về. Thì ra bà cụ vội đi ngay vì muốn tránh mặt chị. Chị cứ bảo tôi cứ nghỉ lấy sức mà đi tập. Nhìn vẻ khắc khổ, lam lũ của chị, không ai nghĩ chị chỉ mới ba bảy, ba tám tuổi.
          Mùa hè mưa nắng thất thường. Đại đội chúng tôi đang tập trên Núi Dạm thì một cơn nưa ập xuống. Nước xối xả, khiến tất cả chúng tôi đều ướt như chuột lột. Đại đội trưởng tuyên bố:
          - Các trung đội cho bộ đội về doanh trại, bảo quản, lau chùi vũ khí trang bị, tự ôn tập phần lý thuyết. Ngày mai trời tạnh ta sẽ tập bù.
          Chúng tôi lục tục kéo về làng. Đến đầu xóm trung đội trưởng hạ lệnh giải tán. Tôi vội chạy ngay về nhà ở. Tới đầu ngõ, tôi túm được thằng Xót từ trong nhà khoác áo mưa phóng ra. Tôi hỏi:
          - Mưa gió thế này cháu còn đi đâu đấy?
          - Cháu... cháu... đem áo mưa cho bà nội. Nếu... nếu mẹ cháu về, chú bảo cháu chưa về nhé.
          Nó lập cập vì lạnh. Tôi thả cho nó chạy đi. Nó phóng thẳng ra phía con đường sang làng Thượng. Tôi cũng vội chạy vào nhà.
          Mãi tối mịt, thằng Xót mới về. Nó trả lời qua quýt những câu hỏi của mẹ rồi khẽ kéo tay tôi ra hè thì thào:
          - Cháu lo bà bị cảm lạnh ốm mất chú ạ!
          - Bà bị mưa ướt à?
          - Bà đi đến giữa đồng thì trời ập mưa. Lúc cháu chạy đến bà đã bị ướt hết rồi. Cháu dìu bà về nhà rồi nhờ bác Ngân đến xoa dầu cho bà rồi.
          - Thế bà đi ra đồng làm gì? Mà sao cháu biết bà ở đấy?
          - Bà cháu đi tìm cháu đấy. Ngày nào bà chả sang tìm cháu. Nhà bà cháu bên làng Thượng nên phải đi qua cánh đồng...
          Câu chuyện chẳng đến đầu, đến đũa của thằng Xót khiến tôi càng khó hiểu. Tôi cứ mong có dịp thuận tiện để hỏi chuyện anh chị chủ nhà. Nhưng thấy anh chị bận bịu suốt ngày nên cũng đành thôi.
          Hôm sau, tôi bắt gặp thằng Xót giữa chợ. Nó đang bán một giỏ cua đầy và mấy xâu cá đồng. Thấy tôi, nó tỏ ra lúng túng. Rồi nó rụt rè đề nghị:
          - Chú đừng nói với mẹ cháu là cháu đi bán cua cá ở chợ nhé.
          - Tại sao thế?
          - Vì... cháu bán để lấy tiền mua cho bà hộp sữa. Bà bị ốm rồi chú ạ.
          - Thế à?
          - Hôm qua, bà bị mưa ướt nên cảm ốm chẳng ăn được gì chú ạ.
          Chợt nhớ ra, nó hỏi:
          - Chú đi chơi chợ à?
          - Chú đi khênh rau cho tiếp phẩm! - Tôi đáp và lục túi đưa cho nó mấy đồng. Nó xua xua tay:
          - Cháu bán cá được một ít còn lại bố cháu cho thêm, đủ mua cho bà cân đường và hộp sữa rồi.
          Tôi ngạc nhiên:
          - Thế bố cháu cũng biết à?
          - Vâng! Mà số cua, cá này là cháu và cả bố cùng bắt suốt buổi trưa đấy chứ! 
*

