Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2015

Truyện dài TRĂNG LẠNH (phần 26)

 

 
       

        TRĂNG LẠNH
         Truyện dài của Trọng Bảo

         Thằng Nam nằm lăn trên nóc hầm. Đầu nó gối lên báng khẩu súng K44, tay vắt trên trán có vẻ đang suy nghĩ rất lung.
Có tiếng máy bay Mỹ ầm ì vọng đến. Khẩu đội 12ly7 vội lao ra thao tác súng chuẩn bị chiến đấu. Vậy mà thằng Nam làm nhiệm vụ canh gác cảnh giới phòng không vẫn không gõ kẻng báo động. Một tốp máy bay phản lực của Mỹ xé ngang bầu trời. Trung đội trưởng Tình quát rất to:
           - Nam, xuống hầm trú ẩn ngay!
           Thằng Nam lúc này mới sực tỉnh. Nhưng nó không nhảy xuống hầm như lệnh của trung đội trưởng mà đứng thẳng người dậy che mắt cho đỡ chói quan sát tốp máy bay Mỹ đang lượn vòng về hướng núi Tam Đảo. Bọn chúng chuẩn bị kéo nhau lao xuống bắn phá Hà Nội. Tiếng bom nổ như sấm rền vọng về từ hướng thủ đô. Thỉnh thoảng, những chiếc máy bay Mỹ bị lưới lửa phòng không của bộ đội ta ở Hà Nội và các vùng xung quanh bắn rát lại phải vòng lên vùng trời miền trung du để tránh đạn. Người dân ở nơi đây lại một phen kinh hãi, ai cũng lo sợ bọn giặc cùng đường ném bom bừa bãi xuống xóm làng, nhiều khi oan gia, chẳng phải đầu thì phải tai.
           Đến gần trưa thì không còn bóng dáng chiếc máy bay Mỹ nào lởn vởn trên bầu trời miền quê trung du nữa. Đám dân quân gạt mồ hôi ngồi dưới lòng chiến hào ôm súng tán gẫu:
          - Chắc bọn Mỹ hết bom rồi, chúng phải bay về kho lấy thêm!
          - Buổi trưa chúng nó đói rồi nên cũng phải nghỉ để ăn uống chứ. Mỗi thằng phi công Mỹ chén một bữa trưa bằng cả trung đội dân quân chúng ta ăn cả tháng đấy. Mà sao hôm nay đã trưa trật ra rồi bộ phận trực chiến chúng ta vẫn chưa có cơm nước gì nhỉ?
           - Cái Liên hôm nay thế nào rồi! Hay là nó bị ốm không nấu được cơm cho chúng ta nữa?
           Chị Nhân lúc này mới lên tiếng:
           - Cái Liên lại bị công an gọi lên tiếp tục hỏi han, thẩm vấn về chuyện mất súng rồi. Trưa nay, cái Na và cái Hường về làng nấu cơm. Lúc nãy, hai đứa khênh đồ ăn lên dốc trượt chân bị đổ mất nồi canh đang phải quay về để nấu lại.
           Thằng Biên đói quá nhăn nhó:
           - Cứ có cơm ăn là được! Cần gì phải canh chứ. Mà canh kếc quái gì lõng bõng toàn nước là nước, lều bều vài cọng rau rền dại, không mỡ, không hành, uống vào chỉ tổ phải đi tè liên tục. Lúc đang báo động chiến đấu ôm súng chuẩn bị chiến đấu bí đái căng cả bụng. Máy bay Mỹ chúng chúng không cần ném bom mà chỉ cần quần thảo cho một lúc thì dân quân đều bị vỡ bàng quang phải đi cấp cứu hết...
           Mọi người cười nghiêng ngả. Những khuôn mặt chiến sĩ dân quân lấm lem bùn đất, hốc hác vêu vao vì đói ăn, đói ngủ. Khi cười trông mặt mũi ai cũng méo mó cả đi.
           Riêng trung đội trưởng Tình thì không cười. Chị nghiêm nét mặt bảo thằng Nam:
           - Vào hầm chỉ huy gặp tôi ngay!
           Mọi người đều thôi cười nữa mà quay sang nhìn thằng Nam. Thằng Nam đứng dậy xách khẩu súng đi theo trung đội trưởng. Tình hình xem chừng nghiêm trọng. Thời gian gần đây thằng Nam có vẻ lơ là nhiệm vụ. Đầu óc nó thiếu tập trung vào nhiệm vụ mà luôn lơ ngơ nghĩ ngợi đi đâu ấy. Vì thế, nhiều lần tiếng máy Mỹ ầm ì bay đến gần nó không phát hiệu lệnh báo động mà lại gõ kẻng báo yên. Có lúc thì nó khua kẻng liên hồi khi một chiếc ô tô chạy trên quốc lộ 2C ngang qua dưới chân đồi. Nhắc nhở, phê bình thì nó chỉ cười khì xin rút kinh nghiệm nghiêm túc, nhưng rồi đâu lại vào đó. Mọi người trong trung đội đoán lần này thằng Nam sẽ bị kiểm điểm nghiêm khắc vì nó ở trong hầm của chỉ huy rất lâu không thấy trở ra. Chắc là nó đang bị trung đội trưởng nhắc nhở “lên lớp” về chuyện lơ là nhiệm vụ.
           Mãi một lúc lâu trung đội trưởng và thằng Nam mới ra khỏi hầm chỉ huy. Hai người đến căn nhà hầm nơi toàn trung đội đang ngồi nghỉ chuẩn bị ăn cơm trưa. Trung đội trưởng Tình nhìn mọi người rồi thông báo ngắn gọn:
          - Từ giờ phút này, đồng chí Nam bàn giao lại khẩu súng K44 cho tiểu đội trực chiến. Bắt đầu từ ngày mai, đồng chí Nam sẽ thực hiện nhiệm vụ ở tuyến 2, làm công tác đảm bảo thông tin liên lạc cho trung đội và trợ giúp bộ phận hậu cần nấu cơm, đun nước cho đơn vị.
          Quả là một quyết định khá bất ngờ. Mọi người xôn xao cả lên. Cái Na vội hỏi lại:
          - Như thế là bị thi hành kỷ luật à?
          Chị Nhân thì thắc mắc:
          - Nếu bị thi hành hình thức kỷ luật gì thì thằng Nam cũng phải đưa ra kiểm điểm tại đơn vị trước đã chứ! Sao lại thế này?
          - Hay là nó xin lùi về tuyến sau cho an toàn?
          - Đúng là thằng này có tư tưởng thoái lui rồi!
          - Tinh thần sa sút thì phải về phía sau thôi.
          - Chưa nổ súng đánh nhau mà đã bị... loại khỏi vòng chiến đấu...
           Mọi người xì sầm đoán già, đoán non. Họ quan sát kỹ nét mặt thằng Nam để phỏng đoán nắm bắt thêm tình hình. Nhưng thằng Nam chẳng biểu lộ một chút tình cảm hay phản ứng gì trên mặt trước việc trung đội trưởng tuyên bố thu lại khẩu súng mà nó vẫn nâng niu kể từ khi được đứng vào hàng ngũ của dân quân. Thái độ của thằng Nam chẳng vui cũng chẳng buồn. Nó lặng lẽ gỡ khẩu súng K44 đang mang trên vai trao lại cho chị Nhân là tiểu đội trưởng của mình. Chỉ đến lúc này mọi người mới nhận thấy hai tay nó hơi run run khi phải rời khỏi cái báng của khẩu súng sẫm màu mồ hôi. Chị Nhân nhận khẩu súng trước sự chúng kiến của mọi người.
          Khi mọi người chuẩn bị ăn cơm thì thằng Nam sán lại chỗ chị Nhân. Nó thủ thỉ nhờ một việc:
          - Ngày mai em lên thị xã có việc gấp, chị mượn anh Thụy giúp em cái xe đạp nhé!
          Chị Nhân hỏi lại:
          - Ngày mai đơn vị tập trung để tổ chức huấn luyện bổ sung khoa mục bắn máy bay Mỹ bay thấp bằng súng bộ binh cơ mà?
          Thằng Nam tặc lưỡi nói:
          - Em chuyển về tuyến hai làm nhiệm vụ hậu cần, nấu cơm đun nước rồi thì cần gì phải huấn luyện thêm nữa hả chị?
          Chị Nhân băn khoăn khó hiểu:
          - Mày bị kỷ luật lý do như thế nào hả?
          - Thì lơ là nhiệm vụ, thiếu tinh thần cố gắng, ý thức trách nhiệm thấp, thế thôi… - Nó đáp và nài nỉ: - Nhất định chị phải nhớ mượn anh Thụy giúp em cái xe đạp nhé. Từ làng mình lên đến thị xã hơn hai mươi cây số, không có xe đạp đi bộ mỏi chân và lâu lắm!
           - Ừ! Chị sẽ thử hỏi mượn giúp!
           - Thế chị nhé! Năm giờ sáng mai em sẽ đi cho mát và tránh giờ cao điểm phòng không. Cuối giờ chiều em sẽ về trả xe.
           - Được rồi…
