Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2011

Truyện dài CHUYỆN ĐỜI HẮN (phần 30)

   
  
Chuyện đời hắn
Truyện của Trọng Bảo

          Cửa hàng buôn bán vật liệu xây dựng của nhà hắn thế mà đông khách. Thu đúng là người có duyên bán hàng. Hoá ra, hắn và Thu chỉ phải bỏ một chút vốn ban đầu làm ba gian nhà cấp bốn ở cổng trang trại sát mặt đường để lấy chỗ chứa hàng hóa là sắt thép, xi-măng. Gạch ngói thì xếp luôn ngay ra vườn. Hàng hoá thì đã có các nhà cung cấp đem tới ký gửi, khi nào bán gần hết hàng thì họ mới đến lấy tiền rồi lại tiếp tục rót thêm hàng mới. Có chủ hàng gọi mãi họ mới đến nhận tiền. Thành thử kho hàng trị giá đến cả tỷ đồng nhưng toàn là của các chủ hàng đem đến chưa thanh toán.
          Việc buôn bán vật liệu xây dựng ngày càng phát đạt. Cửa hàng của nhà hắn đảm bảo vật liệu xây dựng cho cả vùng. Hắn thuê hẳn một chiếc xe vận tải nhẹ để chở xi-măng, sắt thép, gạch ngói đến tận chân công trình theo yêu cầu của khách hàng. Đơn vị thi công mặt đường đặt hàng hắn cả trăm tấn xi-măng, sắt thép để xây cầu, cống, rãnh thoát nước. Cửa hàng của hắn đều cung ứng đầy đủ. Thực ra có lúc cửa hàng của hắn gần như một trạm trung chuyển vật liệu xây dựng cho các công trình đang thi công. Nhiều xe chở vật liệu đến không kịp nhập kho đã chạy thẳng ngay đến nơi khách hàng  đang yêu cầu. Việc buôn bán phát triển nên việc ghi chép sổ sách, làm hóa đơn chứng từ nhiều nên hắn phải thuê thêm người phụ việc. Đầu tiên là có thêm một cô bé vừa tốt nghiệp trung cấp kế toán chưa có việc về làm kế toán cho cửa hàng, chịu trách nhiệm quản lý sổ sách và phụ việc bán hàng cùng với Thu.
          Mọi chuyện tưởng như đang xuôi chèo, mát mái thì lại xảy ra sự cố.
          Hôm đó, cửa hàng đang nhập một xe hai mươi tấn xi-măng Hoàng Thạch thì có một toán người ập đến. Đó là đoàn kiểm tra liên ngành. Dẫn đầu lại là ông phó chủ tịch kiêm trưởng công an xã, người đã dẫn các cán bộ an ninh đến nhà hắn bắt cướp dạo trước. Họ gồm công an, thuế vụ và quản lý thị trường. Cửa hàng buôn bán vật liệu xây dựng của hắn bị họ đòi lập biên bản phạt hành chính vì kinh doanh không đăng ký, không mở mã thuế, không nộp thuế cho nhà nước… Họ đọc lên một loạt những quy định về buôn bán, kinh doanh, về việc mở công ty tư nhân. Mà chiểu theo bất cứ quy định nào hắn cũng vi phạm cả. Hắn nghe ù cả tai mà chả hiểu ngô khoai ra sao. Họ thông báo là sẽ đóng cửa cửa hàng, niêm phong cả kho hàng hóa. Hắn nổi xung lên định quát tháo, tống cổ đám người này ra khỏi cửa hàng thì cái Hà-con bé vừa được vợ chồng hắn thuê về làm kế toán kéo tay hắn vào phía trong bảo:
          - Họ nói đúng đấy chú ạ!
          - Thế thì chúng ta sai à?
          - Vâng! Cửa hàng của ta không có giấy phép kinh doanh, không có mã số, không nộp thuế là trái với các quy định của nhà nước.
          - Tao tưởng cứ có tiền thì muốn làm gì thì làm chứ! Tiền của mình chứ tiền của họ đâu?
          Con bé mỉm cười:
          - Kinh doanh buôn bán thì cũng đều phải xin phép chú ạ! Cháu thấy cô chú nên xin phép thành lập hẳn một công ty tư nhân chú ạ! Khi đó thì mình buôn bán thoải mái, hóa đơn giá trị gia tăng do chính ta phát hành, không phải mua hóa đơn khống rồi mượn danh của các công ty khác để đưa cho khách hàng nữa, không còn lo ai kiểm tra, kiểm soát, hạch sách nữa. Về việc làm hồ sơ thủ tục xin phép thành lập công ty chú cứ để cháu sẽ lo.
          - Thế à… nhưng còn việc hôm nay thì tính sao bây giờ?
          - Việc này cũng cứ để cháu lo… nhưng…
          - Nhưng gì nữa?
          - Chú cho phép cháu “chi nóng” một ít tiền và để ngoài sổ sách nhé!
          - Chi vào việc gì?
          - Dạ! Thì chi vài trăm ngàn “bồi dưỡng” cho “đoàn kiểm tra liên ngành đột xuất” này để họ vui vẻ ra về chú ạ!
          Hắn cũng chưa hiểu ra sao. Còn con bé Hà thì lại có vẻ rất thành thạo việc này. Nó mở cặp lấy ra bốn cái phong bì. Mỗi cái phong bì nó nhét vào hai trăm nghìn đồng. Bốn ông gồm phó chủ tịch xã, công an, quản lý thị trường, thuế vụ với nét mặt khó đăm đăm vẫn đang ngồi chờ để lập biên bản. Cái Hà kẹp mấy cái phong bì vào tờ báo rồi ra tiếp họ. Con bé khéo léo trấn an các nhà hành pháp rằng cửa hàng này chỉ vừa mới mở, đang thăm dò thị trường để xác định mặt hàng, nhóm hàng ưu thế nên chưa xin cấp phép kinh doanh. Khi đã định hình được mặt hàng chủ yếu sẽ lập tức xin cấp giấy phép ngay. Nó nói một thôi, một hồi. Giọng nó dẻo kẹo. Cứ theo lời nó nói thì cái cửa hàng này đang thua lỗ nặng, nguy cơ sắp phá sản đến nơi rồi. Ông phó chủ tịch xã và mấy tay phòng thuế, quản lý thị trường cũng thấy xiêu xiêu trong lòng… Họ làm ra vẻ hết sức thông cảm, chia xẻ với những người kinh doanh buôn bán nhỏ trong cơ chế thị trường cạnh tranh vô cùng khốc liệt. Rồi họ nhận tờ báo có kèm theo mấy cái phong bì bồi dưỡng và kéo nhau ra về. Ra đến sân, ông phó chủ tịch xã còn cố quay lại đe:
          - Phải xin phép cẩn thận rồi hẵng tiếp tục kinh doanh nhé! Nếu không là phạm luật đấy!
          - Vâng… vâng…
          Cái Hà đáp. Vừa tiễn đoàn cán bộ hành pháp ra đến đường quay vào nó đã nhéo nhéo điện thoại: “Họ biến hết rồi! Tiếp tục cho xe đến lấy hàng nhé!”. Hắn nhìn con bé nghĩ nó đúng là một nhân tài đây. Và cũng nhờ có cái Hà mà công ty TNHH Hoàng Thu được thành lập. Tự nhiên hắn trở thành giám đốc, Thu là phó giám đốc và cái Hà làm kế toán trưởng. Công ty vẫn chuyên kinh doanh ngành vật liệu xây dựng nhưng hắn thì đã nghĩ đến một tương lai khác.
          Từ khi công ty TNHH Hoàng Thu được thành lập việc buôn bán, kinh doanh càng phát đạt, nộp thuế đầy đủ. Một hôm, ông phó chủ tịch xã lại đến. Lần này ông không dẫn theo công an, quản lý thì trường và cán bộ thuế nữa. Một anh cán bộ văn hoá xã đi cùng với ông. Họ bước vào cửa hàng. Hắn gọi con bé Hà pha nước mời khách. Sau khi vui vẻ khen ngợi việc làm ăn của công ty phát triển và tinh thần chấp hành nghiêm túc pháp luật, nộp thuế đầy đủ, đúng hạn của công ty, ông phó chủ tịch xã thông báo việc xã đang xây dựng công trình nhà văn hoá và kêu gọi các cá nhân, doanh nghiệp trên địa bàn đóng góp vì sự nghiệp mở mang văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống tinh thần nhân dân địa phương. Thế là lại phải đóng góp. Hắn quyết định trích lợi nhuận ủng hộ mười triệu đồng. Ông phó chủ tịch xã và anh cán bộ văn hoá vô cùng vui vẻ ra về. Mấy hôm sau bà chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ xã đến, lại thêm hai triệu ủng hộ hội phụ nữ xã để xây dựng quỹ góp phần phát triển kinh tế gia đình cho hội viên. Tiếp mấy hôm sau nữa là ông cán bộ mặt trận tổ quốc đến. Lần này là quyên góp ủng hộ đồng bào bị lũ lụt. Về việc này thì hắn sốt sắng đóng góp ngay. Hắn nghĩ đến cảnh người dân, trẻ em vùng lũ ngồi vắt vẻo trên nóc nhà giữa biển nước mênh mông chờ tiếp tế. Nhưng hắn rất bực chuyện cứ phải liên tục đóng góp vào nhiều loại quỹ vớ vẩn của xã. Cái Hà bảo hắn:
          - Không tránh được đâu chú ạ! Mình phải coi đây là một phần trong chi phí sản xuất thôi.
          - Nhưng tao chỉ bực những bọn chuyên “há miệng chờ sung” lúc người ta  khó khăn, làm ăn thất bát thì chả thấy mặt mũi ở đâu, lúc có được tý ti lợi nhuận thì lập tức nhâu nhâu bu đến kiếm ăn! Ngày trước ở bãi vàng có bọn chủ bưởng, bọn đầu gấu bóc lột “phu vàng” cũng không nhiều khoản phải nộp như thế này. Mà ngày ấy đừng hòng thằng nào thu được của tao nhé, còn bây giờ thì ai đến thu cũng được!
          Tuy vậy hắn lại bảo:
          - Khi no nhớ đến lúc đói, khi có của ăn, của để phải nghĩ đến lúc cơ hàn cháu ạ!
          - Cháu nhớ rồi ạ!
          Còn hắn thì không quên một bữa đang ngồi phụ vợ bán hàng thì có một người khách đi vào. Đó là một người đàn bà trông dáng vẻ là người lầm than khốn khổ. Nét mặt chị tiều tụy như vừa trải qua một sự cố gì nghiêm trọng trong gia đình. Thấy chị ta cứ thẫn thờ rờ rẫm bên đống tấm lợp prô-xi-măng, hắn buột miệng hỏi:
          - Chị định mua tấm lợp prô-xi-măng để về để lợp chuồng lợn à?
          Nghe hắn hỏi người đàn bà sững người rồi ngồi sụp xuống ôm mặt khóc nức nở. Hắn lúng túng không hiểu vì sao. May đúng lúc ấy Thu và cái Hà vừa đi giao hàng về. Hai người xúm lại hỏi han, an ủi người đàn bà. Khi người đàn bà nguôi nguôi, chị ta kể lại câu chuyện về cuộc đời cực khổ của mình. Chị có chồng và hai người con gái. Do không sinh được con trai nỗi dõi tông đường nên chị bị gia đình nhà chồng khinh rẻ, miệt thị. Anh chồng suốt ngày say xỉn, đồ đạc trong nhà bán hết và thường xuyên đánh đập ba mẹ con. Người mẹ không được ngồi ăn cùng gia đình. Mỗi bữa chị chỉ có lưng bát cơm cháy còn bỏ thừa trong nồi. Đã thế chị phải làm lụng quần quật suốt ngày nên người  trông gầy yếu xơ xác. Đứa con gái lớn mới mười lăm tuổi bị bố đánh mắng liên miên đã bỏ nhà ra đi, bây giờ không biết sống chết ra sao. Nghe nói nó bị bọn buôn người lừa đem bán sang Trung Quốc. Đứa con gái nhỏ đang học lớp một cũng bị bố đánh gãy tay phải bỏ học. Khi anh chồng đưa một người đàn bà khác về thì hai mẹ con họ bị đuổi ra khỏi nhà. Hai mẹ con không tiền, không chỗ nương thân. Chị đưa con chui vào một hốc đá ở tạm. Hai mẹ con nhịn đói nằm ôm nhau. Sáng ra, chị tìm đến cửa hàng bán vật liệu xây dựng định mua chịu bốn tấm prô-xi-măng để về làm một cái lán nhỏ ven đường lấy chỗ trú thân cho hai mẹ con. Chính vì nghe câu hỏi vô tình của hắn là có phải mua prô-xi-măng về để lợp chuồng lợn hay không nên người đàn bà khốn khổ đã bật khóc vì tủi thân.
          Nghe câu chuyện của người đàn bà mọi người đều ngậm ngùi. Hắn thấy căm ghét thằng chồng vô lương của chị ta. Hắn chỉ muốn đi tìm và nện cho nó một trận. Hắn bàn với Thu và cái Hà đem vật liệu giúp chị ta dựng lấy một gian nhà nhỏ, lại cho hai mẹ con ba chục cân gạo để có chút lương thực ăn qua lúc khó khăn. Câu chuyện của người đàn bà khốn khổ khiến hắn nhớ lại quãng đời trôi dạt, khốn khó của mình trước đây. Nhưng hắn là đàn ông, lại một thân, một mình nên bất cần đời, tự kiếm sống cũng dễ. Còn những người đàn bà ốm yếu, con nhỏ thì để tồn tại được không phải là đơn giản gì.
         (hết phần 30)                                           Hà Nội, tháng 2-2011