          Rít một hơi thuốc lào, nhấp chén nước chè vẻ ngon lành xong, anh Thực kể:
          - Tôi, Luyến - vợ tôi và Hoàng cùng học với nhau từ khi còn bé tý. Đến năm cấp 3 thì giặc Mỹ leo thang ném bom miền Bắc rất ác liệt. Cầu Bắc Giang, cầu Đáp Cầu thường xuyên bị chúng đánh phá. Chúng tôi phải sơ tán lên mãi vùng Mỏ Thổ, Bắc Giang học nhờ các trường bạn. Vợ tôi ngày ấy là “hoa khôi” và là bí thư chi đoàn của lớp đấy nhé. Cả tôi và Hoàng đều thầm yêu cô ấy. Tôi rất tự tin vì tôi đẹp trai và học giỏi hơn Hoàng. Nhưng rồi tôi đau khổ nhận ra cô ấy chỉ yêu Hoàng và coi tôi như người bạn thân. Chúng tôi vẫn gắn bó với nhau, giúp đỡ lẫn nhau nhưng giữa tôi với hai người dần dần xuất hiện một khoảng cách. Tôi học sút đi nhiều.
          Tốt nghiệp cấp 3, chúng tôi cùng đi thi đại học nhưng chỉ có Hoàng là đủ điểm vào đại học bách khoa. Bố Hoàng lúc ấy đang là chủ tịch xã, mẹ là chủ tịch hội phụ nữ. Hoàng rất muốn đi học đại học, nhưng bố mẹ cậu ấy đều động viên đi bộ đội. Tôi cũng viết đơn xin nhập ngũ. Hoàng được gọi vào bộ đội trước. Tôi vào dân quân. Nhờ thành tích tiếp đạn, tải thương cho bộ đội cao xạ nên được giới thiệu, bồi dưỡng để chuẩn bị kết nạp Đảng và bổ nhiệm làm trung đội trưởng dân quân. 
          Hoàng được về phép gần một tháng rồi vào miền Nam chiến đấu.Giữa lúc ấy thì xảy ra một chuyện. Luyến có thai, cái bụng đã sang tháng thứ tư, thứ năm của cô dù có bó buộc thế nào cũng không thể giấu mọi người được nữa. Ngày ấy chuyện này là “động trời, sụp đất”. Chi đoàn rồi trung đội dân quân tổ chức kiểm điểm, truy xét. Luyến bị dồn ép ghê quá. Rồi một hôm đích thân ông chủ tịch xã - bố của Hoàng - đến chỉ đạo việc kiểm điểm Luyến. Rồi cả bà chủ tịch hội phụ nữ xã cũng đến. Tôi không thế nhớ hết những gì họ đã nói nào là “đồ trụy lạc”, “loại vô giáo dục”, “kẻ dâm loạn” và cả “quân phản động, phá hoại” nữa.
          Sau này, tôi mới biết Luyến đã đến gặp bố mẹ Hoàng thú nhận việc lỡ có thai với cậu ấy và đã bị họ xua đuổi, cho là “đổ vạ” cho nhà họ. Và cũng mãi sau này tôi mới biết tại sao họ lại đối xử tàn tệ với Luyến như vậy. Vì ông bố Hoàng đang nằm trong quy hoạch phát triển lên làm phó chủ tịch huyện. Ông sợ vì chuyện này có thể làm đổ vỡ tất cả.
          Luyến bị dồn đến chân tường. Một đêm, sau giờ trực chiến, tôi tranh thủ qua nhà lấy thêm ít gạo, muối. Lúc đi tắt qua quả đồi sau làng nơi con sông Cầu bẻ góc chảy xiết, dưới ánh trăng mờ tôi chợt phát hiện ra một bóng người đang dấn dần ra giữa sông. Linh cảm được điều không hay, tôi quát to:
          - Luyến! Không được làm thế!
          Vứt vội bao gạo và khẩu súng trên bờ, tôi lao xuống dòng nước. Vật lộn, giằng co mãi, tôi mới lôi được Luyến lên bờ. Luyến vật vã xin tôi để cô được chết bởi vì cô không còn muốn sống nữa. Tôi bảo: “Hãy nghĩ đến đứa con, nó có tội tình gì đâu!”. Nghe vậy, Luyến ngồi lặng im hồi lâu rồi mới chịu theo tôi trở về làng.
          Hôm sau, khi ông chủ tịch xã chủ trì cuộc họp cuối cùng để xác định kỷ luật của Luyến. Không hề chủ định trước, giữa lúc căng thẳng nhất thì không hiểu vì sao, có lẽ vì thấy Luyến bị truy bức khổ quá, tôi bỗng bật dậy:
          - Tôi xin nhận! Tôi chính là bố của đứa trẻ!
          Tất cả mọi người đều vô cùng sửng sốt. Những người không hiểu tôi đã đành, Luyến cũng ngẩng đầu lên nhìn tôi sửng sốt. Thế là chả phải bàn cãi gì nữa, Luyến và tôi đều bị khai trừ khỏi Đoàn, đuổi khỏi trung đội dân quân. Quyết định chuẩn y kết nạp tôi vào Đảng đã ký cũng bị hủy bỏ. Đơn xin nhập ngũ của tôi bị trả lại...
          - Sau đó anh và chị Luyến lấy nhau chứ ạ?
          - Không! Luyến sinh con rồi lầm lũi nuôi con. Cô ấy khổ lắm. Mang tiếng chửa hoang, bố mẹ cũng còn xua đuổi chửi bới. Mẹ tôi cũng ốm liệt giường cả tháng vì buồn. Bố tôi là nhà giáo, cụ hiểu tôi nhưng cũng khó xử khi đứng trên bục giảng giáo dục dạy dỗ các em sống đẹp, sống có lý tưởng cách mạng, mà con mình lại như thế. Cụ xin nghỉ mất sức rồi đi làm ruộng. Luyến sinh con. Bố mẹ cô ấy dựng cho một ngôi nhà tre nhỏ ven làng. Tuy vất vả nhưng cô ấy vẫn cố gắng vượt qua, không nhận sự giúp đỡ của ai. Báo tử của Hoàng sau hơn một năm, cô ấy mới nhận lời lấy tôi. Trong một trận chỉ huy dân quân chuyển đạn cho bộ đội đánh trả máy bay địch ở cầu Bắc Giang, bố Hoàng đã hy sinh. Nhà Hoàng chỉ có cậu ấy là con trai, em gái thì lấy chồng xa ở mãi Vĩnh Phúc.
          Anh Thực kể tiếp:
          - Luyến đặt tên đứa con của mình với Hoàng là thằng Xót, có nghĩa là đau xót, đắng cay. Thằng Xót lớn lên chỉ biết có tôi là bố và mẹ Luyến. Tôi định khi nào nó đã trưởng thành mới nói cho nó biết mọi chuyện. Nhưng khi người ta xây dựng, tôn tạo lại khu di tích thành cổ Quảng Trị thì tìm được hài cốt của Hoàng. Hoàng hy sinh và bị vùi lấp trong tư thế đang cầm súng chiến đấu. Trong túi áo của Hoàng có một bức thư cậu ấy viết cho bố mẹ để trong bao ni lông tuy nét chữ đã mờ nhưng vẫn đọc được. Cậu ấy nói về chuyện đã yêu và có quan hệ với Luyến, dặn bố mẹ nhận Luyến là con dâu, nếu cô ấy có thai thì đứa con ấy là của mình...
          - Sao anh ấy không nói ngay khi về phép?
          - Vì lúc ấy hai người chưa chắc chắn lắm. 
          Anh Thực ngậm ngùi:
          - Bà mẹ Hoàng nhận được hài cốt của con và lá thư đã ngất đi. Bà cụ ân hận và rất mong muốn nhận lại cháu nhưng Luyến nhất định không chịu. Cô ấy không thể nào quên được những gì đã xảy ra. Thằng Xót càng lớn càng giống Hoàng. Lúc đầu nghe mẹ, xa lánh bà nhưng dần dần mình khuyên nhủ, nó cũng hiểu ra. Bố con mình phải “bí mật” giúp đỡ bà cụ. Chuyện qua lâu rồi còn để bụng làm gì. Đằng nào bà cụ chả là mẹ của Hoàng, bạn nối khố với mình từ thời còn cởi truồng cơ mà. Bà cụ bây giờ tuổi cao, chỉ còn một mình. Chỉ mong Luyến bỏ qua mọi chuyện, bố con mình sẽ đến đón cụ về ở chung hoặc không thì cũng công khai giúp đỡ cụ. Khổ! Ngày nào bà cụ cũng đi bộ hơn cây số sang tìm thằng Xót…
          Tôi cũng thấy xót xa trước câu chuyện anh Thực kể. Anh Thực chợt hỏi tôi:
          - Này! Cậu sắp tốt nghiệp rồi phải không?
          - Vâng ạ! Em đang học năm thứ tư rồi.
          - Sắp thành “chính trị viên đại đội” rồi còn gì! Nhưng... thời gian ở đây cậu phải giúp mình với nhé!
          - Giúp việc gì ạ?
          - Thì giúp thuyết phục dần dần để bà xã mình hiểu ra...
          - Vâng... em sẽ cố gắng! - Tôi gật đầu đáp. 
*
          Mấy năm sau, tôi mới lại có dịp đi qua vùng núi Dạm. Anh chị Thực đi làm đồng chưa về. Thằng Xót bây giờ đã là một thanh niên vạm vỡ. Nó nhận ra tôi ngay. Vừa đưa tôi vào nhà, nó vừa bảo:
          - Cháu đã thi đỗ vào Trường sĩ quan Thông tin rồi đấy nhé!
          - Thế thì tốt quá!
          Thằng Xót mở tung cánh cửa. Căn nhà cấp bốn mới xây còn sáng màu vôi. Tôi giật mình khi thấy ảnh bà cụ đã gặp ở cổng ngày nào và ảnh một người chiến sĩ còn rất trẻ lồng trong tấm bằng “Tổ quốc ghi công” đặt trên bàn thờ.
          Thằng Xót ngậm ngùi:
          - Bà cháu mất hơn một năm rồi chú ạ!... 
                                                                                                                                                                                                                          Hà Nội, cuối năm 2001

Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2011

Truyện dài CHUYỆN ĐỜI HẮN (phần cuối)

          
  