           Thế là sáng hôm sau thằng Nam cưỡi chiếc xe Favorite mới tinh của phó tiến sĩ Dương Thụy lao nhanh từ trong làng ra quốc lộ 2C. Nó phấn khởi guồng chân đạp mạnh và liên tục, chiếc xe Favorite phóng bon bon trên con đường hướng về thị xã. Dương Thụy rất quý và nâng niu chiếc xe đạp Favorite do Tiệp Khắc chế tạo này. Hàng ngày, ngoài giờ làm việc, trực chiến anh đều giành thời gian chăm chút cho chiếc xe đạp. Anh lau chùi chiếc xe rất tỷ mỷ, cẩn thận. Chiếc xe đạp ngoại nước sơn xanh dương luôn luôn bóng loáng. Một tý bụi bẩn bám lên ghi-đông lập tức Dương Thụy rút chiếc khăn mù-xoa trong túi quần ra lau sạch luôn. Đường quê sỏi đá mấp mô gập ghềnh. Khi đến những đoạn đường xấu, khó đi Dương Thụy thường xuống dắt hoặc vác xe đạp cho đỡ mòn lốp. Chị Nhân hỏi mượn xe, Dương Thụy ngần ngừ, đắn đo. Nhưng sợ người yêu giận và coi thường nên anh đành dắt cái xe Favorite ra đưa cho chị Nhân đem đi. Khi biết chị Nhân mượn giúp thằng Nam để nó đi tận thì xã thì Dương Thụy càng thấy xót ruột quá. Thằng Nam mà vớ được cái xe đạp mới và tốt như thế này là nó phóng bạt tử, bất chấp ổ gà, ổ trâu thì còn gì là xe nữa chứ. Biết thế, nhưng phó tiến sĩ Dương Thụy cũng đành bấm bụng mà chịu xót để khỏi bị cô người yêu xinh đẹp và đám con gái nhà quê chê cười là đồ tư sản thành thị ki bo, bần tiện.
           Thằng Nam lên thị xã vì có một việc riêng chẳng liên quan gì đến nhiệm vụ. Nó đi mua một thứ đang rất thích mà chỉ trên tỉnh mới có. Trong túi thằng Nam có mấy chục đồng là tiền bán cá lão Vận cho nó. Trên đường đi mấy lần thằng Nam phải quẳng xe đạp lao xuống những cái hầm cá nhân đào dọc hai bên đường để tránh máy bay bọn Mỹ. Lên đến thị xã, thằng Nam tìm ngay đến khu phố chuyên bán đồ thể dục thể thao. Nó chọn mãi mới mua được một quả bóng đá bằng da vừa bền vừa đẹp. Còn thừa ít tiền, thằng Nam mua thêm được hai bánh chè mạn khô ép tròn như cái bánh dầy đem về pha nước uống cho trung đội dân quân. Mang tiếng là vùng đồi núi trung du, rừng cọ, đồi chè xanh tươi bát ngát nhưng những người trồng chè ở đây may mắn lắm thì cả năm mới được hợp tác xã chia hoặc bán cho một vài lạng chè bồm, chè cám là những thứ được sàng lọc thải loại ra trong quá trình chế biến. Các loại chè búp phơi sao thật kỹ. Những mẻ chè búp uốn móc câu xoăn tít, mùi thơm lựng đều được nhập hết vào kho chuyển cho cửa hàng mậu dịch quốc doanh để phân phối cho các cán bộ hoặc đem xuất khẩu.
Lẽ ra theo kế hoạch thì thằng Nam sẽ vào cửa hàng ăn uống quốc doanh mua một bát phở "không người lái" tức là không thịt. Nhưng vì số tiền còn lại đã mua hai bánh chè mạn rồi nên nó đành nuốt nước bọt khi đi qua cái cửa hàng phở mậu dịch lớn nhất thị xã. Thằng Nam ngồi ở một gốc cây bên đường giở nắm cơm mà cái Liên đưa cho lúc sáng ra để ăn. Nó bẻ một miếng cơm nắm độn sắn chấm chút muối vừng nhai rất ngon lành. Miếng sắn tươi độn lẫn trong cơm sao mà bùi và ngon đến thế. Tự dưng, thằng Nam thấy yêu mến vô cùng miền quê hương trung du nghèo khó mà bình dị của mình quá.
          Sau khi ăn xong nắm cơm thằng Nam đạp xe quay về làng. Nó cắm cúi đạp xe phóng như bay trên con đường quốc lộ vắng xe và người qua lại. Đến đoạn con đường quốc lộ chạy trên mặt đê sông Phó Đáy rất trống trải thì thằng Nam giật nảy mình bởi những tiếng còi "toét... toét... toét..." bất ngờ vang lên. Một người mang sắc phục công an từ phía sau gốc cây xà-cừ nhô ra. Anh công an giơ cây gậy lên ra hiệu cho thằng Nam dừng lại. Thằng Nam hốt hoảng nghĩ: "Chắc là công an yêu cầu đứng lại để nhắc nhở việc mình đi trên đường vào giờ cao điểm mà không đeo ngụy trang hoặc là để kiểm tra giấy đăng ký xe đạp. Chiếc xe đạp này đi mượn, không có giấy tờ đăng ký lỡ mà bị công an giữ lại thì nguy to!". Nghĩ vậy nên thằng Nam không dừng lại mà cắm đầu, cắm cổ guồng chân đạp xe chạy tuốt đi luôn. Anh công an rít thêm một hồi còi dài để cảnh cáo thằng Nam nhưng nó vẫn không chịu đứng lại theo hiệu lệnh. Anh công an vội lôi chiếc xe đạp Thống nhất biển xanh dựng ở sau gốc cây ra nhảy lên đạp đuổi theo thằng Nam. Thằng Nam hộc tốc đạp xe chạy phía trước, anh công an hối hả đạp xe đuổi theo phía sau. Vừa đuổi theo thằng Nam anh công an vừa quát to:
           - Không được chạy. Đứng lại ngay!
           Mặc kệ, thằng Nam cứ đạp xe như bay. Chiếc xe Favorite quả là rất tốt. Nó phóng bon bon và mỗi lúc một bỏ xa anh công an giao thông với chiếc xe đạp nội đã cũ kỹ. Tuy thế, anh công an vẫn kiên quyết đuổi theo kẻ tình nghi, vì tên này còn trẻ thế mà đã có một cái xe đạp ngoại đắt tiền lại ngang nhiên đi lại trên đường vào giữa giờ cao điểm. Có thể đây chính là một đối tượng khả nghi chuyên chỉ điểm mục tiêu cho máy bay Mỹ bắn phá. Thấy anh công an cứ cố bám đuổi theo mình thằng Nam rất lo lắng. Công an mà đuổi theo về đến tận làng thì nguy to. Thằng Nam cố đạp xe thật nhanh hơn. Bất ngờ, chiếc xe đạp của thằng Nam lao qua một mô đá nhô cao trên đường loạng choạng. May mà thằng Nam không bị ngã. Hai bánh chè mạn khô bị tuột dây lăn lông lốc trên mặt đường. Quả bóng đá nhờ để trong một cái túi lưới buộc chặt ở ghi-đông xe nên không bị rơi. Thấy hai bánh chè mạn ép khô lăn dài trên mặt đường anh công an vội quẳng chiếc xe đạp nằm ép ngay xuống một cái ổ trâu giữa đường. Chắc anh ta nghĩ là thằng Nam ném lựu đạn hoặc thả bộc phá ngăn cản người thi hành nhiệm vụ. Hồi lâu, không thấy có tiếng nổ vang lên anh công an mới lồm cồm ngồi dậy. Anh thận trọng bước đến gần xem xét hai vật tròn tròn, đen đen đang nằm im lìm trên mặt đường. Khi biết chắc chắn đó không phải là các loại vũ khí, vật nổ anh công an lại vớ chiếc xe đạp để tiếp tục đuổi theo thằng Nam. Nhưng chiếc xe đạp Thống nhất cũ kỹ lại bị tuột xích. Khi anh công an sửa được xích của chiếc xe đạp thì bóng dáng thằng Nam đã mất hút. Đoạn đường trên mặt đê vắng tanh không một bóng người. Anh công an đành quay lại thu hồi hai bánh chè mạn khô rồi thong thả đạp xe trở về vị trí cũ làm nhiệm vụ.
           Thực ra thì thằng Nam cũng chưa chạy được thật xa. Lợi dụng lúc anh công an nằm bẹp xuống mặt đường phòng tránh bị sát thương thằng Nam liền ngoặt qua đoạn cua rồi lao luôn cả xe và người vào một bụi cây xấu hổ mọc um tùm ven đường. Mặc cho gai cây xấu hổ cào rách toạc vai áo và ngoặc vào da thịt đau nhói, tứa máu thằng Nam vẫn cố chịu đau nằm thật im trong bụi rậm. Khi thấy tình hình yên ổn, thằng Nam mới hì hục lôi chiếc xe đạp ra khỏi bụi gai xấu hổ. Nó không dám đạp xe nghênh ngang trên đường quốc lộ nữa mà dắt xe xuống bờ con mương nhỏ um tùm những hàng cây điền thanh, cây cốt-khí mà người ta gieo bằng hạt để cắt lấy lá làm phân xanh bón ruộng. Lúc thì đạp, lúc thì dắt xe, mãi đến cuối buổi chiều thằng Nam mới về đến đầu làng Hạ. Nó dìm luôn cả cái xe Favorite xuống ao rửa cho thật sạch bùn đất, lau khô rồi nhờ chị Nhân đem trả cho phó tiến sĩ Dương Thụy.
           Phó tiến sĩ Dương Thụy vô cùng xót xa khi nhận lại chiếc xe đạp. Dương Thụy cố nén sự bực bội trong lòng để tươi cười với người yêu. Chị Nhân về rồi Dương Thụy vẫn còn ngồi thẫn thờ rất lâu bên chiếc xe Favorite. Ngón tay anh rờ rẫm, xoa xoa mãi những vết xây sát trên gác-đờ-bu và khung của chiếc xe đạp. Có một vết xước rất sâu trên khung xe, vào đến cả lớp sơn chống gỉ bên trong. Dương Thụy thấy xót của và bực mình quá. Biết thế này không cho mượn có phải hơn không.
           Buổi tối, ngồi cùng nhau trên đồi cọ vắng sau làng, khi một bàn tay đã luồn vào trong ngực áo, bàn tay kia đã lần xuống phía dưới bụng người yêu để vuốt ve rồi mà trong đầu phó tiến sĩ Dương Thụy vẫn chưa thể nào quên được cái vết xước rất sâu trên khung chiếc xe đạp nhãn hiệu Favorite mới tinh của mình...