Thứ Ba, 14 tháng 6, 2011

Truyện dài CHUYỆN ĐỜI HẮN (phần 29)

           

Chuyện đời hắn
Truyện của Trọng Bảo 

         Khi các công nhân làm nền đường rời đi rồi hắn và Thu lại tiếp tục quay về với cái trang trại của mình. Số tiền lương ít ỏi mấy tháng làm công nhân  hợp đồng họ đầu tư vào mua cây vải thiều giống, phân bón cho lúa và chè. Con đường hình thành nên bắt đầu có nhiều người qua lại thung lũng Ma Gà. Dọc theo tuyến đường có các cụm dân cư mới hình thành.
          Một hôm, đào hố trồng cây trên bờ cái ao mới đào, hắn chợt thấy cái gốc cây sù sì mà máy xúc nhấc lên bỏ ở một góc ruộng ẩm ướt đang nảy ra những cái chồi non. Đó là một gốc lộc vừng. Hoá ra cái cây không chết. Nhìn cái gốc cây có dáng vẻ kỳ dị, hắn nảy ra một ý. Hắn nhờ mấy người giúp di chuyển về góc sân nhà. Hắn trồng cái gốc cây ngay góc sân lối cổng đi vào. Cái cây hồi sức đâm rễ, vươn cành lộc non. Nó tuy già cỗi nhưng vẫn còn chứa chất nhựa sống ở bên trong.  Nhân dịp làm sân và xây hai cái trụ cổng, hắn cho làm luôn một cái bể chứa nước quanh gốc cây. Giống lộc vừng phải ở gần nước mới tốt và ra hoa. Hắn tỉa tót uốn cành đẽo gọt cái gốc cây lộc vừng theo ý thích ngẫu hứng của mình. Cái gốc bây giờ trông như một pho tượng di lặc tọa ở góc sân nhà. Hắn rất thích khi cành lá lên xanh trên cái gốc cây tưởng như đã khô ấy. Hắn đặt tên cho nó là “Phật Di lặc”.
          Một hôm có ông khách lái một chiếc xe ô tô con ghé vào nhà hắn xin nước uống và hỏi đường. Ông này có vẻ là một nhà doanh nghiệp. Ông ta rất vui thích và ngạc nhiên trước một cái trang trại nơi sơn thuỷ hữu tình này. Đặc biệt ông ta rất chú ý và vô cùng thích thú với cái gốc lộc vừng trồng nơi góc sân nhà hắn. Cái cây đang ra hoa. Những chùm hoa lộc vừng buông dài xuống như những sợi râu của phật.
          Ngắm nghía gật gù chán, ông khách đột nhiên hỏi:
          - Anh bán cho tôi cây lộc vừng này và cây si gần lối cổng vào nhé!
          Tưởng ông ta đùa, hắn cười bảo:
          - Cái cây lộc vừng “Phật Di lặc” cổ thụ này có trả đến tiền triệu chưa chắc tôi đã bán đâu nhé!
          - Tiền triệu cơ à?
          Ông ta hỏi lại và vớ lấy cái cặp khoá số vẫn xách theo bật “tách” một cái rồi lôi ra một tập tiền mới cứng đặt vào tay hắn nói:
          - Năm chục triệu đây! Ngày mai tôi sẽ cho xe đến đào cây!
          - Ơ… ơ…
          Hắn ngơ ngác. Ông khách lại mở cái cặp lấy tiếp ra một cọc tiền loại năm mươi nghìn đồng đưa cho hắn và nói thêm:
          - Còn đây là năm triệu! Tiền bồi thường để anh xây lại cái cổng nhà và đào bỏ mấy cây vải thiều lấy lối cho xe ô tô tải vào đào, chở cây. Ngày mai, tôi sẽ phải phá cái cổng để cho xe cẩu vào đào hai cái cây đấy! Mà anh gọi cái cây lộc vừng này tên là gì nhỉ! Là “Phật Di lặc” à? Hay… hay quá, nhìn đúng là thật giống ông Phật Di lặc lắm… ha… ha… ha…
          Hắn càng ngạc nhiên. Một cái gốc cây vứt đi mà lại bán được nhiều tiền đến thế này cơ à! Cả đời hắn chưa bao giờ lại có một số tiền lớn đến thế. Ông khách phóng xe đi rồi thì Thu đi chợ về. Biết chuyện, Thu cũng hết sức ngạc nhiên. Cầm tập tiền trong tay cô chợt hốt hoảng kêu lên:
          - Thôi chết! Hay là tiền giả, khéo mà anh bị ông ta lừa rồi!
          - Nhưng mà ông ta lừa mình cái gì cơ chứ?
          - Ừ nhỉ! Ông ta cũng đã đào hai cái cây đem đi đâu mà bảo là bị lừa!
          Thu cẩn thận giở tập tiền ra xem kỹ lại từng tờ năm trăm nghìn đồng mới tinh còn thơm mùi mực in rồi lại lẩm bẩm:
          - Đúng là tiền thật rồi anh ạ!
          Hai vợ chồng gần như suốt đêm không ngủ vì bất ngờ có một số tiền lớn đến thế. Họ cũng chưa nghĩ ra sẽ làm gì với số tiền lớn này. Năm mươi triệu đồng với họ bằng cả một gia tài đấy.
          Sáng hôm sau, ông khách mua cây hôm trước lại đến. Theo sau chiếc xe con do ông ta tự lái còn có một chiếc xe vận tải lớn và một chiếc xe công trình có gầu ngoạm. Họ sẽ cẩu gốc lộc vừng và đào cây si đưa lên xe tải chở đi. Khi người lái xe cẩu và mấy người đi theo tiến hành phá cái cổng và đào cây si thì anh lái xe tải nhảy xuống đi đến chỗ hắn. Hắn nhận ngay ra đó là thằng Hạnh, lái xe ủi ở bộ phận thi công làm nền đường dạo trước. Hạnh bảo bây giờ làm lái xe cho doanh nghiệp tư nhân của ông chủ là người đã mua cây của nhà hắn. Hạnh ngó nghiêng có ý dè chừng ông chủ rồi túm tay kéo hắn ra chỗ khuất nơi đầu nhà và hỏi nhỏ:
          - Sao anh bán hai cái cây rẻ quá thế?
          - Năm mươi triệu đồng, cả một đống tiền đấy!
          - Đúng là anh không hiểu gì rồi! Anh bán rẻ quá, mất ít nhất một nửa số tiền rồi. Hai cái cây này ông ấy mua năm mươi triệu đem về chỉ cần uốn nắn, sửa sang thêm một chút rồi bán lại, thấp nhất cũng phải trên một trăm triệu đồng đấy!
          - Làm gì ghê gớm đến thế! Mày vẫn cứ cái tính hay huếnh lên…
          - Đúng là anh chả biết mẹ gì về bon sai, cây cảnh rồi! Em đi theo ông chủ này mua bán cây cảnh mãi rồi nên em biết rất rõ! Cái cây si và gốc lộc vừng tuyệt đẹp thế này giá cả không phải là vừa đâu nhé!
          Thằng Hạnh lắc đầu rồi dặn thêm:
          - Lần sau nếu định bán cây gì anh nhớ là phải phôn cho em biết trước để em lên xem rồi tư vấn cho nhé, không thì lại hố to với họ đấy! Số điện thoại của em đây.
          Nói xong, nó nhét vào tay hắn một mẩu giấy nhỏ rồi chạy đi. Ông chủ đang kêu nó đánh lùi chiếc xe tải vào để đưa hai cái cây lên xe. Khi bọn họ đem hai cái cây đi rồi hắn vẫn còn ngỡ ngàng trước những điều thằng Hạnh vừa nói. Hắn không tin là hai cái cây cổ thụ hoang dại mà lại có giá cao đến thế. Nhưng có lẽ nó nói thật. Hắn chợt nhớ chuyện hôm qua ông khách chả thèm mặc cả một câu nào đã đưa luôn cho hắn năm chục triệu đồng mà không cần ghi hoá đơn, giấy biên nhận gì. Rồi ông ta lại còn chi thêm những năm triệu nữa để hắn xây lại cái cổng và di chuyển mấy hom vải thiều. Cái cổng chỉ là hai trụ gạch, mua một túi xi-măng rồi tự hắn xây lại cũng chả hết một trăm ngàn đồng. Hắn kể lại cho Thu nghe những điều thằng Hạnh đã nói, Thu cũng ngớ người ra rồi bảo:
          - Thảo nào mà ông ta đưa tiền cho anh nhanh đến thế!
          Hắn bảo:
          - Chỗ bờ ao còn gần chục gốc lộc vừng và mấy gốc si già nữa, nếu như thế này thì là cả một gia tài rất lớn đấy!
          Thu gật đầu dặn hắn phải chú ý bảo vệ mấy gốc lộc vừng, cây si trong trang trại. Cô bàn với hắn dùng số tiền hơn năm mươi triệu như vừa từ trên trời rơi xuống ấy mở một cửa hàng nhỏ bán vật liệu xây dựng. Hắn đồng ý với Thu vì từ khi con đường mở ra nhu cầu vật liệu xây dựng ở đây rất cao. Nhiều nhà dân, công trình dân sinh, công trình công cộng đang khởi công dọc hai bên đường. Hắn cũng nghĩ ngay đến mấy cây lộc vừng còn lại chỗ bờ ao và đám ruộng ngập nước. Có ba cái cây gần nhau rất giống ba ông tam đa mà hắn vẫn gọi là “Phúc-Lộc-Thọ”. Ba cây ấy mà bán thì chắc cũng bội tiền. Nhưng hắn nghĩ sẽ không bao giờ mình bán thêm một cái cây nào nữa mà hắn sẽ trồng thêm nhiều cây để làm cho cái thung lũng Ma Gà này ngày một xanh tươi hơn.
         (hết phần 29                                                      Hà Nội, tháng 2-2011