Chuyện đời hắn
Truyện dài của Trọng Bảo
  
          Vĩ thanh hay vài lời cuối chuyện
          Ông chủ tịch xã vừa gập cuốn sổ lại vừa bảo tôi:
          - Mời nhà báo đi thăm một hộ làm kinh tế trang trại giỏi để “mục sở thị” nhé! Dọc đường nếu có còn gì hỏi, tôi sẽ trình bày thêm!
          - Vâng! Thế cũng được ạ!
          Tôi đồng ý. Ông chủ tịch xã dẫn tôi vượt qua một dốc núi cao sang bên kia dãy núi. Chiếc xe U-oát gầm gừ bò lên dốc. Con đường qua núi hẹp, gồ ghề. Chiếc xe chung chiêng như đi trên dây. Ra đến con đường mới mở, chiếc xe chạy êm ro. Ông chủ tịch xã hào hứng nói với tôi:
          - Tay chủ trang trại Ma Gà này vốn là một người từ nơi khác đến lấy vợ ở đây. Lý lịch hắn cũng có chút tỳ vết từ thời trai trẻ. Bây giờ thì hắn ta là một con người tốt. Hắn đóng góp xây dựng nhiều công trình công ích, dân sinh, các nhà tình nghĩa, nhà tình thương khắp trong, ngoài xã này đấy!
          - Thế ạ! Vậy thì lần này tôi may quá, gặp được một “điển hình tiên tiến”  để viết rồi!
          - Đúng là một điển hình tiên tiến thực sự đấy!
          Qua khỏi đoạn cua gập ghềnh đến một thung lũng tương đối bằng phẳng. Đó là thung lũng Ma Gà. Đầy khắp trong thung là những cây vải thiều vừa tròn tán. Cành cây trĩu những trùm quả bắt đầu sẫm vỏ. Những luống chè thẳng tắp, vườn cam quýt xanh tươi. Đặc biệt la liệt khắp nơi trong trang trại là những chậu cây cảnh, bon-sai có dáng thế rất đẹp. Một ngôi nhà hai tầng thấp thoáng giữa tán cây. Ông chủ trang trại lởi sởi ra đón và bắt tay từng người. Tôi đưa máy ảnh lên  ngắm chụp một kiểu ảnh. Qua ống kính máy ảnh tôi chợt nhận ra một nét mặt quen quen. Tôi buông máy ảnh bắt tay ông chủ trang trại. Cả hai chúng tôi cùng "ồ" lên một tiếng. Và, hai chúng tôi đều đã nhận ra nhau. 
          Hắn bắt tay tôi nói:     
          - Chào ông nhà báo!
          Tôi ngạc nhiên vì ông chủ tịch xã chưa giới thiệu mà sao hắn đã biết tôi là nhà báo mà chào như vậy. Tôi hỏi:
          - Sao anh lại biết tôi là nhà báo?
          - Thì hồi lâu lắm rồi còn trong… tù, một hôm vớ được tờ báo gói đồ cũ, đọc thấy có đăng bài ông viết về quê ta!
          Thì ra là thế.
          Tôi với hắn là người cùng quê. Hắn học trên tôi ba lớp. Khi tôi vào lớp một thì hắn đang học lớp bốn. Đến khi lên cấp 2, hắn đã có tên trong danh sách gọi khám tuyển nghĩa vụ quân sự. Nhưng ngày ấy tôi không hiểu vì sao hắn không được gọi đi bộ đội. Tôi còn nhớ mười bảy tuổi, hắn đã cao to lộc ngộc. Cái đầu hắn luôn cắt trọc lốc nên chúng tôi thường gọi hắn là “sư phụ”. Hắn học ngổ ngáo, ngỗ nghịch nhất trường. Các thầy cô giáo cũng ngại hắn, nhất là các nữ giáo sinh về thực tập ở trường. Những năm sáu mươi của thế kỷ trước ở miền rừng núi như quê tôi học sinh to lớn hơn cả thầy cô giáo là chuyện bình thường. Nhiều anh đã có vợ con rồi mà vẫn đang học cấp hai.
           Hắn thường hay bắt nạt chúng tôi. Có cái gì ăn chúng tôi đều phải cống nạp cho hắn. Đứa nào lơ lơ cố ý giấu giếm là coi chừng bị hắn vặn tưởng đứt tai. Bọn con gái nhiều đứa khóc hết nước mắt vì thường xuyên bị hắn bôi bẩn lên áo. Có đứa con gái bị hắn cắt xoẹt mất nửa chiếc đuôi sam gào tưởng sắp vỡ cả trường. Thầy Thức, hiệu trưởng trường cấp hai Quang Lâm hồi ấy nghiêm lắm. Nhiều lần hắn bị thầy phạt đứng nắng dưới chân cột cờ giữa sân trường. Nhưng hắn vẫn cứ tính nào, tật nấy.
           Ngày ấy đám trẻ chăn trâu chúng tôi rất thích hắn. Bởi lẽ hắn có tài kể chuyện. Những bộ trường thiên tiểu thuyết như: Tam quốc diễn nghĩa, Thuỷ hử, Hồng lâu mộng, Chinh đông chinh tây hắn đều thuộc làu làu. Những buổi chiều đi chăn thả trâu bò trong thung lũng lũ chúng tôi ai cũng hong hóng chờ được nghe hắn đọc chuyện. Để được nghe chuyện, mỗi đứa chúng tôi thường phải nộp một bó cỏ thật non để cho con bò mộng của hắn ăn. Chỉ khi con bò mộng của hắn đã đứng ngập giữa đống cỏ, hắn mới bắt đầu kể chuyện. Giọng hắn lúc trầm, lúc bổng, lúc ngân nga. Chúng tôi há mồm ra nghe chuyện. Hắn đọc cho chúng tôi nghe từng chương, hồi trong Tam quốc diễn nghĩa mà chẳng cần mở sách. Hôm nào cũng vậy, hắn chỉ đọc đúng ba chương. Chúng tôi đứa nào cũng xuýt xoa, tiếc rẻ, mỗi khi hắn kết thúc buổi đọc chuyện bằng câu "Muốn biết chuyện ra sao, chờ đến hồi sau sẽ rõ!".
           Sau bận cùng ông chủ tịch xã vào thăm trang trại Ma Gà, tôi viết một bài báo khá sinh động về mô hình làm kinh tế trang trại. Có lẽ cũng do đọc được bài báo ấy của tôi mà đoàn cán bộ của xã Quang Lâm - quê hương của tôi và hắn -  đã tìm đến tham quan trang trại Ma Gà. Sau lần ấy, hắn đã ủng hộ quê hương xây dựng nhà thư viện xã. Hôm xã Quang Lâm tổ chức lễ hội đón danh hiệu anh hùng tôi cũng về dự. Tôi để ý nhưng không thấy hắn. Tôi hỏi thì anh chủ tịch xã nói hắn bảo có việc bận đã đi từ hôm trước, ngay sau buổi lễ cắt băng khánh thành thư viện.
           Tôi quyết định lên trang trại Ma Gà thêm một lần nữa.
           Lần này tôi không đến để viết báo. Mấy ngày ở trang trại Ma Gà tôi đã được nghe hắn tâm sự về cuộc đời chìm nổi của mình. Câu chuyện của hắn khiến tôi nảy ra ý định viết thành một truyện ngắn. Nhưng khi truyện ngắn dài đến sáu phần rồi mà chuyện về hắn thì vẫn chưa hết. Vậy nên, tôi quyết định kéo thành một truyện dài - một tiểu thuyết. Sau chuyện hắn tình cờ gặp được đứa con gái, tôi hỏi hắn có gặp lại hai bố con lão đóng than tổ ong bên bờ sông Đuống và ngưòi đàn bà có ngôi nhà xinh xắn ven hồ Tây không thì hắn ậm ừ không kể tiếp nữa. Hắn chỉ nói qua loa là lão đóng than tổ ong bên sông Đuống đã chết, cô con gái thì bỏ nghề làm than đi làm họa sĩ công nghiệp. Còn người đàn bà có ngôi nhà ven hồ mỗi ngày mua mười viên than tổ ong của hắn ngày trước nay đã là một giám đốc một hãng sản xuất phim truyện truyền hình khá nổi tiếng. Chắc là người đàn bà ấy vẫn còn rất đẹp nhưng sẽ vẫn luôn buồn vì sống cùng ông chồng là nhà khoa học máy móc như một con rô-bốt đã được lập trình cài đặt sẵn…
           Vì hắn không chịu kể tiếp nữa nên “Chuyện đời hắn” đành phải dừng lại ở đây. Xin cảm ơn các độc giả đã đồng hành cùng tác giả qua một chặng đường khá dài.
            (HẾT)                                                        Hà Nội, tháng 2-2011