           (còn nữa)                                     Hà Nội, 11-2014

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2015

Truyện dài TRĂNG LẠNH (phần 25)

 

            
        

            TRĂNG LẠNH
         Truyện dài của Trọng Bảo

         Từ lúc tờ mờ sáng cái Liên đã thức dậy nấu nước uống cho trung đội dân quân thường trực trên trận địa Đồi Ma. Mới khoảng ba bốn giờ sáng. Trăng lặn phía sau núi. Mặt đất tối tăm. Dân làng Hạ cũng đã thức dậy. Người đi làm đồng, tranh thủ gặt lúa, trồng khoai trước khi trời sáng để tránh máy bay Mỹ. Ông đội trưởng Đạt gõ kẻng tập trung các xã viên đội sản xuất từ lúc còn tối đất, trăng vừa lặn. Sau hồi kẻng ông đi từ đầu làng đến cuối làng gọi từng nhà đi làm đồng. Cũng có nhiều người đưa con lên rừng sơ tán. Những đứa trẻ ngủ gà ngủ gật trên lưng mẹ trên đường đi vào rừng sâu, núi thẳm để tránh bom đạn. Chúng chưa hiểu hết về chiến tranh. Chúng chỉ giật mình khóc thét lên mỗi khi tiếng máy bay gầm thét kinh thiên động địa trên bầu trời. Lũ trẻ con làng Hạ hiểu về chiến tranh qua lời đe dọa của bố mẹ mỗi khi kêu khóc vì đói hoặc vì cơm độn quá nhiều sắn khoai, thức ăn toàn rau muối không nuốt nổi. Chiến tranh đối với lũ trẻ con mẫu giáo là "ngáo ộp", là "ma quỷ" hoặc là "ông ba bị" như lời bố mẹ chúng vẫn nói. Còn đối với lũ trẻ lớp ba, lớp bốn thì chiến tranh chỉ giống như là những cuộc chúng chia nhau đánh trận giả mà thôi. Máy bay Mỹ chưa ném bom xuống làng, chưa nhìn thấy tận mắt những cảnh lửa cháy, chết chóc nên bọn chúng rất coi thường. Nhiều khi bọn trẻ con còn ngồi vắt vẻo trên nóc hầm, trên cành cây xem máy bay ta và máy bay Mỹ đuổi bắn nhau trên bầu trời và reo hò ầm ĩ để cổ vũ cho không quân của ta. Bố mẹ lũ trẻ phải hò hét quát mắng, thậm chí đánh đòn chúng mới chịu chui vào hầm.
          Cái Liên nấu đầy hai thùng nước vối khi trời vừa rạng sáng. Nó dập ngay bếp lửa đi để khi trời sáng rõ không còn có khói bay lên trời, vi phạm lệnh phòng không. Ở một góc sân bà Vân- mẹ cái Liên đang cặm cụi ngồi gọt sắn để thái lát, phơi khô làm lương thực cho mùa giáp hạt. Từ ngày Liên để mất khẩu súng thì nhà như có đám. Bà Vân lầm lũi ra đường kéo cái nón rách sùm sụp che kín mặt chẳng dám ngước lên nhìn ai, chào ai và cũng chẳng có ai dám chào hỏi, nói chuyện với bà như trước nữa. Bà Vân lo lắng cho con gái đã đành lại càng thêm hoảng sợ vì có tin đồn nó làm gián điệp, lấy súng cung cấp cho bọn phản động để chống lại chính quyền nhân dân. Trước ngõ nhà bà luôn luôn có bóng công an xóm canh chừng. Dân làng không ai dám vào nhà bà Vân chơi hay xin nước uống như ngày trước nữa vì ai cũng sợ bị liên lụy.
          Cái Liên gánh hai thùng đựng nước uống đến chân Đồi Ma thì dừng lại chờ. Cái Liên cắm cúi gánh nước đi dọc theo bờ tre rồi theo bờ mương đến Đồi Ma. Không quay lại nhưng Liên biết chắc là đang có một công an viên bám theo phía sau. Họ theo dõi sát Liên kể cả khi chui vào nhà xí. Nhiệm vụ của họ phải làm như vậy. Họ có trách nhiệm phải theo dõi sát hành động của những kẻ tình nghi như cái Liên. Theo quy định thì cái Liên chỉ được gánh nước đến chân đồi. Bộ phận trực chiến trên Đồi Ma sẽ cử người xuống gánh đưa lên trận địa. Cái Liên không được phép lên Đồi Ma vì nó đang là đối tượng bị nghi ngờ là "gián điệp". Việc một kẻ tình nghi lên trận địa sẽ làm lộ bí mật việc bố trí trang bị, vũ khí chiến đấu của lực lượng dân quân. Nghe nói, phó trưởng công an xã Vũ Sinh còn lên tận trận địa phòng không Đồi Ma để nhắc nhở, khuyến cáo trung đội dân quân thường trực làng Hạ phải hết sức cảnh giác, các thùng nước uống do cái Liên nấu đem lên trận địa đều phải kiểm tra, thử thật kỹ trước khi uống đề phòng bị bỏ thuốc độc. Phó công an xã Vũ Sinh hướng dẫn cụ thể cho các chiến sĩ dân quân cách "thử độc" rất đơn giản mà có hiệu quả Đó là, bắt ngay lấy một con dế hoặc con cào cào, châu chấu, tốt nhất là con cua, con cá săn sắt ở dưới cánh đồng đem thả vào bát nước uống. Nếu sau một thời gian ngắn mà chúng không bị chết thì hãy uống nước cho an toàn. Hôm ấy, sau khi nghe phó trưởng công an xã Vũ Sinh hướng dẫn tỷ mỷ cách "thử độc" xong, trung đội trưởng Tình giận tím mặt. Chị lầu bầu văng tục: "Không có niềm tin ở những người lính của mình thì còn chiến đấu, chiến thắng cái con mẹ gì nữa chứ!".
           Chị Tình rất tin cái Liên. Nhưng việc mất súng đối với chị quả là quá bất ngờ. Đây cũng là một cú sốc rất nặng nề về tinh thần đối với toàn đơn vị. Chị tình cũng không hiểu vì sao khẩu súng lại bị mất, ai lấy, việc tìm kiếm ngày càng mờ mịt khiến cả đơn vị ngày thêm sa sút niềm tin và ý chí chiến đấu. Chị hiểu tình hình sẽ rất phức tạp nếu không tìm thấy khẩu súng CKC bị mất. Cái Liên có thể phải đi tù và chị cũng có thể phải rời khỏi trung đội dân quân thường trực làng Hạ vì là người chỉ huy trực tiếp nên phải chịu trách nhiệm về việc mất vũ khí này.
         Cái Liên đặt gánh nước xuống khoảng đất cạnh bụi tre gai dưới chân dốc rồi ngóng nhìn lên phía đỉnh đồi. Cái Na súng khoác qua vai hổn hển từ trên đỉnh dốc chạy xuống. Vừa nhìn thấy cái Liên nó liền hỏi ngay:
         - Hôm nay sao mày đem nước đến sớm thế?
         - Sớm gì nữa. Mặt trời đã vượt qua đỉnh núi Tam Đảo rồi còn gì!
         Cái Na nhìn bạn rồi chợt hỏi:
         - Sao trông mày gầy rộc và hốc hác thế?
         - Tao vẫn thế chứ có khác gì đâu... - Cái Liên chống chế và hỏi lại bạn:
         - Mà trông mày sao cũng gầy trơ tráo, mắt quầng thâm thế hả?
         Cái Na bật khóc:
         - Sao hai đứa chúng mình khổ thế hả Liên ơi!
         - Việc quái gì mà phải khóc! - Cái Liên làm ra vẻ cứng rắn: - Mày có mất súng như tao đâu mà khóc. Thôi nín đi...
         Cái Na vẫn sụt sịt:
         - Tao không mất súng nhưng cũng có trách nhiệm vì hôm khẩu súng bị mất tao cũng có mặt trên trận địa... Họ xếp tao vào loại "nghi ngờ số 2" sau mày đấy. Nghe nói sắp tới họ sẽ khai trừ mày và tao ra khỏi trung đội dân quân làng Hạ đấy, Liên ơi!
         Cái Liên hơi giật mình thảng thốt nhưng vẫn làm ra vẻ cứng cỏi:
         - Khai trừ thì khai trừ cần đếch gì...
         - Nhưng... tao sợ lắm... rồi chúng mình sẽ ra sao... dân làng sẽ coi chúng mình như những kẻ ăn cắp, bọn Việt gian phản động... họ sẽ coi thường, khinh ghét mình, gia đình mình...
          Liên im lặng. Cái Na lại khóc nức lên. Cái Liên thấy bức bối trong lòng, nó nói bừa cho đỡ ức chế:
         - Im đi! Mày làm cho tao thêm nẫu cả ruột. Không được làm dân quân nữa thì chúng mình làm dân đen. Không được đánh Mỹ nữa thì theo... Mỹ luôn...
          - Không được nói bậy! - Có tiếng người quát ngay phía sau lưng hai đứa. Chị Tình từ phía sau bụi tre bước ra. Chị nghiêm nét mặt nói tiếp: - Cái Na đem nước uống lên trận địa rồi đi đào công sự ngay. Còn cái Liên về chuẩn bị đi, tối nay nấu nồi cháo cho trung đội ăn đêm sau khi đi giúp đơn vị bộ đội bên kia sông xây dựng trận địa trở về. Rõ chưa?
           - Rõ rồi ạ! - Cái Na và cái Liên cùng đáp. Cái Na hỏi:
           - Chị đi đâu thế ạ?
           - Tao lên gặp ban chỉ huy quân sự xã nghe phổ biến về công tác chuẩn bị tuyển quân năm tới.... Thôi hai đứa việc nào việc nấy, đi đi... mà nhớ là hai đứa nói năng cho thật cẩn thận và nói in ít thôi, không được phát ngôn bừa bãi, thiếu suy nghĩ, tai vách, mạch rừng đấy! Tình hình ngày càng phức tạp lắm, hiểu không? - Giọng chị Tình có vẻ rất buồn nhưng chân thành.