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2011

Truyện dài CHUYỆN ĐỜI HẮN (phần 28)

 

    
      
Chuyện đời hắn
Truyện của Trọng Bảo

          Thung lũng Ma Gà dần dần thay đổi. Có bàn tay lao động cần mẫn của con người thì tất sẽ có sự đổi thay. Cho dù là sự thay đổi chậm chạp. Hắn và Thu suốt ngày hì hục ngoài đồi, dưới ruộng. Hắn cũng không ngờ một cô gái mảnh khảnh và xinh đẹp như Thu lại có sức khoẻ dẻo dai và nghị lực lớn như thế. Ở con người cô hình như có một sức mạnh tiềm ẩn to lớn. Có lẽ đó là những ẩn ức của những năm tháng bị coi là ma gà không được sống như một con người bây giờ mới được giải tỏa. Hắn giao toàn bộ số tiền mình đã tích cóp được cho Thu mua công cụ lao động, cây giống, hạt giống để sản xuất. Họ tính việc sẽ cấy lúa ở chỗ những khoảnh ngập nước, trồng chè trên đồi và đào hố đặt thử mấy chục cây vải thiều dọc lối đi trong trang trại, vừa thử xem nó có phù hợp chất đất và cũng để lấy bóng mát.
          Nhưng thay đổi của thung lũng Ma Gà cũng chỉ là nhỏ bé. Muốn trở thành một trang trại sinh thái hoặc sản xuất làm ăn lớn thì phải có vốn đầu tư. Mà hai người thì không có tiền. Một ít tiền công làm cửu vạn của họ chỉ là chút muối bỏ biển và chỉ đủ tiền ăn cho hai người vài tháng. Hoá ra làm ăn kinh tế không phải là dễ. Hắn nghĩ đến việc đi vay vốn. Nhưng khu trang trại chưa có sổ đỏ không thể thế chấp để vay vốn. Còn tín chấp thì họ cũng không thể đem cái giấy quyết định tha tù của hắn ra ngân hàng. Thế là bế tắc. Hắn chợt nhớ lại cái ngày đào vàng trên Tây Bắc. Giá mà hồi ấy hắn vớ được một cục vàng bằng quả bưởi có phải bây giờ tha hồ mà đầu tư phát triển kinh tế trang trại! Nhưng hắn lại phì cười với ý nghĩ dại dột ấy của mình. Vì nếu có một cục vàng bằng quả bưởi thì việc đếch gì hắn phải đi làm cửu vạn nữa. Mà nếu không đi làm cửu vạn thì làm sao hắn gặp được em Thu và đến với cái trang trại Ma Gà này! Trong đầu hắn cũng thoáng nhớ đến người đàn bà giàu có xinh đẹp ở ngôi nhà ven hồ và lão chủ cơ sở sản xuất than tổ ong Sông Đuống. Song đó là những chuyện đã qua rồi. Hắn từng đã chả phải “bỏ của chạy lấy người” đấy thôi.
          Thôi đành bắt đầu theo kiểu cò con vậy. Hắn nghĩ. Còn Thu thì lại tính toán, suy nghĩ khác hắn. Với cô việc thoát khỏi cái “nghi án” ma gà rồi lại có chồng thì đã là một hạnh phúc lớn nhất của đời mình rồi. Bây giờ đối với Thu chỉ cần có một ngôi nhà tương đối khang trang, một khu ruộng vườn cây cối xanh tươi, có chút vốn phòng khi ốm đau, mưa nắng nữa thôi là đủ.
          Một buổi sáng, hắn đang đào hố trồng cây trên quả đồi nhỏ trước nhà thì có một toán người mặc áo công nhân đi vào. Vài tháng nay con đường nhỏ phía đầu thung lũng xuất hiện nhiều người qua lại đo đạc, phát tuyến. Một người có vẻ nhiều tuổi nhất trong toán công nhân chào hắn rồi nói:
          - Bọn chúng tôi về đây để làm đường. Chúng tôi đến xin ở nhờ vài hôm để tiến hành làm lán trại trú chân!
          - Được thôi! Nhưng nhà hẹp và ẩm thấp lắm! - Hắn nói.
          - Không sao! Bọn chúng tôi là công nhân cầu đường, nay đây mai đó, có chỗ trú chân tránh mưa nắng là quá tốt rồi…
          Rồi anh ta tự giới thiệu:
          - Tôi là Toàn, tổ trưởng, còn các anh em đây là cùng trong tổ lái máy xúc, máy ủi. Bọn chúng tôi đi tiền trạm trước chuẩn bị chỗ ăn ở để nay mai đưa máy móc vào làm nền con đường chạy qua thung lũng này!
          Qua câu chuyện với toán công nhân, hắn mới biết có một con đường sẽ  được mở qua khu rừng núi hoang vu này. Con đường ấy sẽ chạy qua ngay phía nam thung lũng Mà Gà. Hắn đồng ý cho đám công nhân làm lán trại ở sườn quả đồi ngay lối vào trang trại. Thu đi chợ về, cô vui vẻ giúp bọn họ nấu cơm. Anh Toàn tổ trưởng lại bảo:
          - Hai vợ chồng cậu còn son rỗi hay là làm hợp đồng thời vụ cho bọn chúng tôi nhé! Chú Lỗi làm việc ở bộ phận máy ủi nền đường, cô Thu làm phục vụ, đi chợ, nấu cơm, đun nước uống cho anh em!
          Hắn sửng sốt:
          - Tôi có biết quái gì về máy móc đâu mà làm ở bộ phận máy ủi! Lỡ tôi lái máy ủi phóng luôn xuống suối thì chết cả lũ à?
          Mấy thằng công nhân trẻ phá lên cười ngặt nghẽo. Cười chán, một thằng mới giải thích:
          - Bộ phận máy ủi thi công nền đường cần có một số người lao động thủ công để phát rừng, dọn tuyến, đánh gốc cây, đục lỗ nổ mìn phá đá và nhất là cứu hộ xe máy bị sự cố khi thi công anh ạ!
          - Thế thì được! Nhưng tôi chỉ làm một thời gian khi trang trại đang ít việc thôi đấy nhé!
          Anh Toàn tổ trưởng lại nói:
          - Thì chúng tôi cũng chỉ cần cô chú làm hợp đồng thời vụ trong thời gian bọn tôi ở đây thôi. Thi công xong nền đường là chúng tôi di chuyển đi cung đoạn khác ngay. Nếu hai người đồng ý thì ngày mai tôi sẽ báo lên ban chỉ huy đội để họ cử người đến ký kết hợp đồng lao động…
          Thế là hắn và Thu trở thành “công nhân” làm đường. Đúng như anh Toàn tổ trưởng tổ máy ủi đã nói. Công việc của hắn thật đơn giản. Hàng ngày theo sự hướng dẫn của các kỹ thuật viên, những người công nhân lao động thủ công xác định các cọc tim đường, các cọc tiêu tiếp đầu, tiếp cuối của đoạn đường đã được thiết kế rồi tiến hành việc phát tuyến, dọn sạch cây cối cho xe máy tiến vào thi công đào đắp nền đường. Hắn còn được giao thêm nhiệm vụ canh gác, bảo vệ máy móc khi cánh lái xe nghỉ ngơi, ăn cơm trưa. Thu đảm nhiệm công tác hậu cần cho cả bọn. Thu nấu ăn rất ngon nên đám công nhân thích lắm.
          Tuyến đường bắt đầu được thi công. Tiếng xe máy ầm ầm, tiếng nổ mìn phá đá dội vào vách núi. Giả sử thung lũng Ma Gà có ma thật thì ma quỷ cũng kinh hồn bạt vía. Những chiếc máy ủi, máy xúc ngoạm đất đá gạ­m vào vách núi. Con đường dần hình thành. Những gốc cây to bị ủi bật lên cả rễ. Có cái gốc cây chết từ bao nhiêu năm trước lấp vùi dưới lòng đất sâu cũng bị máy xúc, máy ủi moi bật cả gốc rễ lên hất xuống suối. Hàng ngày đi làm về, hắn đều tranh thủ mượn xe cải tiến của đội nhặt nhạnh, chở các gốc cây, có cái đã thành lũa ấy về chất đầy ở một bãi đất trống trong khu trang trại. Hắn đã có một dự định khác trong tương lai.
          Một hôm, đắn đo mãi hắn mới dám đề nghị với anh tổ trưởng:
          - Các anh chắc cũng sắp chuyển đi nơi khác thi công! Tôi muốn thuê máy móc của tổ đào một cái ao thả cá trong thung lũng Ma Gà có được không ạ?
          - Ồ… được… được… nhưng mà thuê mướn quái gì! Chỉ cần cậu chi tiền dầu máy là được! Mà thôi, để tôi bảo thằng Hạnh nó kiểm tra lại xem số dầu máy tiết kiệm được có còn nhiều không! Anh em trong tổ sẽ đào cho nhà cậu một cái ao thả cá thật đẹp để làm kỷ niệm! Chủ nhật này ta làm luôn nhé. - Anh Toàn bảo.
          Thế là ngay trong ngày chủ nhật cuối tuần ấy, đám công nhân huy động máy móc đào giúp hắn một cái ao giữa thung lũng Ma Gà, nơi vẫn thường bị ngập nước có những cái gốc cây lộc vừng cổ thụ lù sù. Thu thịt gà làm cơm thiết đãi và cũng là để chia tay với đám công nhân làm đường. Đầu tuần tới bọn họ đã rời đi nơi khác rồi. Anh tổ trưởng đề nghị hai vợ chồng hắn đi theo tiếp tục làm công nhân hợp đồng và có thể một thời gian sau nữa sẽ trở thành biên chế chính thức của đội thi công nền đường, ăn lương nhà nước hẳn hoi. Nhưng hắn và Thu từ chối. Họ muốn trở về với cái trang trại của mình. Bữa cơm hôm ấy thật vui. Trang trại Ma Gà chưa bao giờ vui đến thế. Bọn công nhân ăn uống thoải mái, hò hát ầm ĩ. Có lẽ trong cuộc đời hắn những ngày làm công nhân thời vụ cho đội thi công mặt đường tuy vất vả nhưng thật vui. Và tuy chỉ có mấy tháng làm đường, hắn còn được họ tặng cả giấy khen nữa.