Thứ Tư, 6 tháng 7, 2011

Truyện dài CHUYỆN ĐỜI HẮN (phần 37)

        
   

Chuyện đời hắn
Truyện của Trọng Bảo

          Hắn được mời tham dự một cuộc trưng bày cây cảnh, cây thế, bon-sai tại thủ đô Hà Nội. Cây sanh mang cái tên “cuồng phong” của hắn đem trưng bày được “hét” với giá cả tỷ đồng. Ấy là hắn tự định giá thế chứ chả có căn cứ, tiêu chí nào. Nhiều cái cây cảnh khác ở triển lãm cũng như vậy. Cái cây nào cũng cứ như bảo vật quốc gia không bằng. Thực ra đây cũng là dịp để dân chơi cây cảnh gặp nhau giao lưu, trao đổi kinh nghiệm. Hắn quen được mấy tay chơi cây cảnh “khét tiếng” ở Nam Định, Hải Phòng, Phú Thọ. Cả bọn kéo nhau đi ăn uống, du hí, tham quan khá nhiều nơi, nhất là những trang trại sinh thái ở Hà Tây, Vĩnh Phúc.
          Một bữa hắn được một đại gia cây cảnh đất Cảng chiêu đãi ở một khách sạn khá sang trọng. Có lẽ lần đầu tiên hắn bước chân vào một nơi sang trọng như thế. Và cũng là lần đầu tiên hắn được thưởng thức những món ăn khá tốn tiền và uống những ly rượu ngoại giá bằng cả mấy ngày làm cửu vạn trên biên giới dạo trước. Hắn cũng đã giàu, cũng đã có lúc cầm tiền tỷ trong tay nhưng vốn bản tính con nhà nghèo nên hắn tiêu pha khá tằn tiện để dành tiền lãi tăng lương cho người làm và trợ giúp những người nghèo khổ.
          Uống đến ngà ngà say cả bọn lảo đảo kéo nhau lên phòng nghỉ đã đặt sẵn ngay tại khách sạn. Mỗi người vào một phòng. Vào được đến phòng là hắn lăn ngay ra giường ngủ luôn. Không biết mình đã ngủ được bao lâu. Khi hắn tỉnh dậy thì có lẽ đã quá nửa đêm. Khát quá. Hắn ngồi dậy tìm nước uống. Hắn vớ một chai nước trong tủ lạnh và cái cốc thuỷ tinh trên bàn. Tiếng nước lọc rót ra cốc thủy tinh mà sao lại róc rách kêu to thế. Hắn ngạc nhiên đặt chai nước xuống bàn. Vẫn có tiếng nước chảy. Đó là tiếng nước vọng ra từ trong nhà tắm. “Ai vậy nhỉ? Lúc nãy tay đại gia cây cảnh đất Cảng nói là mỗi người ở riêng một phòng khách sạn cơ mà!” - Hắn nghĩ và toan bước xuống khỏi giường.
           Cánh cửa phòng tắm đột nhiên bật mở.
           Một cô gái từ trong phòng tắm bước ra. Cô bé chỉ cuốn độc một cái khăn tắm che vừa kín tý chút phần trên và chút phần dưới quan trọng nhất của cơ thể. Cơ thể cô bé  trắng ngần gần như lòa lồ. Hắn vội co chân ngồi lên đầu giường rồi hỏi:
           - Cô là ai mà lại vào phòng của tôi?
           Cô gái hơi run run đáp:
           - Em là… là… của anh đêm nay đấy mà!
           - Sao lại là của tôi… tôi… tôi có gọi… gọi cô đến đâu?
           - Có người đã gọi em cho anh đấy! Anh cứ yên tâm…
           Hắn chợt sực nhớ ra là lúc sắp tàn tiệc, tay đại gia đất Cảng nháy nháy mắt rồi bảo mọi người:
           - Còn có “một món” rất đặc biệt nữa mà tối nay tôi sẽ chiêu đãi các huynh ở trên phòng đấy nhé!
           Thì ra là vậy. Hắn chợt hiểu. Cô bé tiến đến gần giường ngủ. Hắn hơi hoảng vì chuyện bất ngờ. Cô khẽ hất cái khăn tắm đang choàng trên người rơi xuống sàn nhà. Thân hình tuyệt đẹp của cô lộ hẳn ra dưới ánh đèn ngủ màu hồng. Hắn thấy mình như sắp tắc thở. Hắn liền nhắm mắt lại định tâm. Cô gái sà xuống ngồi cạnh hắn. Hơi thở của cô bé hổn hển và rất gần. Hắn vội mở mắt ra nhìn. Khi ngực cô bé chìa ra gần chạm vào cánh tay hắn thì hắn chợt trố mắt nhìn trừng trừng rồi hét lên một tiếng vô cùng kinh hãi. Cô bé giật nảy mình sững lại. Cô vội đưa tay lên che ngực.
           Hắn lập bập chỉ tay vào sợi dây chuyền trên ngực cô bé hỏi:
           - Tại sao cô lại có sợi dây chuyền này?
           - Là của mẹ em để lại đấy ạ!
           Hắn vẫn nhìn chăm chăm cái mặt của sợi dây chuyền đang đậu giữa chỗ khe lõm trên ngực cô bé. Giữa mặt của chiếc dây chuyền có một chữ “M”. Hai chân chữ "M" uốn lại thành hình một trái tim. Đó là sợi dây chuyền rất quen thuộc mà hắn đã từng biết. Hắn lập bập hỏi:
           - Có phải mẹ cô tên là… là…
           Cô bé vội cắt ngang lời hắn :
           - Mẹ em tên là Miến!
           Hắn càng kinh hãi. Hắn vội lột ngay tấm ga trải giường choàng lên che kín người cô bé. Cô bé ngạc nhiên không hiểu vì sao nhưng cũng cuốn chặt tấm ga vào người. Cô bé càng ngạc nhiên khi thấy hắn mặt mũi cứ tái nhợt đi vì hoảng hốt. Cô bé ngập ngừng hỏi:
           - Anh... anh bị làm sao thế ạ?
           - Tôi… tôi… không làm sao! Nhưng có đúng là mẹ cô tên là Miến không?
           - Đúng ạ! Bà em nói mẹ em ngày xưa là dân buôn chuyến trên tàu hỏa. Khi mẹ chết đã để lại cho em sợi dây chuyền này đấy!
           - Thế sao… sao cô phải đi làm… chuyện này?
           Cô bé im lặng rồi rơm rớm nước mắt:
           - Bà em già yếu lắm rồi lại đang ốm nặng! Em thì không có việc làm… nên phải đi… Hôm nay là lần đầu tiên em đi làm… đấy ạ…
           - Nhà cô ở đâu?
           - Cũng ở gần đây thôi ạ!
           - Bà cô đang ở nhà à?
           - Vâng!
           - Cô mặc quần áo vào rồi đưa tôi về nhà ngay!
           - Để làm gì ạ?
           - Tôi muốn đến thăm bà của cô!
           Cô bé có vẻ lo lắng ngần ngừ. Hắn lại bảo:
           - Cô cứ yên tâm đưa tôi về nhà! Mọi chuyện xảy ra đã có tôi lo! Tôi sẽ không nói chuyện này với bà cô đâu!
            Cô bé vào phòng tắm mặc quần áo. Hắn cũng vội vùng dậy tìm cái cặp khoá số ném dưới sàn nhà. Vã vội vốc nước lạnh vào mặt cho tỉnh táo hắn dẫn cô bé ra trước cửa khách sạn gọi xe tắc-xi. Chiếc tắc-xi chạy vòng vèo qua mấy dãy phố nhỏ rồi rẽ vào một ngôi nhà lợp tôn thấp lè tè phía sau khu nhà ga. Hắn theo cô bé đến trước cửa căn nhà nhỏ. Trong nhà vẫn có ánh điện sáng lờ mờ bởi cái bóng đèn ngủ công suất nhỏ. Cô bé gọi cửa. Có tiếng ho rúc lên một hồi rồi tiếng dép lê lẹt xẹt. Tiếng người trong nhà hỏi, giọng mệt mỏi, hổn hển:
            - Cái Miên về đấy hả con?
            - Vâng! Cháu đây bà ạ!
            Ánh điện bật lên. Ánh sáng chui qua những kẽ hở trên vách, trên nóc nhà thò ra xung quanh như những cái vòi của con bạch tuộc. Tiếng lạch xạch mở chốt cửa. Cánh cửa bật ra. Hắn theo cái Miên bước vào nhà. Mùi hôi mốc, ẩm ướt sực lên. Bà cụ che mắt nhìn hắn rồi chợt kêu lên vẻ sung sướng:
            - Ôi cái Miên, mày... mày... đã tìm thấy bố ở đâu thế?
            Hắn và cô bé đều vô cùng sửng sốt khi nghe bà cụ nói như vậy. Lúc này hắn mới nhận ra bà cụ chủ nhà chính là bà lão bán nước chè xanh ở nhà ga dạo trước. Cũng chính bà cụ đã giục hắn chạy trốn công an khi hắn đánh nhau với mấy thằng lưu manh ở ga hôm mới ra tù. Bà cụ tuy đã già nhưng hai mắt vẫn rất tỏng. Bà bảo hắn ngồi xuống cái ghế băng cũ kỹ rồi kéo cô bé lại trước mặt hắn. Vừa ôm ngực ho bà cụ vừa nói:
            - Đây là cái Miên! Nó là con gái của anh đấy! Nó tìm được anh thế này thì mừng quá rồi. Bây giờ tôi có chết cũng yên tâm là đã giữ được lời hứa với con Miến…
            Hắn vẫn chưa hiểu đầu cua tai nheo ra sao. Cái Miên cũng sợ hãi đến tái cả mặt đi. Nó chưa hiểu tại sao bà nó lại nói như thế. Nó chăm chăm nhìn hắn đầy vẻ nghi ngờ. Bà cụ đành phải vừa ho và thở dốc vì mệt vừa cố kể lại mọi chuyện một cách có đầu có đũa. Thì ra dạo đó khi người đàn bà buôn chuyến tên là Miến ấy đi Nam Định cất hàng thì hắn bị bắt do tại thằng oắt con nhét thuốc phiện vào cái gối đầu để cạnh chỗ hắn ngủ. Khi về thì người đàn bà không biết hắn bị bắt đưa đi đâu. Chị không thể báo tin cho hắn biết là mình đã có thai. Chị sinh ra bé Miên lúc chiến tranh đã kết thúc và trong lúc hắn vẫn trong tù. Khi bé Miên hơn bảy tuổi thì chị bị mắc phải căn bệnh hiểm nghèo. Biết mình khó qua khỏi, chị đành gửi con lại cho bà cụ bán nước chè xanh ở nhà ga. Trước lúc chết, chị ta cũng kể cho bà nghe về bố đẻ của bé Miên. Chị để lại một lá thư để bà cụ chuyển cho hắn. Hai bà cháu bán nước chè xanh lần hồi kiếm sống ở nhà ga mong gặp lại hắn. Tuy vất vả nhưng bà vẫn ngày ngày đi bán nước, nhặt nhạnh đồ phế thải và nuôi được bé Miên học hết cao đẳng. Hai người cứ chờ mãi, chờ mãi nhưng càng chờ càng vô vọng. Sau bận đánh nhau với mấy thằng lưu manh ở nhà ga hắn biệt tăm luôn. Hai bà cháu sống trong thiếu thốn, khốn khổ. Không xin được việc, Miên đành nhắm mặt đưa chân đi làm tiếp viên trong khách sạn. Bà chủ khách sạn gạ gẫm mồi chài. Suýt nữa thì cô bé sa vào con đường lầm lạc. Và cũng chỉ tý nữa thôi nếu tối hôm nay con bé mà không đeo cái dây chuyền của mẹ thì đã xảy ra một chuyện tày đình rồi.
            Đọc lá thư của người đàn bà năm xưa để lại, hắn vẫn còn chưa hết bàng hoàng. Hoá ra từ lâu hắn đã có một đứa con gái. Bây giờ nó đã lớn và xinh đẹp thế này. Cũng đã gần ba mươi năm rồi còn gì. Cứ nghĩ lại chuyện ở khách sạn lúc nãy hắn lại giật mình thon thót vì sợ hãi.        
*
Trên đường đưa cái Miên về trang trại Ma Gà hắn rất lo lắng. Hắn không hiểu Thu sẽ phản ứng ra sao khi đột nhiên hắn đưa một cô bé lớn tướng về giới thiệu là con gái của mình. Cái Miên cũng tỏ ý không muốn theo bố ngay về nhà. Một phần là do nó bất ngờ quá. Với lại nó rất thương bà cụ gần hai mươi năm thương yêu, đùm bọc, chăm lo cho nó như là ruột thịt. Biết tính khí của nó bà cụ phải khuyên nhủ, dỗ dành mấy ngày liền. Hắn cũng phải thuyết phục con gái mãi. Để cái Miên yên tâm, trước khi đưa con đi, hắn đã thuê bọn thợ xây sửa chữa lại căn nhà cho bà cụ. Hắn còn sắm sửa cho cụ một số đồ dùng trong nhà. Hắn còn bảo hàng tháng sẽ đưa con gái về chăm nom, tiếp tế cho bà cụ. Cái Miên hết lo lắng, nó bằng lòng đi theo bố.
          Thu im lặng khi nghe hắn kể lại mọi chuyện.
          Chỉ riêng tình tiết gặp con gái trong phòng ngủ thì hắn lờ tịt. Hắn ngại. Hắn chỉ nói là đã nhận ra con trong bữa tiệc tại khách sạn. Mọi người trong công ty và trang trại ai cũng đều vui mừng cho hắn đã tình cờ tìm được một đứa con sau bao năm lưu lạc. Đám con trai lập tức bật nắp bia. Tiếng hô: “Zô... zô... zô… 100%... 100%...” ầm ĩ cả trang trại. Trong khi đó thì Thu vẫn lặng lẽ. Hắn càng thêm lo lắng. Khác với mẹ, bé Lan Hương thì cứ vui hớn hở. Nó rất thích vì tự dưng lại có một người chị gái lớn tướng xuất hiện trong nhà. Nó sẽ nhờ chị dạy tập viết, dạy múa hát. Năm nay con bé vừa mới lên lớp một. Nó sốt sắng xin đảm nhận việc đưa chị Miên đi xem vườn cây cảnh và nhà lưới trồng phong lan. Vừa nắm chặt tay chị kéo đi nó vừa leo lẻo kể chuyện ở lớp có bạn trai lớn tướng mà ngủ trưa vẫn tè dầm ra quần cô giáo phải gọi điện cho mẹ đến đón về sớm.
          Sau những phút hồ hởi tập trung đón khách, đám nhân viên cửa hàng vật liệu xây dựng và những người làm vườn ai về việc nấy. Cũng đã gần trưa. Thu xuống bếp phụ giúp nhà bếp nấu nướng. Chỉ còn một mình hắn ngồi lại phòng khách. Thấy thái độ im lặng của Thu, hắn băn khoăn không hiểu cô đang suy nghĩ gì. Hắn đoán là Thu giận về việc hắn có con riêng. Hắn thấy lo lắng cho Miên nếu không được Thu chấp nhận nó sẽ rất tủi thân và đòi về với bà cụ ở sau nhà ga.
          Hắn vòng tay ra phía sau đầu ngả người xuống ghế sa-lon.
          Chợt có tiếng dép lẹt xẹt phía sau. Thu bảo hắn:
          - Anh vẫn còn ngồi ở đấy à?
          - Thì… chả ngồi ở đây thì ngồi ở đâu!
          Hắn đáp có vẻ hơi bực. Thu giục:
          - Thì anh đi gọi hai con về ăn cơm đi! Trưa lắm rồi…
          Hắn vội ngồi thẳng người dậy quay lại nhìn Thu. Cô hơi mỉm cười nhìn vẻ mặt vui mừng của hắn. Hắn nhìn Thu như muốn nói một câu gì đó hàm ý cảm ơn nhưng không thốt nên lời. Thu thấy thích thú khi nhìn dáng bộ hắn vội vã quýnh quáng chạy đi tìm hai đứa con gái.  
         