            Chị Tình nói xong liền rẽ đi theo hướng giao thông hào về phía trụ sở sơ tán của ủy ban hành chính xã Hòa Sơn. Cái Na và cái Liên cũng chia tay nhau. Hai đứa đi theo hai ngả. Đứa gánh nước leo lên trận địa, đứa thì lầm lũi quay về làng Hạ. Mặt trời bắt đầu rót những tia nắng vàng xuống cánh đồng đang vào mùa lúa chín.
Cái Liên chạy tắt băng qua cánh đồng về làng cho gần. Có một bóng người tay cầm chiếc sào chăn vịt, đầu đội cái mũ lá rách vành lật đật chạy theo phía sau cái Liên. Đó không phải là một người chăn vịt thực sự mà chính là một công an viên cải trang bám theo nó từ sáng sớm nay.
            Về đến nhà cái Liên đóng sập ngay cánh cổng đan bằng cẵng lá cọ xuống. Bà mẹ Liên đã lên rừng nơi có lán sơ tán để phòng tránh máy bay Mỹ. Cái Liên khép cửa nhà. Đoạn nó nằm soài ra giường lôi dưới gối cuốn sách chị Nhân mới đưa cho để đọc. Nhưng những tình tiết hấp dẫn trong cuốn sách về tình yêu không làm cho cái Liên quên được khẩu súng CKC bị mất. Liên quăng cuốn sách xuống giường rồi ngồi dậy. Nó đi lại chỗ cánh cửa ghé mắt qua khe nứt nhìn ra phía ngoài ngõ. Bóng ông công an viên với cây sào chăn vịt trên tay vẫn lảng vảng ở cổng.
           Cái Liên quay lại chỗ góc nhà. Nó kéo cái nong đựng sắn lát khô sang một bên. Một miệng hầm lộ ra. Đó là cái hầm trú ẩn mà nó đã đào ngay trong góc nhà để đêm mà có máy bay Mỹ hai mẹ con có thể nhanh chóng xuống ẩn náu, tránh mảnh bom. Cái Liên chui xuống hầm. Cái hầm có lối cửa thoát ra phía sau vườn để phòng khi nhà bị cháy. Liên theo cửa hầm ra sau vườn tuồn lên sườn đồi sau nhà. Đứng nép sau một gốc cây cọ um tùm cái Liên vẫn trông thấy ông công an viên cầm cây sào chăn vịt ở cổng nhà mình. Ông công an xóm chắc là vẫn nghĩ nó đang còn ở trong nhà.
Cái Liên lặng lẽ đi vào trong thung lũng hoang vắng. Nó băng qua các sườn đồi cọ đầy cỏ tế, tránh các lối mòn để lỡ ai trông thấy. Đến bất cứ một lùm cây, bụi rậm nào có vẻ nghi ngờ nó cũng chui vào tìm kiếm. Cái Liên mong sẽ bất ngờ tìm thấy khẩu CKC mà tên kẻ cắp đang còn giấu ở đây. Những chỗ cây cối càng rậm rạp thì cái Liên càng hăng hái chui vào tìm kiếm và hy vọng. Gai cây móc diều sắc nhọn cào rách cả vai áo, thấu đến thịt da khiến cái Liên thấy đau nhói. Nó còn mò mẫm dưới một lạch nước đen ngòm, tanh hôi vì phía trên là khu nghĩa địa dày đặc những cái mả, mới cũ đều có cả. Quá trưa mệt và đói quá, cái Liên ngồi nghỉ bên một khe suối vắng. Nó lôi từ trong cái túi ra mấy củ sắn luộc ngồi nhai ngấu nghiến. Ăn xong cái Liên mới cảm thấy nóng bức và mùi hôi hám của bùn đất trên người mình. Nó ngó nhìn xung quanh. Khe núi hoang vu vắng vẻ. Cái Liên nhoài người tụt xuống bời con suối nhỏ. Nó lặng lẽ trút bỏ quần áo để trên một mô đá nhỏ ven bờ. Cái Liên từ từ lội ra giữa dòng nước trong xanh mát rượi. Nó dìm người xuống dòng nước trong veo để che cái cơ thể trần trụi của mình. Nhưng dòng nước khe sâu trong xanh quá nên càng lộ rõ những đường nét quến rũ trên cơ thể thanh xuân của người con gái. Có tiếng động loạt soạt trên cành cây trám. Liên giật mình nhìn lên. Một con sóc nhỏ nghiêng nghiêng đầu nhìn xuống dòng suối. Cái Liên lật người nằm úp xuống để giấu bớt những điểm cần che giấu trên cơ thể mình trước đôi mắt long lanh của con sóc nhỏ trên cây trám. Liên hơi mỉm cười ngoái đầu lên nhìn chú sóc đang ngoáy tít cái đuôi tròn mắt ngó nghiêng trên cành cây chìa ngang dòng suối nhỏ.
           Cái Liên không hề biết ngoài đôi mắt của con vật nhỏ còn có một đôi mắt của một con người đang ngắm nhìn, thèm khát cái cơ thể tuyệt mỹ của nó.
           Ngồi trong một bụi rậm ngay bên bờ suối phó công an xã Vũ Sinh cố nín để không thở mạnh. Vũ Sinh đã bám theo cái Liên ngay từ khi nó bí mật chui ra khỏi nhà. Cái Liên có thể qua mặt được ông công an viên làng Hạ chứ không thể lừa được anh phó công an xã. Vốn là một người có nhiều kinh nghiệm trong công tác an ninh, phòng chống gián điệp như Vũ Sinh thì là sao cái Liên có thể lừa được chứ. Vũ Sinh bao giờ cũng có các phương án trong việc thực thi nhiệm vụ. Vũ Sinh gần như chết lặng đi khi cái Liên khỏa thân giữa dòng nước. Đây là lần đầu tiên Vũ Sinh nhìn thấy cơ thể con gái một cách rõ ràng thế mặc dù anh là người đã có vợ. Sánh - vợ của Vũ Sinh là một người rất khác. Khi hai người ngủ với nhau Sánh bao giờ cũng bắt anh phải tắt hết đèn rồi trùm chăn kín mít. Không phải là vợ anh xâu hổ mà là vì một lý do khác. Sánh bị bỏng ở đùi từ nhỏ. Vết bỏng sâu khiến da đùi sần sùi như da cóc nên cô không muốn cho chồng trông thấy. Thành thử, tuy đã có vợ rồi mà Vũ Sinh vẫn chưa từng tường tận cơ thể người phụ nữ như thế nào. Bây giờ tận mắt nhìn thấy cơ thể của một người con gái đẹp khiến đầu óc Vũ Sinh choáng váng, quay cuồng. Anh nhìn như dán đôi long nhãn vào cặp vú tròn trịa và cái khoảng tam giác đen mượt mà, đầy bí ẩn trên cơ thể của cô gái. Suýt nữa anh thốt lên: "Đẹp quá! Sao lại có một người con gái đẹp đến thế!". Vũ Sinh như không kiềm chế được lòng mình.
            Vùng vẫy thỏa thích dưới dòng nước mát cái Liên bước vào bờ đến chỗ mô đá để lấy quần áo. Liên chợt hốt hoảng nhìn thấy phó trưởng công an xã Vũ Sinh đang đứng như trời trồng giữa lùm cây ven suối trân trân nhìn mình. Liên vội vã đưa một tay ôm lấy ngực, một tay che lấy khoảng đen phía dưới bụng. Vũ Sinh như bị ma ám. Anh lừ lừ tiến ra giữa suối, tim đập loạn, miệng lắp bắp:
           - Cho... cho... cho tôi một... một lần... tôi sẽ bỏ qua cho tội làm gián điệp...
           Cái Liên kêu lên:
          - Ông câm ngay đi... tôi kêu lên bây giờ...
          Vũ Sinh vẫn tiến lại gần cái Liên, hai tay giơ ra như muốn ôm ngay lấy cái cơ thể tuyệt đẹp kia. Cái Liên hoảng sợ khi nhìn thấy đôi mắt rất lạ của Vũ Sinh. Nó tiếp tục lùi lại để tránh xa ông phó công an xã. Rồi vừa té nước túi bụi vào mặt Vũ Sinh, cái Liên vừa hét lên hoảng hốt:
            - Đồ khốn! Ông lùi lại ngay!
            Vũ Sinh chợt bừng tỉnh. Có lẽ là do cái Liên hét to quá và một phần do nước té vào mặt làm anh tỉnh táo lại. Vũ Sinh vội lùi lên bờ suối. Cái Liên vẫn đứng giữa suối. Hai tay Liên buông thõng xuống không che đậy nữa. Vũ Sinh quay mặt đi và lên giọng ra lệnh:
           - Mặc quần áo, theo tôi về trụ sở để làm việc!
           Vũ Sinh đi một đoạn khuất sau cây cọ già đứng chờ. Cái Liên giờ mới hoàn hồn. Tuy còn hơi sợ nhưng cái Liên vẫn bình tĩnh bước lại chỗ để quần áo. Nó đứng ngay bên bờ suối mặc đồ kệ cho đôi mắt sắc bén của ông phó công an xã có thể vẫn đang nhìn trộm. Con sóc nhỏ tinh nghịch trên cành cây trám đã biến mất. Con vật đã vô cùng hoảng sợ vì tiếng hét của cái Liên lúc nãy.
           Mặc xong quần áo cái Liên đi đến chỗ phó trưởng công an xã Vũ Sinh đang đứng chờ. Nó nói trống không:
           - Về trụ sở xã thì về...
           Đoạn nó bước qua mặt Vũ Sinh đi lên phía trước. Phó trưởng công an xã vội rảo bước theo sau. Nhưng rồi Vũ Sinh khựng lại. Cái Liên đang đi phía trước, tay nó cầm cái quần lót và cái xu-chiêng màu đỏ chói. Nó không thèm mặc đồ lót nữa mà cầm luôn theo trong tay. Không thể dẫn giải kẻ tình nghi về trụ sở làm việc trong tình trạng như thế này được, Vũ Sinh gằn giọng nói:
           - Đúng ba giờ chiều nay cô phải có mặt ở cơ quan công an xã để làm việc với công an huyện. Rõ chưa!
           Rồi không biết cái Liên đã nghe rõ mệnh lệnh triệu tập hay chưa, Vũ Sinh vội lủi ngay vào một bụi rậm ven lối mòn. Phó trưởng công an xã biến mất trong rừng rất nhanh như chưa từng có mặt ở đoạn suối nước trong xanh này...