 *
          Đó là câu chuyện xảy ra ở đoạn đường qua suối giữa rừng. Chính ở con suối này mẹ và bố Thu đã bị nước lũ cuốn trôi. Hôm đó, trời cũng mưa rất to. Khi chiếc máy ủi đang làm việc thì bị sự cố sa xuống sát mép nước. Nước lũ lại đang tràn về. Đám công nhân phải rất khẩn trương tìm cách kéo ngay chiếc máy ủi lên cao nếu không nó bị lăn xuống suối thì thôi rồi. Đây lại là một chiếc máy mới vừa được đưa vào thi công.
          Giữa lúc cả bọn hối hả đào đất và móc dây tời để kéo chiếc máy ủi lên thì một thằng đang moi đất  ở phía đầu máy bỗng hốt hoảng kêu to:
          - Có một quả bom…
          - Ồi… giời ơi… nguy hiểm quá… tất cả chạy đi…
          Cả bọn hốt hoảng chạy rạt ra. Có một quả bom nằm ngay dưới bánh xích của chiếc xe ủi. Quả bom này chắc là từ chiến tranh phá hoại bọn Mỹ ném xuống, hoặc có khi là bom từ thời kháng chiến chống Pháp cũng nên. Đám công nhân hốt hoảng chạy rạt ra rất xa, không ai dám đến gần. Nước lũ dưới dòng suối vẫn tiếp tục dâng lên. Nếu không nhanh thì chiếc máy ủi sẽ bị dòng nước nhấn chìm, thiệt hại sẽ rất lớn. Trong khi cả bọn run cầm cập vì sợ hãi thì hắn rời khỏi chỗ ẩn nấp bình tĩnh đi xuống chỗ chiếc máy ủi. Có tiếng quát:
          - Chú Lỗi cẩn thận đấy!    
          Hắn nhận ra tiếng anh tổ trưởng. Hắn thận trọng tiến đến gần chiếc máy ủi xem xét. Quả bom nằm ngay dưới bánh xích phía đầu xe. Một phần quả bom lòi nhô hẳn ra nhìn rõ cả kíp nổ. Chỉ cần moi đất phía dưới sẽ lôi được quả bom ra khỏi xích xe. Hắn nghển cổ gọi mọi người vào giúp nhưng không ai dám tiến đến. Họ đều biết quả bom đã bị máy xúc ngoạm lên rồi máy ủi lại gạt đẩy ra, ngòi nổ bị va chạm nên nguy cơ phát nổ sẽ rất cao. Không ai hỗ trợ hắn. Hắn cẩn thận dùng tay moi đất bên dưới để lôi quả bom ra khỏi dải xích của chiếc xe ủi. Quả bom độ năm mươi cân. Nó không quá nặng nhưng vì mưa ướt trơn tuột nên rất khó lôi ra. Nhưng hắn không bỏ cuộc. Cả người hắn ướt sũng vì nước mưa và bê bết bùn đất. Phải mất một hồi lâu hắn mới lôi được quả bom ra. Hắn vác quả bom lên vai. Đám công nhân rú lên hốt hoảng hô nhau chạy tán loạn khi thấy hắn vác quả bom lừ lừ đi về phía họ. Hắn không thể đưa quả bom sang bên kia bờ suối vì nước lũ đã dâng cao ngập quá đầu người. Hắn đành đi ngược lên phía đỉnh dốc. Nền đường mới làm mưa xuống trơn tuột. Quả bom cũng trơn tuột chỉ chực tuội khỏi vai hắn lao xuống đất. Hai tay hắn phải cố ghìm để giữ chặt quả bom trên vai. Các  công nhân nằm ép sau các mô đá, gốc cây theo dõi từng bước chân của hắn. Họ hét lên kinh hãi mỗi khi hắn loạng choạng suýt trượt chân. Thời gian trôi đi rất chậm. Mưa vẫn rơi ào ào. Đường trơn tuột. Hắn phải bấm chân xuống mặt đường thận trọng từng bước đi. Hắn vác quả bom đi ngược lên phía đỉnh dốc. Lúc này biết chuyện Thu cũng đã chạy ra mặt đường. Thu nép sau một gốc cây to lo lắng theo dõi hắn vác quả bom đi. Tim cô như ngừng đập.
          Hắn vác quả bom rẽ vào một khe núi ở lưng chừng dốc. Quả bom đã được để vào một chỗ an toàn mà nếu nó có phát nổ thì cũng không gây ra ảnh hưởng gì cho con đường đang mở. Mãi mấy hôm sau bộ đội công binh của tỉnh đội mới đến xem xét rồi ép thuốc nổ phá huỷ quả bom.
           Khi quả bom đã được chuyển đi, bọn công nhân mới dám lao xuống tiếp tục cứu máy. Chiếc máy ủi được kéo lên nơi an toàn trước khi lũ lớn tràn về nhấn chìm cả đoạn đường đang thi công. Sau vụ việc này, hắn được cấp trên trao tặng một cái giấy khen và hai trăm ngàn đồng đúng theo quy chế khen thưởng của nhà nước.
            (hết phần 28)                                                           Hà Nội, tháng 2-2011

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2011

Truyện dài CHUYỆN ĐỜI HẮN (phần 27)

                             