               (hết phần 37)                                                  Hà Nội, tháng 2-2011

Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2011

Truyện dài CHUYỆN ĐỜI HẮN (phần 36)

              

Chuyện đời hắn
Truyện của Trọng Bảo

          Sau bận về quê trở lại trang trại hắn luôn nung nấu một ý định trong lòng. Hắn càng quyết tâm làm giàu. Cửa hàng bán vật liệu xây dựng ngày một phát triển, trở thành một đại lý lớn nhất khu vực. Doanh thu hàng năm không ngừng tăng lên. Khu sản xuất của trang trại Ma Gà cũng ăn nên làm ra. Thu nhập từ các loại cây cảnh, cây thế bon-sai và nhất là phong lan rừng cũng tăng vọt. Công ty Hoàng Thu cũng mua sắm được nhiều loại phương tiện chuyên chở vật liệu xây dựng và máy nông cụ. Việc tưới tiêu trong trang trại đều tự động hóa. Công nhân công ty và những người làm hợp đồng đều có thu nhập khá.
          Một hôm, hắn nói với vợ:
          - Có lẽ anh phải đi Hà Nam một chuyến!
          - Có việc gì ở Hà Nam thế anh?
          Thu hỏi. Hắn im lặng một lát rồi đáp :
          - Anh phải về quê thằng Lân. Cái thằng cùng tốp đào đãi vàng với anh ngày trước. Nó bị chết ở mỏ vàng. Không biết gia đình nó đã đem được xương cốt về quê chưa. Anh không bao giờ quên chuyện nó vì anh mà sẵn sàng chuẩn bị liều mạng đánh nhau với thằng đại ca Ông Cụt ở mỏ vàng. Anh muốn giúp gia đình nó đưa nó về quê!
          Thu đồng tình:
          - Cũng nên làm như thế anh ạ!
          Hắn nhìn vợ. Thu đúng là một người con gái tốt. Chưa bao giờ cô ngăn cản việc hắn giúp đỡ, trợ giúp những người khốn khổ. Hắn thấy mình thật là may mắn đã gặp được Thu. Với hắn đó là điều hạnh phúc nhất ở đời. Nhớ lại quãng thời gian phiêu bạt giang hồ, hắn chợt hiểu cuộc đời hình như vẫn luôn có quy luật nhân quả. Cay đắng qua đi sẽ đến ngọt ngào. Đói khát mãi rồi sẽ đến lúc ấm no. Trời không tiệt đường sinh tồn với bất cứ ai. Sông có khúc, người có lúc. Hắn chỉ thương những người như thằng Đang, thằng Lân chưa đi hết được đoạn đời khó khăn đã gục ngã bởi những lý do khách quan như thế. Vợ con thằng Đang thôi thế cũng đã xong, còn nhà thằng Lân thì hắn chưa biết ra sao. Vì thế hắn muốn về Hà Nam một chuyến. Chỉ có điều là hôm chia tay với chú Cần ở nhà ga, hắn không hỏi kỹ quê quán của chú Cần và thằng Lân. Hắn chỉ nhớ mang máng là có lần nghe thằng Lân nói làng nó ở gần phố huyện Bình Lục. Đầu làng có cây đa một ngọn hai gốc, bên cạnh là ngôi miếu cổ.
          Lần mò thăm hỏi mãi, hắn và thằng Tâm lái xe cũng tìm được đến làng của chú Cần và thằng Lân. Hai bố con chú Cần đang vác đất đào ao ở đầu làng. Họ vô cùng ngạc nhiên thấy một chiếc xe con bóng lộn rẽ vào đúng cổng nhà mình. Họ vội vã chạy về. Cả hai bố con chú Cần quần áo ướt sũng, bùn đất bê bết, mặt mũi lấm lem. Chú Cần rúm ró đứng bên lối đi nhìn một ông mặc com-lê bệ vệ bước xuống xe.
          Hắn mỉm cười hỏi:
          - Chú không nhận ra tôi à?
          - Thủ trưởng… thủ trưởng…
          Chắc chú nghĩ đây là thủ trưởng của thằng con cả đang làm cán bộ trên tỉnh. Hắn phì cười:
          - Thủ trưởng quái gì! Tao là thằng Lỗi, “phu vàng” đây!
          Chú Cần reo lên :
          - Ôi… bác Lỗi! Sao bây giờ trông bác oách thế làm em không nhận ra?
          - Oách gì! Cũng chỉ là “dân đen” thôi!
          Chú Cần xoa xoa bàn tay vào cái áo ướt cho sạch bùn rồi giơ ra. Hắn nắm chặt bàn tay của chú Cần. Hai bố con chú Cần đưa hắn vào nhà. Đoạn họ chạy ra giếng dội ào mấy gầu nước qua loa rồi thay quần áo khô. Hắn quan sát căn nhà tuềnh toàng của bố con chú Cần. Vừa tìm lọ chè, chú Cần vừa giãi bày :
          - Dân vùng chiêm trũng chúng em quanh năm “sống ngâm da, chết ngâm xương”, đủ ăn là đã mừng lắm rồi, nhà cửa chỉ là chỗ trú thân, chả có tài sản gì đáng giá đâu.
          - Nhà thằng Lân ở thôn nào?
          - Nhà nó ở xóm trong. Cũng như thế cả thôi. Nhưng nhà nó còn khốn nạn hơn nhà em vì chỉ còn có mẹ già còng lưng nuôi thằng cháu vô công rồi nghề.