           (còn nữa)                                   Hà Nội, 11-2014 

   

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2015

Truyện dài TRĂNG LẠNH (phần 24)

 

 


      TRĂNG LẠNH
    Truyện dài của Trọng Bảo

      Phó tiến sĩ Dương Thụy và chị Nhân đi chầm chậm trên con đường ven đồi cọ. Đêm nay họ cùng làm nhiệu vụ đi tuần tra bảo vệ khu vực các cơ quan trung ương về sơ tán trú chân. Trăng sáng. Ánh trăng lọt qua những chùm lá cọ tạo nên một màu sáng bàng bạc, mờ tỏ, lung linh ảo huyền. Con đường nhỏ ven đồi như một vệt màu sẫm dưới trăng khuya.
         Lẽ ra nếu cái Liên không bị đình chỉ công tác để điều tra thì những ca tuần tra đêm thế này chị Nhân và nó sẽ cùng đi. Chị Nhân chợt thấy sao lòng khi nghĩ đến cái Liên. Chị thương nó quá. Nếu không tìm thấy khẩu súng thì cuộc đời, sự nghiệp và cả tương lai của nó nữa sẽ chấm hết. Giả sử có tìm thấy thì đối với nó cuộc đời phía trước cũng chẳng sáng sủa gì. Mất súng là một việc vô cùng nghiêm trọng. Khẩu súng là vật vô tri vô giác nhưng lại là một thứ thật ghê gớm. Nó là phương tiện của chiến tranh. Nó dùng để bắn chết kẻ thù, để giết người, dùng để chế áp kẻ xấu. Những người cầm súng chiến đấu cảm thấy rất vinh quang khi được chĩa thẳng nòng súng vào mặt quân thù mà xiết cò. Những người đeo súng kêu hãnh bước trong hàng quân ra chiến trường. Chị Nhân đã thấy nhiều người như thế trong đoàn quân chiến sĩ ngày đêm hành quân trên quốc lộ 2C. Họ vừa đi vừa hát vang bài ca ra trận. Trên vai họ những khẩu súng rạng ngời ánh thép, lấp lánh lưỡi lê. Vậy mà có những người như cái Liên khẩu súng chưa đem lại niềm vinh quang mà đưa đến sự đắng cay, khốn khổ đến thế. Cái Liên đang bị quản thúc rất chặt chẽ tại nhà. Quanh nhà nó luôn có bóng các công an viên của làng, của xã lảng vảng. Mỗi bước đi của nó luôn có người bám theo. Cái Liên vẫn là một chiến sĩ dân quân, nhưng lại là một người lính chiến bị mất vũ khí khi mà cuộc chiến đấu chưa xảy ra. Riêng chuyện ấy đã là một điều rất xấu và bất ổn.
         Thấy chị Nhân cứ lặng lẽ bước đi, Dương Thụy hỏi:
         - Em suy nghĩ gì mà có vẻ nghiêm trang thế?
         Chị Nhân chống chế:
         - Em đang chú ý quan sát xung quanh. Đang đi tuần tra mà nói chuyện nhiều không tiện lắm!
         - Em lại nghĩ đến cái Liên hả?
         - Sao anh biết?
         - Thì… hai người thân với nhau thế cơ mà.
         Chị Nhân bùi ngùi:
         - Em thương và lo cho nó quá anh ạ!
         Phó tiến sĩ Dương Thụy làm ra vẻ đồng cảm:
         - Cả đơn vị dân quân ai chả lo cho nó, anh cũng thương nó lắm…
         Dương Thụy nói như vậy để lấy lòng chị Nhân thôi. Thực ra, Dương Thụy rất ghét cái Liên. Việc bị ném đất đá hôm trước trên Đồi Ma nhất định là do nó gây nên. Dương Thụy sợ mỗi lần bắt gặp đôi mắt sắc lẻm và ẩn chứa nhiều sự nghi vấn của cái Liên. Việc cái Liên để mất khẩu CKC khiến cả trung đội đều lo lắng, mất ăn, mất ngủ nhưng. Ngoài mặt Dương Thụy cũng làm ra vẻ lo lắng như mọi người, cũng hăng hái đi tìm kiếm như mọi người nhưng lòng thì lại nghĩ khác. Dương Thụy thấy hả hê trong lòng. Dương Thụy vốn có ác cảm với cái Liên. Dương Thụy thấy khó chịu mỗi khi thấy chị Nhân sự lo lắng cho cái Liên nhưng vẫn làm ra vẻ cảm thông như thế. Dương Thụy tìm cách kéo chị Nhân ra khỏi sự suy tư về cái Liên bằng cách lái sang chuyện khác:
        - Em đã về thủ đô Hà Nội chơi bao giờ chưa?
        - Chưa… Hà Nội đẹp lắm hả anh?
        - Rất đẹp…
        Dương Thụy bắt đầu kể cho chị Nhân nghe về Hà Nội. Câu chuyện của Dương Thụy thật hấp dẫn. Dương Thụy hứa khi nào có điều kiện sẽ đưa chị Nhân về thủ đô chơi, thăm hết các danh lam, thắng cảnh, chiêu đãi một bữa kem Tràng Tiền thật đã.
         Nghe Dương Thụy kể say sưa chị Nhân chợt ngắt lời hỏi:
         - Chắc là phải đến lúc hết chiến tranh! Mà chiến tranh bao giờ mới kết thúc hả anh?
         Dương Thụy lúng túng:
        - Anh cũng không biết bao giờ mới hết chiến tranh. Nhưng nhất định khi hết chiến tranh anh sẽ đưa em về Hà Nội chơi, đi tàu điện ra Bờ Hồ, lên chợ Đồng Xuân…
         - Nhất định thế anh nhé!
         - Nhất định! Anh hứa với em.
         Chị Nhân thấy vui vui khi nghĩ đến ngày chiến tranh sẽ kết thúc ấy. Chị chợt thấy lòng xao xuyến, chút kiêu hãnh khi được đi bên một người trí thức trẻ Hà Nội gốc như Dương Thụy. Chị nghĩ đến một ngày mai còn rất xa xôi nhưng đầy những điều tốt đẹp, tươi sáng ấy.
         Hết buổi tuần tra hai người vẫn chưa muốn về nhà nghỉ. Đêm nay hình như cả hai không thấy buồn ngủ chút nào. Chị Nhân và Dương Thụy cùng leo lên đỉnh đồi cọ. Trăng đã tà nhưng trên đỉnh đồi cao không bị che khuất nên vẫn ngập tràn ánh sáng. Ánh trăng không rõ ràng như ánh nắng nhưng lại mịn màng, huyền ảo, quyến rũ hơn.
          Hai người ngồi bên nhau. Thời gian trôi đi thật chậm nhưng họ đều lo trời sắp sáng. Phía dưới làng Hạ những tiếng gà gái đã dày hơn. Không biết tự bao giờ họ đã ngồi sát lại bên nhau. Dương Thụy vòng tay ôm lấy bờ vai người con gái làng Hạ. Một nụ hôn trên gò má nóng hổi. Mặc dù đã được nghe cái Liên kể nhiều về chuyện ấy nhưng chị Nhân vẫn thấy bàng hoàng thảng thốt khi Dương Thụy vòng tay ôm lấy ngực mình. Còn cách hai lần vải áo và đồ lót nhưng da thịt của người con gái đã cảm nhận thấy sự mạnh mẽ bàn tay của người khác giới. Nó rất lạ lùng và rất khác. Một chiếc khuy áo trên ngực bật ra. Những ngón tay của Dương Thụy đã chạm vào làn da mềm mại và khuyến rũ nhất trên ngực người con gái. Chị Nhân như mê đi, trời đất quay cuồng. Chị thấy sợ hãi vì chợt nhận thấy mặt trăng lúc này sao lại sáng thế khi Dương Thụy ẩy bầu vú của chị lộ hẳn ra dưới ánh trăng. Chị vội vã đưa tay bưng lấy ngực và ngẩng mặt lên nhìn trăng. Mặt trăng cũng căng tròn như ngực của người con gái trẻ. Hai bàn tay của Dương Thụy tiếp tục sục sạo, khám phá. Chị Nhân vừa muốn giữ chặt vừa làm ra bộ không đồng ý đẩy nhẹ bàn tay của Dương Thụy ra. Chị hơi hẫng hụt khi Dương Thụy rút bàn tay ra khỏi ngực mình. Chị nghĩ anh tự ái. Nhưng chị giật nảy người khi bàn tay của anh đã hạ xuống phía dưới. Thật nhanh và chính xác. Chị Nhân biết chuyện rồi cũng sẽ đến, nhưng vì là lần đầu tiên nên chị thấy rất ngỡ ngàng và bất ngờ với những chuyển động táo bạo của bàn tay của đàn ông trong vùng cấm địa ấy. Chị lả người đi. Dương Thụy đỡ chị nằm xuống bãi cỏ mềm trên đồi. Mặt trăng chui vào bóng mây, bầu trời sẫm lại. Khi trăng thoát ra khỏi vùng bóng tối chị Nhân giật mình thấy cơ thể mình trần trụi giữa thiên nhiên, cây cỏ. Chị chưa kịp giơ hai bàn tay bé nhỏ che đỡ thì Dương Thụy đã trườn lên người mình. Cơ thể anh nóng rực. Có cái gì đó chạm mạnh vào đùi, chị Nhân hơi co người lại… Mọi chuyện diễn ra cho đến khi kết thúc. Chị Nhân cảm thấy bất ngờ vì nó tuyệt vời hơn cả những gì đã được nghe cái Liên kể lại. Dương Thụy cũng vô cùng bất ngờ. Ở một vùng quê trung du xa thành phố thế này mà lại được chiêm ngưỡng và tận hưởng một tác phẩm vô cùng tuyệt vời của tạo hoá sinh ra.
         Mặt trăng đã khuất dần vào sau dãy núi phia xa.
         Con đường ven khu đồi cọ đã lẫn vào bóng tối trước bình minh.
         Chị Nhân và phó tiến sĩ Dương Thụy quay trở về. Họ cùng đi xuống phía dưới chân đồi. Những bước chân hụt hẫng vì xuôi dốc. Hai người chia tay nhau ở đầu con đường nhỏ. Phó tiến sĩ Dương Thụy về lán sơ tán của cơ quan thư viện quốc gia để bắt đầu một ngày làm việc mới. Chị Nhân về làng để buổi sáng đi gặt lúa cho hợp tác xã. Chiều nay chị mới có phiên trực chiến trên trận địa Đồi Ma.

         (còn nữa)                                         Hà Nội, 11-2014     

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2015

Truyện dài TRĂNG LẠNH (phần 23)

 

       