Chuyện đời hắn
Truyện của Trọng Bảo

         Hắn tỉnh giấc trước.
         Đêm qua sau khi dâng hiến tất cả cho nhau hai người ngủ thiếp đi giữa cánh rừng khuya ngập tràn ánh trăng. Trời đã sáng rồi. Khu rừng râm ran tiếng chim. Thu vẫn còn đang ngủ rất ngon lành. Hắn se sẽ nhấc bàn tay của mình ra khỏi ngực cô gái. Thu khẽ cựa mình, ngực cô vồng lên tròn căng và đầy kiêu hãnh. Đôi mắt của hắn không thể nào rời được khoảng ngực trần như có một sức hút đầy ma lực của Thu. Đắn đo, rụt rè mãi hắn mới lại dám úp bàn tay của mình lên mỏm núi lửa nhỏ nóng rừng rực bên ngực trái của Thu. Trái tim trẻ trung của người con gái đang đập nhoi nhói trong lòng bàn tay của hắn.
          Thu chợt mở mắt nhìn hắn. Hắn hơi hốt hoảng như người bị bắt quả tang đang làm chuyện mờ ám. Hắn định rụt tay lại, nhưng Thu nhanh hơn. Cô ngồi dậy và túm lấy tay hắn giữ chặt trên ngực mình. Họ ngồi với nhau một lát như thế trước khi Thu kéo hắn nằm xuống. Hai người lại thâm nhập vào nhau thêm một lần nữa, rất sâu, rất lâu.
          Hai người mặc quần áo. Chân của Thu đã hơi đỡ đau. Cô vịn vào vai hắn rồi cố làm ra vẻ bình thường để hắn khỏi lo lắng. Hai người lần theo lối mòn tìm ra đường quốc lộ. Trong túi mỗi người đều có tiền. Tiền công làm cửu vạn họ luôn đem theo mình. Nhưng họ không dám đón xe chở khách vì lo sẽ bị công an bắt hoặc gặp phải bọn chủ hàng. Hai người đi nhờ được một chiếc xe chở củi xuôi thị xã Lạng Sơn. Hai người lên được một chuyến tàu chợ xuôi về Gia Lâm. Họ quyết định bỏ nghề cửu vạn để về trang trại Ma Gà của Thu.
          Hai người về đến thung lũng trang trại Ma Gà vào buổi chiều hôm sau.
          Thu tháo cái dây buộc cánh cổng đã mục nát. Hắn theo cô đi vào trong khu trang trại. Con đường đất đỏ lâu không có người đi rêu mọc lên xanh và ngập đầy lá cây. Những luống chè không người chăm sóc cỏ ngập cả rãnh. Ngôi nhà nhỏ lợp lá cọ, vách đắp bằng đất bị mưa gió táp vào làm sạt cả mảng tường bên trái. Sân nhà cũng mọc rậm cỏ dại và đầy phân bò, cứt người. Thu tần ngần đứng giữa sân nhìn ngôi nhà của mình. Một cảm giác tự nhiên trào dâng trong cô vừa thân thương vừa bùi ngùi hoang vắng. Thu rưng rưng nhớ đến bà, đến bố mẹ - những con người cả đời khốn khổ vì sự u mê của chính con người.
           Một lúc sau, cô như sực tỉnh nói với hắn:
           - Nhà em đây rồi!
           - Ừ.
           - Ôi! Về đến nhà rồi, thích thật!
          Cô khe khẽ reo và tự dưng phẩn chấn hoạt bát hẳn lên. Trở về căn nhà của mình nên cô thấy tự tin hơn. “Dọn nhà thôi!” - Thu nói và  đặt cái túi xuống bậc thềm đẩy cửa căn nhà bếp tìm con dao quắm vẫn giấu dưới đống tro tàn. Hắn cũng vớ được một cái xẻng cùn ở phía sau trái nhà. Hai người bắt đầu dọn dẹp nhà cửa. Thu tìm mãi mới thấy một cái xoong nhôm méo lăn lóc ở góc bếp. Cô kỳ cọ sạch sẽ để đun nước sôi pha mỳ tôm.
          Hai người ngồi trên bậc thềm ăn mỳ tôm. Bát mỳ tôm có vài ngọn rau rừng sao mà ngon thế. Lần đầu tiên nhìn Thu lúi húi trong bếp chuẩn bị bữa tối mà hắn thấy nao nao trong lòng cái cảm giác gia đình. Hắn nhớ hồi còn bé mỗi lần mẹ nấu cơm xong rồi ngồi chờ hắn về. Hắn thì mải chơi đến bữa không về để mẹ ngồi chờ cơm. Lúc ngồi xuống mâm ánh mắt mẹ thật vui khi có hai người ngồi ăn. Bây giờ hắn chợt bắt gặp ánh mắt của Thu cũng lấp lánh như ánh mắt của mẹ ngày nào khi hắn ngồi vào mâm. Dù cái “mâm” của hai người lúc này chỉ là tờ báo trải ra thềm nhà.
          Phải mất mấy ngày, hai người mới dọn dẹp xong nhà cửa, dọi lại cái mái nhà lợp bằng lá cọ thủng lỗ chỗ. Thu đi chợ đong gạo, mua mắm muối và vài thứ đồ dùng nhà bếp để nấu nướng. Khi cô đi vắng bọn trẻ con chăn trâu chui vào nhà tìm kiếm, lấy  trộm hết các thứ đồ đạc đem đổi kẹo, hoặc bán sắt vụn.
          Một buổi chiều chợt nghe có tiếng ho húng hắng ngoài cổng, Thu chạy ra. Lão Dử thầy cúng chống gậy đi vào. Lão nhìn Thu cười nhăn nhở:
          - Em đã về rồi à! Hay quá, hay quá...
          - Ông lại đến đây làm gì?
          - Ồ! Ta vẫn đến để trông coi nhà cửa, vườn tược cho em khi em đi vắng đấy! Lần này em về phải nhớ mà trả công đã trông coi bảo vệ trang trại cho ta đấy nhé!
          Nói xong lão thấy cúng dấn tới. Thu vội lùi lại. Biết là không còn con chó dữ nữa nên lão không sợ. Lão vừa giơ hai tay định ôm choàng lấy Thu thì bị kéo khựng lại. Hắn túm cổ lão thầy cúng nhấc lên như nhấc một con chó rồi thả xuống. Lão thầy cúng ngã dụi xuống góc sân. Hắn gầm lên:
          - Liệu hồn! Muốn sống thì đừng có bao giờ bén mảng đến đây nữa, hiểu không?
          Lão thầy cúng ngẩng mặt lên nhìn. Mồm lão há hốc, mặt tái dại đi khi nhìn thấy những hình xăm gớm ghiếc trên bộ ngực trần của hắn. Lão lồm cồm đứng dậy rồi vừa tập tễnh chạy ra cổng. Vừa chạy lão vừa kêu cứu:
          - Cứu… cướp... cướp... có... kẻ... cướp... 
          Tiếng của lão thầy cúng ú ớ, lập bập vì sợ hãi.
          Lão thầy cúng Hoảng Văn Dử chạy đi được một lúc lâu thì ngoài cổng trang trại lại có tiếng ồn ào. Cánh cổng làm bằng nứa bị phá tung bởi mấy cái xe máy Trung Quốc ầm ầm lao qua. Bốn người đeo băng đỏ, mang súng và công cụ hỗ trợ an ninh phóng xe máy thẳng vào tận sân nhà. Họ nhảy xuống xe và nhanh chóng triển khai việc bắt giữ tội phạm. Súng ống, dùi cui, roi điện lăm lăm. Chắc là họ đã nhận được tin của lão thầy cúng thông báo khẩn cấp có cướp xuất hiện ở thung lũng Ma Gà.
          Thu và hắn từ trong nhà bước ra. Một ông có vẻ là lãnh đạo chỉ cái dùi cui vào mặt hắn hỏi hất hàm:
          - Anh kia từ đâu đến đây?
          Trong khi ông ta hỏi thì những người còn lại nhanh chóng khép vòng vây xung quanh hai người sẵn sàng hành động nếu xảy ra chuyện chống lại người thi hành công vụ. Hắn hơi lúng túng. Thu gạt hắn ra rồi tiến lên trước nói, giọng cô dứt khoát:
          - Đây là anh Lỗi, chồng tôi!
          - Có giấy tờ gì không?
          Ông ta hỏi cộc lốc, không có chủ ngữ. Hắn lục túi áo tìm cái ví. Hắn rút từ trong ví ra một tờ giấy gấp nhỏ để trong một cái túi giấy bóng cho khỏi ướt đưa cho ông vừa hỏi. Ông này mở ra xem. Đó là tờ quyết định tha tù, thứ giấy tờ tùy thân duy nhất mà hắn có. Sau khi xem xét rất kỹ, đọc đi, đọc lại mấy lần, ông cám bộ kia đưa trả lại cho hắn tờ giấy rồi hất hàm hỏi:
          - Có thẻ căn cước hay loại giấy tờ gì khác nữa không?
          - Không có!
          Hắn đáp. Ông này nói tiếp:
          - Anh tuy đã hết thời gian quản chế ở địa phương rồi, theo luật anh có quyền tự do đi lại, tự do định cư ở địa phương khác. Nhưng về đây ở thì anh phải ra ủy ban xã để trình diện, xin đăng ký tạm trú, thường trú, làm chứng minh thư nhân dân và nếu là chồng của cô Thu thì phải có giấy đăng ký kết hôn, hiểu không?
          - Vâng...
          Hắn ậm ừ trong cổ họng. Ông này tự giới thiệu ông ta là phó chủ tịch kiêm trưởng công an xã, mấy người đi cùng đều là công an viên trong đơn vị an ninh thường trực cơ động của xã. Ông ta giáo huấn thêm một chập nữa về pháp luật, về tình hình trật tự an ninh của địa phương và nhắc nhở hắn phải nghiêm chỉnh chấp hành tốt đường lối, chính sách, tích cực ủng hộ địa phương, hăng hái thi đua lao động sản xuất, tham gia bảo vệ trật tự an ninh, xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh, văn minh…
           Hắn cố làm ra vẻ chăm chú lắng nghe ông phó chủ tịch xã thuyết giảng. Mấy lần hắn cục cựa chân tay tỏ vẻ khó chịu thì bắt gặp ánh mắt và cái lắc đầu nhè nhẹ của Thu nên đành cứ phải đứng im chịu trận. Sau một hồi nói như súng liên thanh, ông phó chủ tịch và những người cùng đi cùng lên xe rời khỏi khu trang trại. Khi ông phó chủ tịch và ba công an viên ào ào phóng xe máy đi rồi hắn và Thu lại bắt tay vào công việc dọn dẹp nhà cửa, củng cố trang trại, đào mương đưa nước suối về ruộng và rẫy cỏ cho mấy luống chè còi cọc. Thu dặn hắn phải bình tĩnh nín nhịn, mọi chuyện xảy ra cứ để cô lo.
           Sau bận hoang báo là có cướp, lão thầy cúng cũng biệt tăm. Không thấy lão lần mò vào khu trang trại Ma Gà thêm lần nào nữa. Nghe nói sau vụ triển khai lực lượng cơ động đi bắt cướp trượt ông phó chủ tịch xã rất bực. Ông cho gọi lão thầy cúng Hoàng Văn Dử lên cảnh cáo lão ta và nhắc nhở về tội mê tín dị đoan, tổ chức cúng bái trừ ma tà suýt nữa gây chết người do không đưa bệnh nhân đi bệnh viện cấp cứu, chữa chạy kịp thời.
          Nhưng một thời gian sau lần lão thầy cúng bị hắn đuổi khỏi thung lũng Ma Gà thì trong bản lại xuất hiện chuyện ma gà. Một gia đình có một người con gái rất xinh đẹp bị ma gà nhập vào ẩn thân để làm hại mọi người trong bản. Lão thầy cúng Hoàng Văn Dử đã cúng để giúp gia đình ấy lấy “con ma” ra khỏi người cô con gái mới mười ba tuổi. Nhưng lão ta lại làm cho cô bé ấy có một thằng người ở trong bụng. Kết cục, lão ta phải đi tù vì tội giao cấu với trẻ vị thành niên.
           Từ khi lão Dử vào tù thì trong bản, trong vùng không còn thấy có ma gà xuất hiện nữa. Con gái đẹp ra đường không còn phải ăn mặc lôi thôi, rũ cho tóc rối, lo bôi nhọ nồi, cám lợn vào mặt cho xấu xí để tránh ma nhập nữa. Hóa ra ma quỷ đều là ở con người ta mà sinh ra cả. Biết bao nhiêu người con gái xinh đẹp bị vu là bị ma nhập để rồi lại được lão thầy cúng giúp việc “trục xuất” ma ra khỏi người nhưng lại đưa thứ khác vào cơ thể. (Đoạn sau là do tác giả viết thêm, không có trong truyện: Chuyện về ma gà thì có lẽ viết mãi cũng sẽ không hết. Hồi chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979, tác giả có thấy một gia đình sống biệt lập mãi ngoài bìa rừng, rất xa các làng bản. Hỏi ra mới biết hai cô con gái của nhà này bị nghi là ma gà nên gia đình họ phải chuyển nhà ra khỏi bản. Tác giả từng vào gia đình này chơi vì nhà họ ở gần trận địa chiến đấu phòng thủ của đơn vị. Bà mẹ hai cô gái khi ngồi tiếp chuyện anh em bộ đội nước mắt cứ chảy giàn giụa trên khuôn mặt đầy đau khổ. Hai cô gái nhà nọ quả là rất xinh đẹp, nước da của hai người trắng hồng, cặp mắt ướt, tròn to và sáng long lanh. Vì bị nghi là có ma gà nên hai cô gái chẳng ai lấy được chồng. Khi cuộc chiến tranh biên giới xảy ra, tác giả còn gặp hai cô ấy đem cơm, vác đạn lên chốt cho bộ đội, băng bó, chuyển thương binh về tuyến sau. Sau đó do tuyến phòng ngự của ta bị bọn địch chọc thủng, bộ đội bị thương vong nhiều, hết đạn phải rút lui, dân bản phải chạy tứ tán khắp nơi. Hết chiến tranh không gặp lại gia đình ma gà ấy nữa. Chẳng biết rồi hai cô gái nhà ấy ra sao. Thật thương xót cho những người con gái xinh đẹp mà số phận tăm tối, phải chịu hậu quả bất công của các hủ tục mê tín dị đoan).
           Lại nói về cái trang trại trong thung lũng nhỏ của Thu và hắn đang ở ấy bỗng nhiên nổi tiếng bởi được mang cái tên “Thung lũng trang trại Ma Gà”, là một nơi luôn có nhiều người lui tới. Nhưng đó là câu chuyện của những năm sau này.
                (hết phần 27)                                                 Hà Nội, tháng 2-2011

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2011

Truyện dài CHUYỆN ĐỜI HẮN (phần 26)

            