          - Thế vợ nó đâu?
          - Vợ nó đi lấy chồng rồi. Thằng con ở với bà, học hành chẳng đến nơi đến chốn, không nghề ngỗng gì, suốt ngày lêu lổng. À! Báo tin cho bác biết gia đình nó và em cũng đã đưa được nó về quê rồi.
          - Vậy là tốt rồi! Tao chuyến này về đây cũng định hỏi về chuyện ấy đấy!
          Chú Cần kể :
          - Năm kia em đưa vợ và anh trai thằng Lân lên chỗ đào vàng tìm mộ nó. Khổ quá! Sau bảy tám năm, họ đào bới tìm vàng lung tung làm biến dạng cả khu vực nên mãi mới xác định được chỗ anh em mình chôn thằng Lân. Lại có thêm mấy ngôi mộ nữa chôn vào khu vực ấy. May là em tìm thấy hòn đá bác khắc tên nó vùi ở cuối ngôi mộ nên chắc chắn không bị đào sai. Lúc lấy hài cốt còn thấy cả con dao găm bộ đội khắc tên nó mình chôn theo anh ạ! Đưa mộ nó về xong vợ nó đi lấy chồng…
          - Cô ấy còn trẻ mà… - Hắn nói : - Vậy là yên tâm rồi! Chú đưa tao ra viếng mộ nó nhé! Mà thôi vào nhà thăm mẹ nó trước.
          - Vâng! Nhưng ăn cơm xong hẵng đi bác ạ!
          Nghe chú Cần nói hắn mới chợt nhớ là đã quá trưa. Thằng con chú Cần đang lúi húi vặt lông con vịt ở ngoài góc sân. Hắn gọi kỹ sư kiêm lái xe Tâm mang vào két bia và những thứ đồ ăn nguội đem theo. Lúc vào mâm chú Cần lại sực nhớ :
          - À! Bác ơi, thằng Bất cũng về rồi đấy!
          - Nó bây giờ thế nào?
          - Nó sắp chết rồi!
          - Sao thế?
          - Hồi ấy nó là lính bảo vệ, tay chân của thằng Ông Cụt, ăn chơi đĩ điếm khét tiếng ở khu mỏ vàng. Khi thằng Ông Cụt bị bọn khác cạnh tranh bảo kê, quản lý dân phu vàng phục kích bắn chết thì thằng Bất và bọn tay chân như rắn mất đầu. Thằng Bất vật vờ ở bãi vàng. Nó vì gái và nghiện hút nên ăn cắp bị phu vàng tẩn cho một trận gần chết. Sau đó nó lại dính vào bệnh tật nữa. Không hiểu làm thế nào nó cũng lần mò được về làng. Bây giờ thì nó sống nhờ ông bố già cả. Ông bố nghèo khổ cũng thật là khốn nạn vì nó. Mấy tháng nay nó phát bệnh gần chết rồi.
          - Thăm nhà thằng Lân và viếng mộ nó xong chú đưa tôi đến nhà thằng Bất nhé!
          Chú Cần ngạc nhiên nhìn hắn rồi gật đầu. Ăn cơm xong chú Cần đưa hắn đi. Chú Cần lúng túng khi đặt bàn chân lấm láp bùn đất của mình bước lên chiếc xe con sang trọng.
          Bà mẹ thằng Lân ngạc nhiên khi có người lạ đến thăm. Còn thằng Bất thì khóc nức nở khi nhận ra hắn. Có lẽ nó hối hận khi nghĩ lại quãng đời sa ngã của mình. Nó đã không nghe lời anh em trong bọn cùng đi đào vàng khuyên bảo. Hắn thấy thương thằng Bất. Nó bị căn bệnh si-đa đến giai đoạn cuối rồi. Mẹ nó do đau buồn phát ốm rồi mất. Ông bố nó hom hem lụi cụi lo cho con. Nhà nó cả làng không ai dám bén mảng đến. Họ sợ lây bệnh. Hắn giúp bố con nó một ít tiền để chữa bệnh. Khi về đến nhà chú Cần hắn cứ suy nghĩ trầm ngâm mãi rồi đi đến quyết định.
          Hắn bảo chú Cần:
          - Chú nên thu xếp rồi đưa thằng bé con thằng Lân lên trang trại với tôi. Tôi sẽ bố trí công việc cho mà làm, có thu nhập rồi mới khá lên được. Còn thằng con thứ hai của chú đang đi học thì phải cho nó tiếp tục đi học. Có học thì mới nên người. Thất học như tôi với chú thì khổ cả đời.
          - Vâng! Nhưng bác để em thu xếp việc nhà đã rồi sẽ đưa đứa con thằng Lân lên. Nhưng mà nó đi thì bà nó sống với ai?
          - Bà nó nói sẽ về sống với anh con cả. Với lại chú đừng lo, tôi sẽ có cách giúp đỡ bà mẹ thằng Lân. Điều quan trọng là cố đừng để thằng con duy nhất của nó hư hỏng.
          Một thời gian sau chuyến đi Hà Nam ấy, trang trại Ma Gà có thêm hai “công nhân” làm vườn. Chú Cần quả là một người có bàn tay khéo léo. Chú có thể thay thế hắn “động dao kéo” vào uốn tỉa những cây cảnh, cây thế có giá trị cao của trang trại.
          (hết phần 36)                                                             Hà Nội, tháng 2-2011

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

Truyện dài CHUYỆN ĐỜI HẮN (phần 35)

         