         TRĂNG LẠNH
          Truyện dài của Trọng Bảo

          Suốt mấy ngày liền, công an xã và toàn thể trung đội dân quân làng Hạ lùng sục, tìm kiếm khắp nơi, rà soát từng bụi cây, ngọn cỏ, ngụp lặn mò mẫm kiểm tra từng cái ao chuôm, mương máng, hồ đập xung quanh khu trận địa Đồi Ma và khu vực xung quanh nhưng vẫn không tìm thấy khẩu CKC bị mất. Cái Liên thì vẫn bị lưu giữ, quản thúc ở trụ sở của xã để công an huyện, công an xã tiếp tục thẩm vấn, diều tra. Lần lượt từng người trong các bộ phận “nghi phạm” số 2 và số 3 cũng được gọi lên để tra hỏi. Một số đối tượng khác hay lên Đồi Ma như lão Vận nhà ở bến sông Phó Đáy, cu Tít - em trai người yêu cái Liên cũng được công an tìm đến tiếp xúc hỏi han để thu thập thêm thông tin. Tình hình xã Hòa Sơn trở nên căng thẳng, nặng nề sau vụ mất vũ khí. Mọi người nhìn nhau đầy sự nghi ngờ cảnh giác. Ra đường ai cũng trông trước, ngó sau tựa như có một tên gián điệp, một kẻ phản động đang rình mò quanh quẩn đâu đây.
           Khu vực sơ tán của ủy ban hành chính xã Hòa Sơn được công an viên các xóm lên tăng cường tuần tra, canh gác. Cái Liên được bố trí ở tạm tại một gian nhà nhỏ ẩm thấp đắp vắt lợp lá cọ trong một khe núi. Xung quanh cây cối rậm rạp. Đây vốn là nơi chuyên để nấu cơm, đun nước cho cán bộ xã. Việc cái Liên bị quản chế ở đây cũng sinh ra lắm vấn đề. Đầu tiên là công an xã phải cử người canh gác suốt ngày đêm. Rồi việc đảm bảo ăn uống, tắm giặt cho cái Liên cũng là một việc không thể thiếu. Hàng ngày bà mẹ cái Liên hoặc chị Nhân chỉ được vào khu vực này một lần để tiếp tế cho nó đồ ăn, nước uống. Bà mẹ cái Liên khóc hết nước mắt, người gầy rạc đi vì lo lắng và thương con. Cơ quan ủy ban hành chính cấp xã không có người phục vụ về hậu cần cả ngày. Một ông già đảm nhận việc phục vụ chỉ nấu nước và quét tước, vệ sinh nơi làm việc của cán bộ. Hôm nào lãnh đạo xã tổ chức liên hoan, đón tiếp cấp trên thì mới huy động chị em trong hội phụ nữ đến để nấu nướng, tiếp khách. Thường là các cán bộ xã đến trụ sở làm việc người nào ở gần thì buổi trưa về nhà ăn cơm, người ở xa thì mang theo bữa trưa ăn luôn tại nơi làm việc.
          Tình hình chiến sự căng thẳng, máy bay Mỹ hoạt động mạnh, các làng xóm sơ tán triệt để. Buổi trưa, cán bộ xã thường ở lại luôn tại chỗ làm việc cho an toàn. Việc di chuyển, đi lại ngoài đường nhiều dễ bị máy địch phát hiện. Những ngày đầu, các cán bộ ủy ban xã thường gọi nhau kéo lên hội trường rồi tập trung đồ lại cùng ăn trưa. Sau đó thì ai cũng ngại. Bởi lẽ mỗi người có mỗi hoàn cảnh khác nhau. Người khá giả thì có gói cơm nếp. Người trung bình thì có nắm cơm tẻ. Người hoàn cảnh gia đình khó khăn thì nắm cơm độn toàn khoai sắn. Có người tiêu chuẩn bữa trưa chỉ là vài khúc sắn luộc hoặc mấy củ khoai lang nướng. Thức ăn thì người khá thì có đôi ba miếng thịt, một quả trứng luộc, kẻ khó khăn thì chỉ chút muối vừng, hoặc là muối trắng rang mỡ. Bởi thế nếu góp lại ăn chung mãi thì người sang sẽ cảm thấy thiệt thòi và cũng ngại bị đánh giá là chơi sang, kẻ nghèo thì cảm thấy tủi thân. Ngay như xã đội trưởng Phạm Bản có hôm trong cái xà-cột bạt cũ kỹ đứt quai cũng chỉ có một cái bánh làm bằng bột sắn đen sì cho bữa trưa tại nơi làm việc. Phó chủ tịch xã Nguyễn Trung Hiếu nhà ở tận trên thị trấn huyện. Hằng anh ngày đạp xe gần chín cây số về xã Hòa Sơn. Chiếc xe đạp phượng hoàng Trung Quốc mới tinh chỉ cần đạp nhẹ một cái đã chạy vo vo. Trong cái cặp da bóng lộn của phó chủ tịch Hiếu thường là một nắm cơm gạo mới và một cái đùi gà luộc, không thì cũng phải là một xiên chả nướng thơm phưng phức. Nếu đem góp chung với anh em cán bộ khác thì cũng thật ngại. Không phải là anh vì sợ thiệt thòi mà là sợ sẽ bị đánh giá là nhà giàu, sung sướng, ăn sang hơn người khác. Như vậy sẽ là xa rời quần chúng, thiếu tinh thần đồng cam cộng khổ. Vì thế khi đến cơ quan, phó chủ tịch Hiếu thường giấu kín cái đùi gà, xiên chả nướng ở trong tủ tài liệu. Thỉnh thoảng lựa lúc vắng khách, anh mở tủ ra làm như đang tìm tài liệu rồi cắn một miếng thịt ăn để khỏi ai nhìn thấy. Buổi trưa, anh chỉ ăn cơm nắm chấm tý muối lạc cho không quá khác biệt với các anh em cán bộ khác cùng cơ quan.
          Đó là nguyên nhân bữa trưa tại trụ sở ủy ban xã sau vài lần tập trung rồi thì của ai người nấy ăn, cố tránh gặp nhau khi đang dùng bữa. Người ngồi trong nhà, kẻ ra ngoài rừng, ven suối ăn vội vàng cho xong bữa trưa rồi ngả lưng ở hội trường, gốc cây nghỉ ngơi để lấy lại sức buổi chiều tiếp tục công việc. Thời chiến có rất nhiều việc phải làm hàng ngày đối với cán bộ cấp xã.
          Việc tiếp tục lưu giữ cái Liên ở tại trụ sở ủy ban xã lâu dài thành vấn đề phức tạp. Lãnh đạo xã đành phải tập hợp các thành phần cán bộ liên quan tổ chức một buổi họp khẩn cấp để bàn biện pháp giải quyết. Phó công an xã Vũ Sinh nêu ý kiến trước:
           - Để nhanh chóng ổn định tình hình tư tưởng cho cán bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân trong toàn xã tôi thấy cần phải giải quyết dứt điểm vụ việc này. Tôi đề nghị lãnh đạo xã nên cho dẫn giải đối tượng lên công an huyện để giam giữ điều tra.
           Xã đội trưởng Phạm Bản lập tức phản đối:
           - Vụ việc chưa rõ thế nào, chúng ta không thể làm thế được. Đây là vấn đề liên quan đến danh dự, phẩm chất, sinh mệnh chính trị của một con người, mà đó lại là phụ nữ, chúng ta nên cân nhắc cho thật thận trọng.
           Vũ Sinh phản ứng lại ngay:
           - Tội danh làm mất vũ khí đã rõ ràng rồi, còn băn khoăn đắn đo gì nữa?
           - Nhưng chúng ta còn đang điều tra, tìm kiếm, chưa xác định rõ thủ phạm…
           - Điều tra, tìm kiếm đến bao giờ nữa. Đã đào bới, tìm kiếm, lật tung từng bụi cây ngọn cỏ những nơi nghi ngờ rồi nào có thất gì đâu. Nhất định khẩu súng này đã lọt vào tay bọn phản động, bọn Việt gian, phản quốc rồi.
           - Không nên võ đoán như thế khi chưa đủ chứng cứ!
           Xã đội trưởng Phạm Bản tỏ ra bức xúc. Phó công an xã Vũ Sinh càng lên giọng khẳng định:
           - Chứng cứ rành rành ra đó, chúng ta không nên cố bao che… Tôi sợ là có người vì thiếu kiên quyết… vì… vì... nể nang… chị em phụ nữ mà sẽ lại phạm phải sai lầm…
           Phó công an xã Vũ Sinh muốn ám chỉ xã đội trưởng Phạm Bản về câu chuyện ngày xưa khi còn ở trong quân ngũ. Xã đội trưởng Phạm Bản hiểu ngay thâm ý của Vũ Sinh, anh nhấp nhổm giơ tay xin phát biểu tiếp. Phó chủ tịch xã Nguyễn Trung Hiếu chủ trì buổi họp thấy tình hình căng thẳng vội lên tiếng:
           - Thôi! Chúng ta cũng không nên tranh cãi nhiều với nhau nữa. Bây giờ chúng ta nên bàn cho cụ thể hơn về cách giải quyết vụ việc này. Tôi đề nghị đồng chí xã đội trưởng cho ý kiến trước.
           Được chỉ định phát biểu, Phạm Bản liền đứng dậy. Anh cố nén sự bức xúc hạ giọng nói:
           - Tôi đề nghị cứ cho cô Liên trở về với trung đội dân quân làng Hạ để tiếp tục làm nhiệm vụ và cùng chị em tiếp tục tìm kiếm khẩu súng bị mất. Khi nào có ý kiến chỉ đạo của trên hoặc kết luận điều tra của công an thì chúng ta sẽ xử lý tiếp. Không nên tự ý dẫn giải người đi giam giữ.
            - Tôi… tôi… - Nghe chưa hết ý kiến của xã đội trưởng, phó công an xã Vũ Sinh bật dậy như một cái lò so. Vũ Sinh định phản đối lại ý kiến của Phạm Bản nhưng bất ngờ trong đầu lại chợt lóe lên một ý định mới, anh dịu ngay nét mặt lại rồi nói tiếp: - Thôi thế... thế cũng được! Tôi… tôi cũng xin đồng ý với ý kiến đề xuất này của đồng chí xã đội trưởng. Chúng ta nên tạo điều kiện cho cô Liên tìm cách khắc phục hậu quả, sửa chữa khuyết điểm. Cô Liên mà tự tìm thấy khẩu súng bị mất thì tốt quá, xã ta sẽ không mất thành tích thi đua năm nay…
           Mọi người dự buổi họp thở phào vì hai ông công an và quân sự xã đang từ bất đồng, căng thẳng đột nhiên lại đồng ý kiến. Suốt trong buổi họp chỉ có phó trưởng công an xã Vũ Sinh và xã đội trưởng Phạm Bản là phát biểu còn tất cả đều im lặng ngồi nghe. Họ biết, mỗi khi tình hình phức tạp, nhạy cảm, tranh cãi như thế này các cán bộ không phải chịu trách nhiệm chính nhiều khi im lặng lại có lợi hơn là phát biểu. Phó chủ tịch xã Nguyễn Trung Hiếu kết luận:
            - Chúng ta thống nhất là sẽ cho cô Liên trở về với trung đội dân quân làng Hạ nhưng phải quản lý thật chặt chẽ, không được giao cho những công việc quan trọng như trực chiến, tuần tra canh gác, chỉ giao làm những việc thông thường như nấu cơm, nấu nước và chủ yếu ở tuyến sau, không được có mặt thường xuyên trên trận địa. Khi nào có ý kiến kết luận điều tra, ý kiến chỉ đạo của cấp trên sẽ xử lý tiếp. Đối tượng này không được đi đâu ra khỏi làng. Việc quản lý đối tượng này giao cho công an và ban chỉ huy quân sự xã chịu trách nhiệm. Hai cơ quan cần triển khai, phối hợp cụ thể, dự phòng tất cả mọi tình huống xấu nhất, tránh để xảy ra sự cố đáng tiếc. Nếu không có ai ý kiến thêm thì chúng ta dừng cuộc họp ở đây, mọi người giải tán về tiếp tục công việc của mình.
           Mọi người ồn ào đứng dậy đang định để trở về chỗ làm việc của mình thì ông chủ tịch xã Trần Khuông bước vào. Chủ tịch xã Trần Khuông vừa đi họp trên huyện về. Ông yêu cầu các cán bộ nán lại một phút để thông báo nhanh một việc cần cấp. Chờ mọi người liền ngồi xuống yên vị, chủ tịch xã Trần Khuông mới bắt đầu nói. Ông nói, giọng đều đều, không buồn, không vui:
           - Thưa các đồng chí! Tôi đã có quyết định của trên cho nghỉ công tác. Kể từ ngày mai, đồng chí Nguyễn Trung Hiếu sẽ đảm nhiệm chức vụ quyền chủ tịch xã Hòa Sơn. Đề nghị các đồng chí nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí quyền chủ tịch!
            Tiếng vỗ tay lẹt đẹt vang lên vì cuộc họp quá ít người.
            Ngay sau đó, các cán bộ rời khỏi phòng họp. Phó trưởng công an xã Vũ Sinh yêu cầu công an viên làng Hạ, làng Thượng và xóm Mới ở lại để triển khai gấp một số công việc cụ thể. Để mọi người ngồi yên một lúc Vũ Sinh bắt đầu vào việc. Anh nói vừa đủ nghe vì số lượng người họp ít và cũng là thói quen của một cán bộ công an luôn luôn nêu cao ý thức cảnh giác, có nhiều thông tin bí mật không phổ biến rộng rãi:
            - Vụ việc mất súng của trung đội dân quân làng Hạ là hết sức nghiêm trọng. Chúng ta không loại trừ đã có một tổ chức phản động móc nối và âm mưu phá hoại trong vụ việc này. Hiện nay ở các xã phía nam huyện ta đã nhen nhúm xuất hiện một tổ chức phản động mang tên là đảng "Bàn tay đen". Công an đã bắt được một phần tử là học sinh cấp ba giấu trong cặp sách nhiều loại giấy tờ ghi chép tài liệu về tôn chỉ, mục đích của đảng "Bàn tay đen" này. Do đó, chúng ta càng phải hết sức cảnh giác. Việc mất súng của dân quân xã ta và việc xuất hiện tổ chức phản động trên có thể có mối liên hệ với nhau...
           Ngừng một lát quan sát nét mặt và thái độ của các công an viên, phó công an xã Vũ Sinh nói tiếp:
           - Qua điều tra đối tượng Liên, người làm mất súng, đã phát hiện ra rất nhiều nghi vấn. Đối tượng này có một người cậu họ bên nhà ngoại từng đi lính khố xanh cho Pháp, sau đó lại di cư vào Nam biệt tin, mất tung tích từ lâu. Có thể tên này đi theo làm tay sai cho Mỹ-ngụy đã quay trở về miền Bắc móc nối hoạt động. Việc mất súng lần này có nhiều điểm rất đáng nghi. Tôi đang tổng hợp phân tích lại các chi tiết vụ việc. Có thể là do chính đối tượng lấy cắp. Lúc nãy trong cuộc họp tôi đã đề nghị đưa đối tượng đi giam giữ. Nhưng sau thấy việc tạm thả ra lại có lợi hơn cho việc điều tra, phá án. Công an chúng ta sẽ theo dõi thật chặt chẽ đối tượng suốt ngày đêm. Biết đâu chúng ta không những chỉ tìm thấy khẩu súng bị mất mà có khi còn phát hiện ra cả một tổ chức phản động nữa. Nếu như thế là công an xã ta sẽ lập được một chiến công vô cùng xuất sắc đấy!
            Các cán bộ công an im lặng lắng nghe phó trưởng công an xã Vũ Sinh trình bày cụ thể kế hoạch "thả con săn sắt-bắt con cá rô" của mình. Nghe xong ai cũng thấy hồi hộp, phấn chấn, muốn bắt tay luôn vào công việc điều tra phá án, tiêu diệt hết bọn phản động. Tất cả họ như đều cùng nhìn thấy một chiến công đang hiển hiện ở ngay trước mắt...