Chuyện đời hắn
Truyện của Trọng Bảo 

          Hai người chạy sâu mãi trong cánh rừng già nơi biên giới. Đến nơi an toàn, Thu bảo hắn để mình tự đi. Tuy còn rất đau nhưng cô cắn răng cố chịu đựng. Hắn dìu Thu đi về hướng thị trấn Tân Thanh. Hai người vẫn phải lẩn tránh ngoài rừng chưa dám mò về nhà trọ. Họ đoán có thể công an sau khi bắt được bọn cửu vạn và số hàng hoá có chứa chất mà tuý và tiền giả sẽ lập tức tiến hành lục soát nơi bọn chúng tá túc để tìm kiếm thêm chứng cứ phạm tội. Họ cũng không thể trở về được còn bởi vì đã làm mất số tiền giả và ma tuý khá lớn. Bọn buôn lậu hàng cấm cũng sẽ không tha cho hai người.
          Đến một khoảng trống trong rừng, hắn và Thu dừng lại ngồi nghỉ. Đêm đã gần về sáng, ánh trăng lạnh hơn nhưng trong trẻo hơn. Cánh rừng bồng bềnh trong ánh sáng huyền ảo như mơ. Đâu đó có những tiếng kêu của con nai, con hoẵng đi ăn đêm tha thiết gọi bạn tình.
          Thu bảo hắn đưa cánh tay để cô kiểm tra và buộc lại vết thương. Lúc nãy vội, cô chỉ kịp lấy cái khăn quàng cổ của mình quấn chặt vào vết thương cho hắn. Hắn móc túi áo lôi ra một cái đèn pin Trung Quốc nhỏ xíu bằng ngón tay cái. Thu soi đèn xem kỹ vết thương. Nhát dao của thằng Phú đâm vào giữa cánh tay của hắn. Vết đâm khá sâu nhưng may không trúng vào gân nên hắn vẫn co ruỗi cánh tay lên bình thường. Thu băng lại vết thương cho hắn. Đoạn, cô ngồi bó gối nhìn mặt trăng mười sáu đang dần trôi xuống phía cuối rừng. Chợt Thu hỏi hắn:
          - Bây giờ anh định tính thế nào?
          - Còn tính gì nữa! Chờ yên yên ta lại tiếp tục đi làm cửu vạn!
          - Không ổn anh ạ! Bọn buôn ma tuý, tiền giả và cả công an nữa sẽ tìm ra chúng ta ngay!
          - Hay là ta chuyển hướng lên phía cửa khẩu Văn Lãng hay xuôi hướng Chi Ma, Lộc Bình hoặc về thị xã làm cửu vạn nội địa ở chợ, ở nhà ga.
          - Cũng khó mà thoát được bọn chúng nó!
          - Anh không sợ bọn khốn ấy!
          Thu im lặng. Hắn cũng thấy bối rối. Bởi vì hắn thì chẳng sợ bố con thằng nào. Nếu cần sẽ tỉ thí với chúng một trận sống mái. Nhưng hắn lo cho Thu. Hắn còn chưa biết tính toán ra sao thì Thu nói vẻ thăm dò:
          - Hay là về Thái Nguyên quê em!
          - Về quê em thì biết làm việc gì để kiếm sống?
          - Thì cấy lúa, trồng chè…
          - Ơ…
          Hắn ngơ ngác chưa hiểu. Thu lại thủ thỉ:
          - Quê em đất đai tuy khô cằn, cấy lúa thì năng xuất thấp, trồng chè thì cho loại chè cũng không ngon và đặc biệt như chè ở vùng Đại Từ, Tân Cương nhưng vẫn bán được. Làm ruộng, trồng chè vẫn có thể sống được…
          - Thế sao em không ở nhà cấy lúa, trồng chè mà lại phải thân gái lên tận đây làm cửu vạn vất vả?
          - Chuyện này thì… - Thu ngập ngừng rồi im lặng không nói tiếp nữa. Hình như cô đang suy nghĩ rất lung về một chuyện gì đó. Cô ngẩng mặt lên nhìn chăm chăm mặt trăng đang treo ngay trước mặt. Hắn thì lại nhìn Thu. Dưới ánh trăng khuôn mặt Thu thật trong sáng và xinh đẹp. Vẻ đẹp thuần khiết của một người con gái vùng cao. Chợt Thu lại hỏi hắn:
          - Anh có sợ… ma không?
          Hắn ngạc nhiên và chợt nhớ là đã có lần Thu từng hỏi hắn câu hỏi này rồi. Hắn phì cười:
          - Anh chả sợ ma, chỉ sợ người thôi! Người mới thật là đáng sợ hơn cả ma quỷ em ạ! Mà trên đời này làm gì có ma mà em lại hỏi thế?
          - Thì… thì em chính là một… “con ma” đấy!
          Hắn phì cười:
          - Ma gì mà lại xinh đẹp như thế này hả trời! Mà sao lạ nhỉ, ma cũng phải vất vả, gian khổ đi làm cửu vạn để kiếm tiền à! Ma thì chỉ cần hóa phép là muốn cái cái gì chả có? 
          Thu nói tiếp, giọng có vẻ nghiêm túc và buồn buồn:
          - Chính vì bị coi là ma nên em mới phải bỏ cả nhà cửa bản làng quê hương lên biên giới làm cửu vạn đấy! Anh yên lặng để em kể cho mà nghe nhé!
          Thấy vẻ nghiêm trang của Thu hắn không dám đùa nữa.
 *
          Câu chuyện của cô gái đưa hắn về với một miền rừng núi có những bản người Tày còn mông muội và có rất nhiều hủ tục lạc hậu. Một trong những hủ tục khiến người ta kinh hãi và khốn khổ nhất là chuyện ma gà nhập vào người ám hại đồng loại. 
           Thực ra cho tới tận bây giờ người ta cũng chưa biết ma gà là gì, nó như thế nào và tại sao nó lại cứ hành người ta lâu dài đến thế? Những nơi có chuyện ma gà, không chỉ những người trong bản, mà cả vùng đều luôn luôn xuất hiện những thông tin mới hàng ngày đồn đại xung quanh chuyện về ma. Chuyện ma ghê rợn ấy cứ rì rầm từ miệng người này sang miệng người khác, từ tai nọ sang tai kia, loang ra rất nhanh như giọt dầu rơi trên mặt nước. Thực hư chả rõ ra sao. Người lớn nghe chuyện đã thấy sợ hãi, không dám đi đêm, trẻ con lại càng thêm khiếp đảm, không dám khóc to.
           Những nhà có con gái, nhất là con gái xinh đẹp thường là rất lo lắng. Bởi con gái xinh đẹp thế nào cũng bị con ma gà ám vào để ẩn thân. (Mà cũng lạ! Ma gà chỉ thích con gái đẹp, chỉ hiện thân trong con gái đẹp thôi). Thu cũng lâm vào hoàn cảnh khốn khổ ấy. Cô càng lớn lên càng xinh đẹp khiến bố mẹ lại càng lo lắng. Nhà Thu ở cuối bản heo hút, xung quanh cây cối um tùm lại càng tạo nên sự huyền bí của ma quỷ. Khi cô tròn mười bảy tuổi xinh đẹp nhất bản, nhất vùng thì xuất hiện những tin đồn vu vơ về chuyện bị ma gà ám.
           Một hôm lão thầy cúng Hoàng Văn Dử từ trong bản mò đến nhà Thu. Lão ngó nghiêng xem xét một lúc rồi bảo bố mẹ cô:
           - Cái con ma gà nó đang quanh quẩn quanh nhà này tìm con gái đẹp để ẩn thân! Phải cúng để đuổi nó đi thôi.
           Cả nhà Thu hoảng sợ. Bố mẹ Thu bàn nhau giết gà, làm thịt con lợn để lão thầy cúng Dử giúp việc trừ ma, đuổi tà. Cúng suốt hai ngày hai đêm chập cheng hú hét, bắt quyết, đâm chém, yểm bùa, tung muối, vãi gạo chán chê, lão thầy cúng mới bảo:
           - Bây giờ cả nhà ra rừng đợi để ta bắt đầu làm phép bắt cái con ma gà!
           Trời đang mưa mà cả nhà phải lục tục gọi nhau kéo ra ngoài rừng. Lão Dử lại nói:
           - Ma gà đã nhập vào con gái. Cho nên con gái lớn phải ở lại để ta còn lấy cái con ma ra khỏi người cho...
           Thu đành ở lại. Lão thầy cúng dặn bà và bố mẹ Thu cứ đi ra ngoài rừng ngồi đợi. Khi mà lão chưa gọi thì không được trở về nhà, nghe thấy tiếng con gái kêu cứu, khóc lóc cũng đừng sợ hãi. Đó chính là lúc con ma đã bị lão khống chế, đuổi đi. Chờ khi mọi người rời khỏi nhà, lão thầy cúng bảo Thu cầm ba nén hương đang cháy bằng cả hai tay rồi giơ lên giữ ở trên đầu quỳ ở giữa nhà để lão tiến hành việc bắt ma. Thu làm theo lời lão. Lão thầy cúng múa may quay cuồng vờn quanh cô gái. Ánh mắt lão sáng lên khi nhìn thấy thân hình tròn đầy của một người con gái mới lớn xinh đẹp. Lão thầy cúng ngồi xuống sát ngay phía sau lưng cô để làm phép trục xuất con ma. Một mùi hôi hám từ người lão tỏa ra lẫn vào mùi thơm của hương nhang thật kinh khủng. Nhìn chăm chăm vào khuôn ngực nhô cao của cô gái trẻ, lão thầy cúng nuốt nước bọt. Cái yết hầu của lão nhô ra, chạy lên chạy xuống trên cái cổ gầy nhẳng. Bất ngờ, lão ném chùm lục lạc và nắm bùa ngải để yểm ma, trừ tà lao vào vật đè ngửa cô gái ra giữa nhà. Thu sợ hãi hét lên giẫy giụa. Lão thầy cúng vừa cởi khuy áo của cô vừa gầm gừ:
           - Nằm yên, nằm yên, để ta còn diệt trừ con ma gà cho nào!
           Thu càng khiếp đảm khi lão thầy cúng kéo xoạc hai chân cô ra và chồm lên người mình. Cô cố sức co hai chân lại rồi đạp thật mạnh vào bụng lão ta. Gã thầy cúng nghiện ngập lẻo khẻo không thể thắng được sức mạnh một người con gái mười bảy. Lão chới với bật ngã ngửa ra phía mâm cỗ cúng. Tấm lưng trần bẩn thỉu của lão đè luôn vào cái bát nhang đang ngun ngút. Thịt da lão cháy xèo xèo. Lão rú lên như bị ma nhập. Thu vùng dậy chạy thoát được ra ngoài rừng.
            Không làm gì được cô gái, lão thầy cúng vô cùng bực bội hậm hực. Lão thu dọn đồ nghề bỏ ra về. Trước lúc bỏ đi lão không quên vơ nắm tiền lẻ và xách luôn cái thủ lợn cúng đang đặt trên mâm cỗ. Sau đó thì lời đồn ma gà đã nhập vào cô bé Thu lan rộng ra khắp bản và cả các làng bản xung quanh. Lời đồn đại khủng khiếp ấy đã làm cho Thu và cả nhà cô lâm vào cảnh khốn đốn. Bà, bố mẹ và Thu ra đường không dám mở miệng chào ai. Đi qua bản không dám nhìn con trâu, con bò, lợn gà, không dám khen trẻ nhỏ, không dám hỏi thăm người già, người ốm đau, tai nạn. Khi đi làm ruộng hay lên rừng đốt nương, kiếm củi, thường là chỉ lẽo đẽo một thân, một mình. Không có ai trong bản dám đi cùng. Đang đi giữa đường gặp mưa to gió lớn, những người có ma gà như cô không dám dừng lại trú chân ở gốc cây, đứng tránh mưa đầu nhà hàng xóm, láng giềng vì sợ có ai đó bất ngờ nhìn thấy. Khi nhìn thấy họ sẽ gõ ống bương, réo tên lên báo cho ông trời biết. Ông trời nghe tiếng kêu sẽ lập tức sai thần sét vung búa đánh chết tươi người có ma gà. Lời đồn thổi rằng người có ma gà nhìn vào đồ vật sẽ làm cho vật đó bị hư hỏng, nhìn vào cây, cây chết, nhìn vào lá, lá khô, nhìn vào quả, quả thối, nhìn vào hoa, hoa tàn. Lời nói của người có ma gà như phun ra chất độc, hơi thở ra toàn là âm khí làm héo úa hoa màu, cây cối, làm tiêu tan khí huyết đang chảy trong người. Khi gặp người có ma gà trẻ con thì sinh biếng ăn, ốm bệnh, hay khóc đêm ngằn ngặt, người già thì phát tác chứng đau lưng, nhức xương, mỏi nhừ gân cốt, mất ngủ. Mỗi khi trong bản có trâu bò lợn gà bỗng dưng lăn đùng ra chết, hay bị hỏa hoạn, tai nạn, dân bản lại bảo đó là lúc con ma gà thoát xác đi kiếm ăn giết hại gia súc, gia cầm, gây nên hỏa hoạn, tai nạn.
            Từ khi có những lời đồn đại, mà chắc chắn từ mồm lão Dử thầy cúng, ít người còn dám lai vãng đến gần ngôi nhà cuối bản của gia đình Thu nữa. Nhà Thu bị cô lập. Bà Thu buồn bã sinh bệnh ốm chết. Hôm đưa bà đi chôn chỉ có vài người thân trong họ. Sau đám ma cùa bà, bố Thu quyết định đưa hai mẹ con vào thung lũng sâu trong núi dựng lán, vỡ đất hoang làm ruộng cấy lúa, phát cây làm nương trồng ngô, trồng sắn. Bố mẹ và Thu phải đi đến những cái chợ thật xa, nơi không ai biết họ là ai để bán những bao ngô, bao sắn khô và tìm mua muối, mua dầu hoả...
           Thu càng ngày càng xinh đẹp nhưng chẳng có chàng trai nào dám lại gần tán tỉnh. Họ sợ ma. Họ cũng không dám bén mảng đến cái thung lũng gia đình cô đang ở. Cái thung lũng ấy dần dà rồi cũng lại mang một cái tên đáng sợ “thung lũng Ma Gà”. Thung lũng Ma Gà được bố mẹ và Thu cần cù khai khẩn, chăm bón nên ngày càng màu mỡ tươi tốt, lúa ngô khoai sắn luôn xanh. Nhưng rồi tai họa lại ập xuống gia đình cô. Bố mẹ Thu đi rừng. Mẹ lội qua suối bị nước lũ cuốn trôi, bố nhảy xuống cứu, nhưng cả hai đều không thoát khỏi dòng nước oan nghiệt sau cơn mưa rừng đổ về chảy rất xiết. Sau khi bố mẹ chết thảm, tin đồn về cô là ma gà đã thành tinh ăn cả thịt bố mẹ đẻ lại rộ lên.
            Lo xong đám tang cha mẹ, Thu gần như kiệt sức. May là thời thế đã thay đổi, chính quyền, đoàn thể giúp sức. Tuy thế, miệng lưỡi thế gian còn độc địa, dân bản vẫn còn dè dặt. Quan niệm cũ ăn sâu vào tiềm thức thường rất khó xóa, người ta vẫn cứ cẩn thận là hơn. Một hôm, trang trại Ma Gà có khách. Một lão già đi vào trang trại. Trông lão giống như một kẻ hành khất. Lão ta nhấc cái cổng bằng phên nứa để sang một bên rồi đi vào. Con chó đang xích ở đầu nhà lồng lộn kéo căng sợi xích tru lên và sủa ầm ĩ như chợt nhìn thấy ma. Đang lúi húi rẫy cỏ ngoài vườn chè Thu vội cầm cái cuốc chạy ra. Hóa ra đó chính là lão Dử thầy cúng. Nhìn thấy Thu, lão nhe hàm răng ám khói cáu bẩn ra cười nhăn nhở. Thu trừng mắt hỏi :
           - Ông mò đến đây để làm gì! Ông đã hại gia đình tôi bao nhiêu năm nay còn chưa đủ à? Ông cút ngay đi!
           - Hôm nay ta đến để giúp em! Sao lại đuổi ta đi...
           - Giúp cái gì! Đồ rắn độc...
           - He... he... he... - Lão cười như tiếng kêu be be của một con dê đực: - Ta đến để giúp em trông coi cái cơ nghiệp này đấy! Vợ ta chết rồi, hãy nhận ta làm chồng nhé! Ta sẽ đuổi con ma gà đi ngay cho... he... he... he...
           - Đồ khốn...
           Thu giận dữ quát to. Cô vung cái cuốc đang cầm ở tay lên dọa đánh. Tên thầy cúng già luống cuống giơ cái gậy lên đỡ rồi lùi dần ra phía cổng. Vừa đi, lão vừa lẩm bẩm: “Không chịu lấy ta thì chỉ có nước là ế chồng thôi!”. Con chó chồm lên cào cào hai chân trước xuống đất. Nó chỉ mong Thu tháo cái móc xích thả ra để lao đến đớp cho lão thầy cúng dâm đãng một miếng thật đau.
            Sau bận ấy, lão thầy cúng còn nhiều lần mò vào thung lũng Ma Gà. Có lần đang trưa nghe tiếng gọi cổng, khi Thu chạy ra xem là ai thì thấy lão đứng bên ngoài hàng rào vạch quần thò cái “của quý” đen chùi chũi của mình ra vung vẩy khiêu khích. Những lần sau nghe tiếng động ngoài cổng cô liền thả con chó ra. Con chó trung thành đã mấy lần giải nguy cho Thu khi bất ngờ gặp lão thầy cúng và đám thanh niên định cưỡng bức cô ngoài rừng. Con chó bị bọn người xấu đánh bả. Ăn phải chất độc song nó gắng lết chạy về đến cửa nhà thì ngã gục. Mồm nó sùi ra đầy bọt trắng. Đôi mắt nó cố mở ra nhìn Thu vẻ đau đớn. Con chó chết, Thu khóc mãi. Nó là một người bạn thân thiết nhất của cô. Chôn cất con chó trung thành xong, cô quyết định bỏ nhà ra đi. Thu lên biên giới dấn thân làm một nữ cửu vạn gùi cõng hàng thuê cho những người đi buôn.
           Hắn bùi ngùi khi nghe câu chuyện của Thu kể. Thì ra ở trên đời này vẫn còn có biết bao nhiêu số phận khổ ải như thế. Hắn khẽ đặt nhẹ bàn tay lên vai Thu như muốn an ủi cô. Thu lại bảo:
           - Nghe chuyện rồi anh có còn dám về thung lũng Ma Gà không?
           - Về chứ! Ngày mai chúng ta sẽ cùng về quê em!
           - Nhỡ có… ma thật anh không sợ à?
           Hắn bóp nhẹ vai Thu cười:
           - Ma xinh đẹp thế này thì chả ai thèm sợ đâu!
           Thu cười khúc khích. Cô se sẽ ngả đầu dựa vào vai hắn, tin cậy. Một bàn tay của cô tìm bàn tay thô ráp của hắn nắm chặt, bàn tay còn lại đưa lên ôm lấy ngực. Đoạn, Thu lặng lẽ lần mở từng cái cúc trên ngực áo của mình.
          (hết phần 26)                                                                Hà Nội, tháng 2-2011