Chuyện đời hắn
Truyện của Trọng Bảo

          Hắn không dự buổi lễ đón nhận danh hiệu anh hùng của xã Quang Lâm. Sau lần đưa cả nhà về xây mộ mẹ hắn được chính quyền xã biệt đãi. Việc hắn giúp vợ con thằng Đang làm một căn nhà kiên cố cũng được chính quyền xã biểu dương nhiệt liệt. Tuy nhiên cũng có người vẫn chưa quên được “lý lịch” và những trang “đen tối” của hắn. Tại buổi lễ khánh thành nhà thư viện của xã, ông phó chủ tịch huyện về hưu làm trưởng ban viết sử đã phản ứng quyết liệt khi ban tổ chức xếp ông ta ngồi cạnh hắn. Tình cờ, hắn đã nghe được đoạn đối thoại sau giữa anh chủ tịch xã với ông cựu phó chủ tịch-trưởng ban viết sử xã Quang Lâm.
          Ông cựu phó chủ tịch nói vẻ gay gắt:
          - Tôi thật không ngờ cơ chế thị trường, đồng tiền đã làm các anh thay đổi nhiều quá! Nhạt phai… nhạt phai hết lý tưởng rồi!
          Anh chủ tịch xã lúng túng:
          - Bác nói vậy nghĩa là sao ạ?
          - Thì đấy! Một thằng tù, nó góp cho vài đồng bạc xây thư viện mà các anh trọng vọng nó như là một ông vua, hơn cả cấp trên của mình!
          - Nhưng chú Lỗi bị tù oan! Sau này xã ta cũng đã nhận được công văn thông báo của toà án và viện kiểm sát rồi mà!
            Tiếng ông cựu phó chủ tịch huyện khuyến cáo:
          - Nhưng nó vẫn cứ là một thằng không có bố, là thằng tù, hiểu không. Trong tù chắc chắn nó cũng đã trở thành một đại ca đầu gấu rồi!
          - Chuyện ấy là quá khứ rồi bác ạ! Trong chiến tranh, chính chú ấy là người đã có công giúp cùng bộ đội cứu toa tàu quân sự chở đạn trúng bom. Nhờ vậy mà thanh niên xã ta đã được quân đội ghi công, khen thưởng. Bây giờ chú ấy đã thay đổi, là nhà doanh nghiệp làm ăn chân chính, chấp hàng nghiêm pháp luật…
          - Hừ… hừ… - Ông cựu phó chủ tịch huyện có vẻ hơi lúng túng. Nhưng ông ta vẫn rất quyết liệt: - Các anh làm lãnh đạo bây giờ đã xoá nhòa hết ranh giới cái tốt - cái xấu, địch - ta, đen - trắng. Muốn thế nào thì thế, trong buổi lễ khánh thành nhà thư viện chiều nay và cả buổi lễ đón anh hùng ngày mai nữa, tôi dứt khoát không ngồi gần cái thằng tù ấy đâu nhé. Nếu mà các cậu không sửa lại vị trí ngồi dự lễ là tôi sẽ bỏ về luôn đấy!
          Anh chủ tịch xã đành giảng hòa:
          - Để cháu nói ban tổ chức sắp xếp lại ngay! Bác là người có công lao rất lớn xây dựng phong trào xã nhà trong những năm chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Bác mà không có mặt trong buổi lễ là không ổn bác ạ!
          Lại là tiếng ông cựu phó chủ tịch huyện vặn hỏi:
          - Mà các cậu xây dựng thư viện để làm gì thế?
          - Báo cáo bác là để nâng cao đời sống tinh thần cho bà con nhân dân trong xã. Thư viện cũng là nơi để bà con nông dân đến đọc sách báo, tìm hiểu đường lối, chủ trương chính sách, cách thức làm ăn và kinh nghiệm trồng trọt, chăn nuôi, phát triển kinh tế gia đình của các địa phương trong cả nước!
            Ông cựu phó chủ tịch huyện nhắc nhở:
          - Vậy mà hôm nay các anh lại để cái thằng tù nó đem đến toàn là tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện tranh, sách kiếm hiệp. Chỉ xem những cái tên sách thôi đã thấy không ổn rồi, nào là những “Bước đường cùng”, “Tắt đèn”, “Làm đĩ”, “Lục xì”, “Chí Phèo”, “Mảnh đất lắm người nhiều ma”, “Bến không chồng”, “Nỗi buồn chiến tranh”, “Hồ sơ một tử tù”, “Chuyện làng Cuội”, “Tôtem Sói”, “Tình yêu thời thổ tả”... Rồi một loạt toàn là các sách chưởng của bọn Tàu nữa. Cấm thấy có lấy một cuốn sách nào về lý luận, triết học, kinh tế chính trị, văn kiện nghị quyết hoặc các loại sách phổ biến pháp luật, giáo dục truyền thống cả?
          Anh chủ tịch xã cố thanh minh:
          - Vâng! Cháu cũng biết thế! Sau này xã sẽ cho mua bổ sung đầy đủ các loại sách chính trị, kinh tế, triết học, sách văn kiện nghị quyết và giáo dục truyền thống bác ạ!
            Giọng ông cựu phó chủ tịch huyện tỏ vẻ không bằng lòng:
          - Không được! Ngày mai các đại biểu về dự lễ đón anh hùng sẽ tham quan thư viện. Thiếu các loại sách này là không ổn. Ngay trong chiều nay anh chủ tịch xã phải cho người lên thư viện huyện mượn ngay các loại sách chính trị, các loại sách văn kiện nghị quyết đem về xếp vào cái giá sách ở trung tâm nhà thư viện. Nhớ là phải có đầy đủ toàn tập, tuyển tập của các lãnh tụ nhé! Tôi sẽ viết thư lên cho tay giám đốc thư viện huyện đề nghị tạo điều kiện giúp đỡ xã ta. Xong buổi lễ mình lại đem trả cho họ ngay!
          - Vâng ạ! Cháu sẽ nói anh phó chủ tịch phụ trách văn xã thực hiện ngay việc này! Bây giờ kính mời bác ra để ta tiến hành buổi lễ khánh thành nhà thư viện.
          Ông cựu phó chủ tịch huyện có vẻ yên tâm:
          - Ừ… Thế thì tốt. Bây giờ ta ra để cắt băng khánh thành nhà thư viện!
          Vậy là do tình cờ đi đái qua phía sau phòng làm việc của chủ tịch xã nên hắn đã nghe được đoạn đối thoại trên của anh chủ tịch xã với ông cựu phó chủ tịch huyện. Hắn thấy hơi tự ái. Vì thế lúc tiến hành buổi lễ, hắn từ chối lên cùng cắt băng khánh thành thoái thác nói là ngón tay bị đau. Vậy nên chỉ có anh chủ tịch xã và ông cựu chủ tịch huyện trịnh trọng cắt băng để khai trương nhà thư viện. Sau buổi lễ khánh thành thư viện, hắn lại bảo có chuyện đột xuất ở công ty phải về ngay. Mặc cho anh chủ tịch xã cố năn nỉ, hắn vẫn gọi thằng Tâm kỹ sư đánh chiếc xe con ra đường chờ. Hắn chia tay anh chủ tịch xã.
           Đã cuối buổi chiều. Trên sân nhà văn hóa đoàn chèo của tỉnh đang chuẩn bị cho đêm biểu diễn mừng ngày hội lớn của nhân dân xã Quang Lâm. Tiếng trống chèo nghe ấm áp cả một vùng quê vẫn còn nghèo khó.
          (hết phần 35)                                                      Hà Nội, tháng 2-2011