            (còn nữa)                                    Hà Nội, 11-2014 

   

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

Truyện dài TRĂNG LẠNH (phần 22)

   

          TRĂNG LẠNH

          Truyện dài của Trọng Bảo

        Thằng Nam và cái Na chạy lên đến bờ đê sông Đáy thì trời lất phất mưa. Hai đứa phải đi chậm lại vì con đường lên trận địa lồi lõm những vết chân trâu nhìn không rõ vì trời tối nên rất khó đi. Cái Na vừa thở vừa kể lại cho thằng Nam biết sự việc xảy ra lúc buổi chiều trên trận địa Đồi Ma. Nghe cái Na nói xong thằng Nam cũng phát hoảng. Nó lo lắng giục cái Na:
          - Đi nhanh lên...
          Vừa giục, thằng Nam vừa vọt lên phía trước. Cái Na đeo khẩu súng lạch bạch cố bám đuổi theo sau thằng Nam. Vừa chạy theo cái Na vừa mếu máo:
          - Phen này thì bọn mình nguy rồi Nam ạ! Công an cũng đã đến để điều tra...
          - Đừng lo! Cứ về rồi xem tình hình cụ thể thế nào đã!
          Hai đứa lên tới đỉnh Đồi Ma thì trời bắt đầu mưa rào. Thằng Nam chui luôn vào căn nhà trực chiến nửa nổi nửa chìm dưới gốc cây đa. Nó thấy nhiều người đang đứng ngồi lố nhố trong nhà. Một chiếc đèn bão đặt trên cái bàn nhỏ kê giữa nhà được vặn to tỏa ra ánh sáng vàng ệch. Tối nay trời mưa, mây đen bao phủ kín cả bầu trời, máy bay địch không hoạt động nên không phải che chắn ánh sáng phòng không. Thằng Nam đưa mắt nhìn quanh. Nó nhận ngay ra xã đội trưởng Phạm Bản đang ngồi viết. Trên mặt bàn có một chiếc còng số 8 cũ kỹ. Ngồi bên cạnh là một anh công an mặc sắc phục màu vàng. Trong lán còn có một người mang quân phục, đeo quân hàm thiếu úy. Sau này thằng Nam mới biết đó là anh trợ lý bảo vệ an ninh chính trị của cơ quan quân sự huyện. Trung đội trưởng Tình với nét mặt lo lắng, bồn chồn. Công an Vũ Sinh thì với ánh mắt sắc lẹm, nghiêm nghị đang đứng ở phía sau. Vũ Sinh không còn là trưởng công an xóm nữa mà đã đề bạt lên làm phó trưởng công an xã Hòa Sơn từ sau bận đi truy bắt tên phi công Mỹ nhảy dù xuống núi Sáng. Lần ấy, Vũ Sinh đã lập được chiến công vì tính toán đúng được hướng gió, phán đoán được chính xác vị trí tên phi công Mỹ tiếp đất và đang ẩn náu. Nhờ vậy mà bộ phận truy lùng đã tóm được tên giặc ở một nơi mà họ không ngờ nhất. Vì thế mà Vũ Sinh đã được cấp trên hết lời ca ngợi, khen thưởng và đề bạt. Bây giờ thì phó công an xã Vũ Sinh đang có mặt trên trận địa Đồi Ma trong một sự việc nghiêm trọng lần đầu tiên xảy ra ở xã Hòa Sơn. Vũ Sinh đứng phía sau vừa ghi chép vào một cuốn sổ nhỏ vừa quan sát thái độ, nét mặt của từng người để tìm ra thủ phạm.
          Cái Liên thì đang ngồi phía trước cái bàn với vẻ hoảng loạn. Mặt mũi, tóc tai nó bơ phờ, hai mắt sưng húp vì khóc.
          Đây không phải là một buổi họp mà là một buổi làm việc khẩn cấp. Các cơ quan chức năng đang tiến hành lập biên bản về việc cái Liên làm mất khẩu súng CKC mà nó được trang bị để huấn luyện và chiến đấu. Buổi sáng hôm nay khi phần lớn trung đội đi cứu hộ, vác đạn, tăng bo cho đoàn xe quân sự vượt qua đoạn đường lầy lội trên quốc lộ 2C thì khẩu đội 12ly7 trực chiến, cái Liên và cái Na ở lại trận địa gác phòng không. Buổi trưa, cái Liên và cái Na để súng trong góc căn nhà nửa chìm, nửa nổi rồi kéo nhau lên nóc hầm ngồi ăn cơm cho mát và cũng để tiện nghe ngóng tiếng máy bay Mỹ từ xa. Cả ngày hôm nay, chỉ có vài chiếc máy bay Mỹ chỉ lảng vảng tít trên đỉnh núi Tam Đảo rồi bay sang phía Thái Nguyên. Không quân ta cũng không thấy xuất kích. Hai đứa cứ ngồi trên nóc hầm tán chuyện, trêu đùa nhau mãi. Đến cuối buổi chiều trung đội trưởng Tình và mấy chiến sĩ ở bộ phận đi cứu hộ, tăng bo cho xe quân sự về lên nhận bàn giao trực chiến trên Đồi Ma. Cái Liên và cái Na mới nhảy xuống hầm lấy súng để bàn giao nhiệm vụ. Cái Liên hốt hoảng vì không thấy khẩu CKC của mình đâu. Trên cái giá súng ở góc nhà hầm không có khẩu súng nào. Khẩu K44 của cái Na bị ném ra giữa nhà hầm. Khẩu súng CKC của cái Liên chẳng biết là đã bị mất từ lúc nào. Có kẻ nào đó đã liều lĩnh đột nhập vào trong căn nhà hầm trên đỉnh Đồi Ma lấy trộm vũ khí của trung đội dân quân.
          Bị mất khẩu súng cái Liên và cái Na sợ quá. Hai đứa cuống cuồng lao vào từng góc nhà, ngách hầm, bụi cây để tìm kiếm vũ khí. Nhưng khẩu súng thì vẫn biệt tăm. Trung đội trưởng Tình cũng hoảng. Chị lập tức báo động tập trung toàn trung đội dân quân để tìm kiếm và báo cáo ngay tình hình lên cấp trên. Nhận được tin xã đội trưởng Phạm Bản vội vàng báo cáo ngay với ban lãnh đạo xã. Lãnh đạo xã khẩn cấp báo lên huyện. Các cán bộ nghiệp vụ của công an, huyện đội và của xã rất nhanh chóng đã có mặt đầy đủ trên Đồi Ma để lập biên bản và điều tra sự việc, tổ chức công tác tìm kiếm thu hồi vũ khí. Đây là một việc vô cùng nghiêm trọng. Không chừng trong việc này có âm mưu và bàn tay phá hoại của kẻ địch, của bọn phản động. Với chức năng của một cán bộ công an xã, Vũ Sinh lập tức huy động toàn bộ công an viên của các xóm phong tỏa xung quanh Đồi Ma đề phòng bọn gián điệp, biệt kích xâm nhập, theo dõi sát sao những người khả nghi lấy cắp vũ khí của dân quân trên trận địa Đồi Ma.
          Toàn thể trung đội dân quân làng Hạ đã có mặt ở trên đỉnh Đồi Ma. Cán bộ, chiến sĩ trung đội dân quân được phân làm hai đối tượng. Đối tượng "ngoại phạm" gồm trung đội trưởng Tình những người từ sáng sớm đã đi cứu hộ đoàn xe chở đạn của bộ đội. Đối tượng "nghi vấn" gồm tổ canh gác phòng không và khẩu đội 12ly7 là số dân quân có mặt trên trận địa cả ngày hôm nay. Trong đó cái Liên là "nghi phạm số 1" vì theo suy nghĩ của phó công an xã Vũ Sinh có thể là chính cái Liên đã giấu khẩu súng đi để đem tiếp viện cho kẻ thù chống phá cách mạng rồi dựng hiện trường giả là bị mất vũ khí. Bởi vì theo suy luận của Vũ Sinh nếu bọn Việt gian phản động, gián điệp đột nhập lên trận địa thì chúng sẽ lấy luôn cả hai khẩu súng chứ không để lại một khẩu như thế. Cái Na là "nghi phạm số 2" cũng với sự lý giải như thế. Tất cả khẩu đội 12ly7 sẽ là "nghi phạm số 3". Khẩu đội 12ly7 cũng có mặt trên Đồi Ma khi khẩu súng bị mất. Theo quy định để sẵn sàng chiến đấu họ luôn ở bên cạnh khẩu 12ly7, không được vào nhà hầm nhưng vẫn là đối tượng nghi vấn. Toàn bộ số nghi phạm này sẽ được giữ lại để các cán bộ thẩm vấn nhanh ngay tại trận địa để tìm tung tích khẩu súng bị mất. Sau đó, cái Liên sẽ được đưa về trụ sở của xã để quản chế và tiếp tục thẩm vấn để tìm nguyên nhân mất vũ khí. Các đối tượng "ngoại phạm" sẽ do trung đội trưởng Tình trực tiếp chỉ huy ngay trong đêm sẽ tiến hành lục soát tất cả các hầm hố, hang hốc, lùm cây, bụi cỏ trên khu vực Đồi Ma và dưới cánh đồng để truy tìm khẩu súng CKC bị mất.
          Bộ phận đi truy tìm vũ khí được phép dùng đèn đuốc để soi sáng vì đêm nay trời nhiều mây lại có mưa to không sợ bị máy bay Mỹ phát hiện trận địa. Nhưng do trời mưa to, không đốt được đuốc, chỉ có mỗi chiếc đèn pin mượn của xã đội trưởng và chiếc đèn bão phó tiến sĩ Dương Thụy đem đến nên các dân quân đành túm tụm cùng nhau lần mò từng khoảnh đồi, tuyến hào giao thông hay đoạn mương nước phía dưới trận địa.
          Chị Nhân, phó tiến sĩ Dương Thụy và thằng Nam cùng chui vào một bụi cây tìm kiếm. Chị Nhân lo lắng nói với thằng Nam:
          - Lần này khéo mà cái Liên bị kỷ luật nặng mất Nam ạ...
          Phó tiến sĩ Dương Thụy nghe vậy liền cắt lời:
          - Kỷ luật thì đã là cái gì... làm mất vũ khí quân dụng là làm mất sức chiến đấu của đơn vị, mất tài sản của lực lượng vũ trang. Khẩu súng bị mất ấy mà lọt vào tay quân địch hoặc kẻ xấu sẽ càng thêm nguy hiểm, tác hại càng thêm lớn. Tội này sẽ phải ra tòa án binh, đi tù là cái chắc.
          Chị Nhân thảng thốt:
          - Thế cơ ạ!
          - Còn sao nữa. Mất vũ khí là một tội rất nghiêm trọng đấy!
          Chị Nhân càng thêm lo lắng, sợ hãi khi nghe Dương Thụy nói như vậy Còn thằng Nam im lặng không nói gì. Trong đầu nó đang có bao nhiêu ý nghĩ lộn xộn. Thằng Nam dùng cây gậy đập đập một hồi để có rắn rết gì chúng sẽ chạy đi rồi nó mới chui vào một bụi cây xấu hổ quờ quạng, tìm kiếm khẩu súng. Gai của cây xấu hổ cắm phầm phập vào tay nó đau nhói.
          Cuộc tìm kiếm gần như suốt đêm của trung đội dân quân làng Hạ không đem lại kết quả gì. Mọi người ai nấy quần áo ướt sũng, mệt mỏi, phờ phạc. Xã đội trưởng Phạm Bản bảo chị Nhân cho mọi người về nhà tạm nghỉ, thay quần áo sáng sớm ngày mai sẽ tiếp tục mở rộng phạm vi tìm kiếm. Xã đội trưởng Phạm Bản cũng tỏ ra rất lo lắng vì việc dân quân để mất vũ khí thì bản thân anh là người chỉ huy quân sự cũng phải chịu trách nhiệm. Giữa lúc tình hình chiến sự đang hết sức căng thẳng thế này mà để mất vũ khí là điều rất đáng lo ngại. Dân quân xã Hòa Sơn chưa lập được chiến công thành tích gì lớn lao mà đã để xảy ra tổn thất lớn thế này sẽ ảnh hưởng đến thành tích, khí thế thi đua quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của toàn xã. Có lẽ chính vì thế mà chủ tịch xã Trần Khuông cũng đứng ngồi không yên. Đích thân chủ tịch xã suốt đêm có mặt ở Đồi Ma để chỉ đạo việc truy tìm khẩu súng bị mất.
          Thông tin trung đội dân quân làng Hạ bị mất vũ khí lan nhanh ra toàn xã. Dư luận hoang mang bàn tán xôn xao. Kẻ xấu lập tức tung ra nhiều tin thất thiệt. Đáng chú ý là tin đồn nhảm về việc dân quân đào bới xây dựng trận địa trên Đồi Ma đã động đến con ma khách, đến thần giữ của cho bọn Tàu cho nên bắt đầu có sự báo ứng. Thêm một tình tiết nữa là trong quá trình đi tìm kiếm khẩu súng mất một nữ dân quân bất ngờ bị một con mèo hoang từ trong nghĩa địa nhảy lên cắn vào cổ, máu tóe ra chảy ròng ròng phải đưa ngay đến trạm y tế xã cấp cứu và tiêm phòng dại. Chuyện ấy khiến cho những tin đồn về ma quỷ hiện hình càng thêm lan rộng. Những người dân sinh sống quanh khu Đồi Ma tổ chức viết đơn tập thể kiến nghị lãnh đạo xã phải lập tức rút hết lực lượng, phương tiện quân sự ra khỏi khu Đồi Ma, triệt phá trận địa, tổ chức san lấp hết các hầm hào, công sự, để nhân dân tiến hành việc cúng bái, làm lễ “hàn lại long mạch” trên đồi đã bị đứt do việc đào khoét hầm hào của dân quân. Nếu không, trong làng, trong xã sẽ có nhiều người chết, gia súc sẽ dịch bệnh, hoa màu sẽ héo khô, của cải sẽ tiêu tán, làng Hạ sẽ lụn bại…
           Diễn biến tình hình ngày càng phức tạp khiến phó công an xã Vũ Sinh thêm căn cứ để khẳng định suy đoán của mình về việc đang có một tổ chức phản động gián điệp nhen nhúm hoạt động trên địa bàn là chính xác. Vũ Sinh lập tức phác thảo ra một kế hoạch đấu tranh với bọn phản động đang có âm mưu nguy hiểm nhằm chống phá lại chính quyền, phá hoại hậu phương quân đội và sự nghiệp cách mạng. Vũ Sinh dự định sẽ trao đổi cụ thể với phó chủ tịch xã Nguyễn Trung Hiếu kế hoạch của mình mà không báo cáo với chủ tịch Trần Khuông. Vũ Sinh đã nghe phong thanh về việc chủ tịch xã Trần Khuông sẽ nghỉ công tác nay mai tuy vẫn còn tuổi làm việc. Lý do là cấp trên đánh giá Trần Khuông tính tình tuy tốt, cần cù, chịu khó nhưng lại quá thật thà, chậm chạp, kém sự năng động sáng tạo nên không còn phù hợp với tình hình chiến đấu rất khẩn trương hiện nay. Phó chủ tịch xã Nguyễn Trung Hiếu sẽ lên thay. Thông tin này là tương đối chính xác vì khi đi tập huấn nghiệp vụ về công tác an ninh, phòng chống gián điệp biệt kích trên tỉnh Vũ Sinh đã được nghe ông tân phó chủ tịch tỉnh rỉ tai cho biết diễn tiến công tác nhân sự của xã Hòa Sơn sẽ là như thế. Ông tân phó chủ tịch tỉnh ấy chính chú của Nguyễn Trung Hiếu, phó chủ tịch xã Hòa Sơn cũng là nguyên là chủ tịch huyện này.