  

Thứ Năm, 2 tháng 6, 2011

Truyện dài CHUYỆN ĐỜI HẮN (phần 25)

          
     
Chuyện đời hắn
Truyện của Trọng Bảo

        Sau bận bị hắn dìm uống no nước suối, thằng Phú đâm ra rất sợ nước. Cứ nhìn thấy nước là nó đã sợ vãi đái. Thường là thế, khi con người ta quá sợ cái gì thì rất cực đoan với cái nấy. Nó sợ đến nỗi nó tránh cả việc chan canh lúc ăn, rất ít uống nước cho đỡ khát hàng ngày. Nó chỉ thích ăn các loại thức ăn gì không có nước. Hàng ngày nó ngại rửa mặt, tắm giặt cũng hạn chế. Không bao giờ nó dám lội xuống suối tắm nữa. Khi tắm nó chỉ dùng một chút nước trong cái chậu nhỏ dùng khăn lau người qua loa. Do đó, người nó cáu bẩn, hôi hám tựa như một con chồn hôi. Không ai dám ngồi gần hắn lâu. Vì thế cánh cửu vạn đặt cho nó cái biệt danh mới là Phú “hôi”.  
         Đoạn sau đây là do tác giả viết thêm, không có trong chuyện.
         Hình như ở con người và cả con vật nữa, con nào càng hôi thường là càng dâm. Con dê nổi tiếng là hôi cho nên cho đến khi chết nó cũng rất khổ. Thường là khi làm thịt dê người ta phải trói hai chân sau nó lại, treo ngược lên một cành cây thấp vừa tầm tay người. Ở chỗ con dê bị trói để sẵn một cái gậy, thỉnh thoảng lại choảng cho nó vài gậy thật đau. Con dê bị đánh đau kêu khóc “be… be… be…” rất thảm thiết. Khi nó đã hơi hơi đỡ đau thì người ta lại vụt tiếp cho một trận thừa sống thiếu chết nữa để nó tiếp tục kêu ầm ĩ. Cứ như thế cả buổi con dê cứ bị đánh, cứ phải kêu mãi cho đến lúc kiệt sức kêu không thành tiếng nữa thì thôi. Người ta làm như vậy để con dê đau đớn, giẫy giụa toát hết mùi hôi đi. Tuy thế, con dê chưa phải là đã hết khổ. Sau khi cắt tiết dùng để pha rượu uống nhằm tăng cường thể lực và khả năng sinh dục như loài dê, người ta liền đào hố chôn con dê vừa giết ấy xuống đất độ vài tiếng rồi mới lôi lên cạo lông, lột da, làm thịt. Thịt dê lúc ấy tiệt nhiên không còn mùi hôi nữa và trở thành một món ngon bổ đặc biệt.
         Thịt dê, còn gọi là “dương nhục” có vị ngọt, tính nóng. Thịt dê không độc, rất có tác dụng trợ dương, bổ huyết, chữa lao phổi. Người gầy yếu nếu ăn liên tục từ ba mươi ngày trở lên các món ăn chế biến từ thịt dê, có thể khỏi ốm mệt, đau lưng, dương sự kém, giảm khí huyết hư tổn, ra nhiều mồ hôi. Phụ nữ nhạt chuyện chăn gối, gầy mòn, ít sữa sau khi sinh nở cũng nên ăn chút thịt dê để điều hòa ổn định sinh khí, tăng sự ham muốn bản năng. Dạ dày con dê thường dùng chữa bệnh kém tiêu hoá, chứng hay buồn nôn sau bữa ăn. Gan dê, còn gọi là “dương can” có thể điều trị những trường hợp bị hoa, mờ mắt sau cơn ốm bệnh dài ngày. Tiết dê pha với rượu trắng bốn mươi độ chữa bổ huyết, đau đầu, mỏi lưng, chóng mặt. Cật dê (thận dê) chế biến thành nhiều món như cật lợn, thường là được nướng hoặc hấp với hành tây, chưng cách thuỷ, có tác dụng trị suy nhược, lãng tai, đổ mồ hôi. Ngay cả xương dê, gọi là “cốt dê” nấu thành cao ngâm rượu uống sẽ chắc gân, rắn cốt phải biết… Hầu như tất các bộ phận của dê đều có thể sử dụng để làm thuốc. Đặc biệt là tinh hoàn dê, còn gọi “ngọc dương”, là thứ quý giá nhất của con dê đực. Nó có tác dụng trị thận suy, liệt dương, hoạt tinh. Người ta thường dùng ngọc dương hấp rượu, ngâm rượu thuốc để sử dụng, có giá trị như những viên Viagra thực sự.
          Giống như con dê, từ ngày “sợ nước”, người toả ra mùi hôi, thằng Phú đâm ra nghiện món đàn bà. Không thể lợi dụng được ba cô gái trong cùng nhóm cửu vạn nên nó thường phải đi chơi gái điếm ngoài thị trấn sau mỗi buổi đi cõng hàng về hoặc những hôm nào rỗi việc. Thằng này có thói quen “hành sự” với gái giống như loài dê rừng. Nó thường đưa gái lên sườn núi đá để làm việc. Nó bắt con gái cúi gập người xuống và làm việc ấy từ phía sau.
          Một hôm thằng Phú “hôi” đưa một cô gái lên núi. Cô bé này chắc là dân cửu vạn mới từ dưới xuôi lên chưa có việc. Con bé người nhỏ thó, là dân một vùng quê nghèo khổ nên trông đen nhẻm, còi cọc. Con bé đau đớn kêu thét lên nhưng thằng Phú vẫn không tha. Nó thúc mạnh vào từ phía sau làm con bé chới với lao bắn ra khỏi một hốc đá toài người trượt ngã lăn luôn xuống sườn núi. Con bé cửu vạn bị ngã vỡ đầu, gãy tay nằm rên rỉ ở một khe đá hẹp. Thằng Phú hốt hoảng mặc vội quần áo tụt xuống chân núi bỏ chạy về nhà trọ. Thằng Chương, thằng Tài, thằng Đán phát hiện ra chuyện con bé cửu vạn ngã bị thương vội về nói lại với hắn. Hắn đang giúp Thu vặt rau nấu cơm chiều. Hắn buông nắm rau sang ngay chỗ thằng Phú. Nó đang nằm trùm chăn trên giường. Khi nghe mọi người hỏi, nó cãi bay cãi biến chuyện đưa gái lên sườn núi. Hắn bảo:
         - Thôi được! Nếu thế thì bây giờ mày cứ theo chúng tao ra chỗ cô gái bị thương để cô ấy nhận mặt, nếu không phải là mày thì thôi. Bọn tao sẽ đưa cô ấy đi bệnh viện!
         Thằng Phú hốt hoảng:
         - Tôi... tôi... đang ốm, tôi không đi đâu!
         Hắn lột cái chăn, túm cổ áo thằng hôi lôi nó dậy. Cả bọn đi ra chỗ sườn núi chỗ cô gái bị thương đang nằm. Thu và cái Lụa đã mặc quần áo và băng bó tạm cho cô bé. May mà cô bé chỉ bị toạc chút da đầu chảy máu và gãy cánh tay phải. Thằng Phú “hôi” không dám cãi chày cãi cối nữa. Nó ghé vai cõng cô gái đi xuống lối mòn chân núi. Hắn và mấy thằng cửu vạn giúp nó đưa cô bé vào bệnh viện. Cô gái được khám và băng bó sát trùng vết thương, cố định rồi bó bột cánh tay bị gãy. Hắn bảo thằng Phú:
         - Mày phải chịu trách nhiệm chi phí chữa chạy cho cô ấy! Mày mà tìm cách thoái thác hay bỏ trốn thì đừng quên là tao sẽ không bao giờ để cho mày thoát đâu...
          - Vâng... vâng... - Thằng Phú ấp úng.
          Tuy nói vậy nhưng hắn vẫn rút ví và bảo mọi người mỗi người góp một ít tiền giúp đỡ cô gái khốn khổ vừa bị nạn.
          Sau vụ này, thằng Phú bị cháy túi. Nó vốn là thằng ăn chơi, thích ngủ với gái đã tốn tiền nay lại phải chi thêm viện phí cho cô bé cửu vạn này nên càng thêm cạn túi, túng bấn. Thói thường là vậy. Túng bấn, đói khổ thường sinh ra những chuyện liều lĩnh, làm càn.

*
          Chập tối hôm đó thằng Phú “hôi” thông báo cho cả bọn:
          - Có một lượng hàng hóa cần vận chuyển gấp từ bên kia biên giới về nước ngay trong đêm nay! Ăn cơm tối xong chúng ta sẽ lên đường.
          - Hàng hóa quái gì mà cần chuyển gấp thế nhỉ?
          - Không cần biết! Đâu có tiền là ta cứ đi... - Một thằng bảo.
          Đêm trăng suông. Núi rừng biên giới phủ một màu bàng bạc. Dưới ánh trăng huyền ảo rừng núi có vẻ âm u, bí hiểm và mênh mông hơn. Mới ngày nào thôi việc vượt qua biên giới là cả một chuyện vô cùng khó khăn. Bây giờ qua lại biên giới cứ như là đi chợ, cả ngày lẫn đêm. Hàng hóa thông thương giữa hai nước thế này thì ai còn muốn chiến tranh làm gì nữa. Tuy vậy, hòa bình cũng có cái giá không rẻ của nó.
          Bọn cửu vạn bám sát nhau đi theo lối mòn vượt sang bên kia biên giới. Thu đi sát ngay phía sau hắn. Sau bận thoát chết đuối ở dòng suối Thu và hắn thân nhau hơn. Thu công khai tự nhận hắn là “anh trai”. Hắn ậm ừ, chả rõ ý tứ ra sao. Nhưng tự trong sâu thẳm lòng mình hắn cũng thấy bâng khuâng. Là một thằng mồ côi, tứ cố vô thân, không người thân thiết nay có một cô em gái thì thật thích và sung sướng biết bao. Nhưng mỗi khi không có mặt Thu, bọn thằng Tài, thằng Chương cười cười bảo hắn:
          - Thì anh cứ nhận chị Thu là em nuôi đi! Con gì nuôi rồi mà chả để thịt hả anh!
          Hắn lừ mắt bảo:
          - Chúng mày cứ liều liệu cái mồm đấy!
          Mấy thằng cười ngặt nghẽo. Bọn trong cùng nhóm cửu vạn, trừ thằng Phú “hôi” rất thương nhau. Chúng nó mỗi đứa một quê vì nghèo đói nên phải lên biên giới làm thuê kiếm tiền, cũng chả khác gì cái bọn thằng Lân, thằng Bất, chú Cần ở bãi vàng Tây Bắc dạo trước.
          Đến địa điểm nhận hàng thì đã nửa đêm. Bọn cửu vạn nhanh chóng gói buộc hàng hóa để đeo cõng, vận chuyển về nước. Toàn là hàng điện tử. Hắn ngạc nhiên vì số lượng hàng hóa không lớn, không quá nặng mà cũng không quý hiếm lắm tại sao lại phải vận chuyển ngay ban đêm và như thằng Phú “hôi” nói phải đi vòng tránh theo một con đường mòn treo leo vách đá rất khó đi. Lúc chuẩn bị lên đường lại thấy có mấy thằng vẻ mặt lầm lì, hung hãn đi theo áp tải bảo vệ hàng. Thu khẽ kéo tay ghé tai hắn nói nhỏ:
          - Em nghi ngờ bên trong các đồ điện tử này còn có những thứ khác nữa anh ạ!
          - Là thứ gì vậy?
          - Có thể là ma túy hoặc tiền Việt Nam giả…
          Hắn há hốc mồm kinh hãi. Suýt nữa thì hắn hét lên vì tức tối. Bọn này dám lợi dụng cánh cửu vạn làm thuê để làm những việc đen tối thế này hả. Thu vội giơ tay bịt miệng hắn. Cô thì thào:
          - Cứ bình tĩnh anh ạ!
          Hắn gật đầu và dặn lại:
          - Nhớ là trên đường đi bám sát nhau nhé!
          Thu nắm chặt lấy bàn tay hắn như muốn nói cứ yên tâm. Bàn tay nhỏ nhắn của Thu thật ấm áp.
          Bọn chúng bắt đầu leo lên dốc. Người này tiếp chân người kia. Họ đi theo còn đường nhỏ đầy ánh trăng. Ánh trăng trên quê người sao có vẻ lạnh lẽo hơn trên đất nước mình. Đã chớm mùa hạ rồi nhưng trời đêm vẫn lành lạnh. Đám cửu vạn đeo những bao hàng cồng kềnh đi dưới ánh trăng khuya lấp lóa. Họ vượt qua dãy núi ngăn cách là đường biên giới của hai nước. Họ phải dò dẫm đi từng bước rất thận trọng vì ngay bên mép lối mòn là vực sâu. Trượt chân ngã xuống thì coi như xong cả cuộc đời. Bọn cửu vạn chỉ biết là mình đang đi trên một con đường rất nguy hiểm mà không biết đang lọt vào ổ phục kích của lực lượng phòng chống buôn lậu và tội phạm qua biên giới.
          Bất ngờ nghe có tiếng quát rất to: “Tất cả đứng im… Các anh chị đã bị bắt!”. Ánh đèn lóe lên. Tất cả nhốn nháo. Có tiếng thằng Phú ở phía trước đội hình hét to: “Mọi người chạy đi… không ai được để mất hàng hóa…”. Hắn vội quay lại bảo Thu: “Bám sát anh nhé!”. Bọn cửu vạn phá chạy tán loạn. Có nhiều tiếng quát tháo ầm ĩ, cả tiếng súng nổ ở phía sau đội hình. Hắn giữ thật chặt cái dây đeo bao hàng rồi tụt xuống dốc.
          Chợt nghe tiếng Thu kêu “ối” ở phía sau. Hắn vội ngoảnh lại. Thu bị vấp ngã. Dây đeo bao hàng lật ra khỏi một bên vai văng ra phía vực. Một bên dây đeo vẫn vướng vào vai kéo lê cô trượt theo bao hàng nặng. Cô vẫn cố giữ bao hàng. Hắn quát:
          - Buông bao hàng ra…
          - Nhưng…
          Thu vẫn cố trằn người níu giữ bao hàng lại nhưng không được. Khi hắn chạy đến được chỗ của Thu thì cũng chỉ kịp nắm lấy tay cô kéo lại khỏi rơi theo bao hàng xuống vực. Thu vừa thở hổn hển vừa nói:
          - Anh chạy ngay đi… cố đừng để mất hàng! Mất hàng là mất mạng với bọn chúng nó đấy!
          - Thế còn em thì sao!
          - Mặc em… anh cứ đi đi…
          - Không được! Để anh dìu em…
          - Chân em bị trẹo khớp rồi… em không đi được nữa đâu…
          - Để anh cõng em!
          - Thế còn bao hàng…
          - Này thì hàng với chả họ này…
          Hắn nói và gỡ luôn bao hàng điện tử ra thẳng tay ném xuống vực sâu. Đoạn hắn xốc Thu lên vai. Giữa lúc đó thì thằng Phú “hôi” lao đến. Nó hằm hè:
          - Mày có biết là mày vừa ném đi mấy trăm triệu đồng và mấy nghìn viên thuốc… thuốc… rồi không?
          - Tiền nào, thuốc nào? Tao chỉ vứt đi mấy thứ đồ điện tử Trung Quốc rẻ tiền để cứu lấy người cái đã…
          - Hai đứa chúng mày vừa làm mất năm trăm triệu đồng tiền giả và ba ngàn viên thuốc lắc của ông trùm và của tao và đấy! Ha… ha… ha… Thế này thì cũng tốt. Con Thu sẽ phải làm nô lệ tình dục suốt đời phục vụ cho ông trùm. Còn mày cũng sẽ mạt kiếp làm nghề cửu vạn cũng chưa trả hết nợ… ha… ha…
          - A! Thì ra lũ khốn chúng mày lợi dụng anh em để vận chuyển hàng quốc cấm qua biên giới hả? Hôm nay mà không bị truy đuổi thì tao sẽ cho mày một trận nhừ đòn như cái hôm ở bờ suốt dạo trước! Tránh ra để tao đi…
           Hắn gạt thằng Phú ra lề đường rồi cõng Thu chạy vượt lên. Phía sau đội hình cửu vạn có nhiều tiếng kêu khóc nhốn nháo. Công an, biên phòng đã bắt được mấy đứa đi sau. Thằng Phú nhìn hắn và Thu rồi nghiến răng lao theo. Nó rút từ trong người ra một con dao nhọn sắc như lá lúa. Khi đã áp sát  được hai người đang tụt xuống dốc thằng Phú liền vung tay xỉa mạnh mũi con dao nhọn vào tấm lưng tròn của Thu.
           Bằng một phản xạ tuyệt vời mà sau này hắn cũng không hiểu là tại sao lúc ấy hắn lại nhanh đến thế. Hắn quay ngoắt người lại tránh được nhát dao của thằng Phú xỉa vào lưng Thu. Hắn vung cánh tay trái lên đỡ. Mũi dao của thằng khốn xiên thẳng vào cánh tay hắn. Khi nó rút được con dao lại để tiếp tục tấn công hai người cũng là lúc hắn gạt được Thu về phía sau mình và che cho cô. Mặc cho cánh tay đang chảy máu đầm đìa hắn lao vào thằng Phú như một con thú bị thương. Hắn lựa thế tránh mũi dao của thằng Phú và vòng tay choảng luôn vào mang tai nó một phát như trời đánh. Thằng Phú lảo đảo đập mặt vào vách đá. Hắn lao đến lôi thằng Phú đẩy ra phía bờ vực sâu. Hắn định xô nó xuống vực nhưng Thu ngăn lại. Hắn dí đầu thằng Phú xuống mặt đường tống thêm cho hai quả nữa rồi mới tiếp tục cõng Thu lao xuống dốc. Hai người chạy thoát được vào một khu rừng biên giới rậm rạp. Sau này hắn mới biết, thằng Phú cũng bị bắt ngay sau đó. Nó và tên Thổ “trùm cửu” phải đi tù vì phạm tội buôn bán tiền giả và ma túy. Đám cửu vạn bị vạ lây vì vướng vào tội tham gia vận chuyển ma túy và tiền giả qua biên giới. Có đứa cũng phải ngồi tù nhưng với mức án nhẹ hơn bọn buôn lậu. Hắn và Thu chạy thoát. Nhưng kể từ cái đêm trăng suông nơi biên giới ấy họ cũng chấm dứt luôn cuộc đời cửu vạn đầy gian khổ và trắc trở…
           Đến đây, theo cách viết tiểu thuyết chương hồi của bọn Tàu thì có một câu là: “Đêm trăng suông ấy còn có chuyện gì đã xảy ra và “Chuyện đời hắn” tiếp diễn ra sao xin đợi xem tiếp hồi sau sẽ rõ!”.
           (hết phần 25)                                                             Hà Nội, tháng 2-2011