         (còn nữa)                               Hà Nội, 11-2014 

    

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015

Truyện dài TRĂNG LẠNH (phần 21)

 

 


TRĂNG LẠNH
Truyện dài của Trọng Bảo

     Lão Vận ngồi thu lu trong một lùm cây sát bờ sông. Trời vẫn chưa tối. Vẫn còn một vài chiếc máy bay Mỹ lởn vởn trên đỉnh núi Tam Đảo. Bọn chúng nấn ná đợi thời cơ lao xuống bắn phá Hà Nội thêm một lần cuối, trút hết số bom mang theo trước khi phải quay về căn cứ.
         Lão Vận vừa mới ở nơi sơ tán trở về. Lão không về ngôi nhà của mình ở bến sông. Vì lão sợ trời chưa tối hẳn sẽ bị dân quân và công an đi tuần tra trông thấy nhắc nhở là không chấp hành nghiêm mệnh lệnh sơ tán phòng tránh máy bay Mỹ mà các cán bộ làng xã đã phố biến. Bữa nay, lão về sớm vì trời sắp mưa to. Đầu mùa hạ mà có mưa rào là cá sông sẽ lên bãi vật đẻ. Lão về để chuẩn bị vó lưới bắt cá. Lão còn có ý chờ thằng Nam là dân quân trực chiến ở trên trận địa Đồi Ma xuống để cùng đi bắt cá. Con chó Cún ngồi trong lùm cây với lão một lúc đã thấy khó chịu. Nó cào cào hai chân trước xuống đất miệng gừ gừ có ý xin phép lão để phóng ra ngoài bãi tìm chuột. Lão Vận vỗ vỗ vào đầu nó bảo:
        - Thôi được, mày đi đi nhưng đừng chạy nhông nhông lên bờ đê kẻo ai trông thấy nhé!
        Con chó rên lên ư ử vì vui mừng. Nó phóng vút ra bãi sông đầy những bụi cây dền gai và cỏ dại. Tiếng nó sủa rối rít khi phát hiện ra một cái hang chuột trong bụi rậm.
         Lão Vận gãi gãi cái ông chân khô đét. Ngứa quá. Suốt cả ngày lão hì hục trong khu rừng ở nơi sơ tán đặt bẫy chim, đào củ sâm đất về đun nước uống bị bọn muỗi vằn đốt nên ngứa ngáy, khó chịu. Lão muốn lao xuống dòng sông Đáy trong xanh tắm cho mát nhưng vì trời vẫn chưa tắt nắng nên còn ngại. Lão Vận vòng tay qua đầu nằm xuống đất. Đôi mắt lão lim dim. Lão nghĩ về cuộc đời mình. Lão không buồn về sự cô đơn. Lão chỉ thấy hơi buồn về thời thế. Lão sống một mình trên bến sông, không ruộng đất, không nghề nghiệp, không vợ con. Vợ con lão chết sau trận bom của Pháp năm ấy cùng rất nhiều người nữa ở trên bến sông này. Lão ở đây để hằng năm làm giỗ cho vợ con. Khi bọn Mỹ chưa dùng máy bay mang bom ra miền Bắc, chợ Niễu họp ở ngay trên bến sông này. Trên bến dưới thuyền rất thuận tiện. Lão Vận được chính quyền giao cho làm nghề quét chợ để có chút thu nhập, ổn định cuộc sống.
         Thực ra thì lão Vận đã quét chợ Niễu từ trước khi được chính quyền cho làm việc này một cách chính thức.
          Lão Vận nhớ ngày ấy mỗi lần bước vào chợ đàn nhặng xanh thấy động vù vù tạo nên những âm thanh u u u... Buổi chiều chợ không họp, chỉ có một hàng thịt chó phía ngoài cổng của một tay chuyên giết mổ lũ cẩu. Thỉnh thoảng gã này còn bán cả thịt hươu nai cánh thợ săn bắn được trên dãy núi Tam Đảo đem về. Còn thịt lợn thì duy chỉ có bán ở trong cửa hàng thực phẩm mậu dịch quốc doanh ở ngay cổng chợ. Ai có tem phiếu hoặc giấy viết tay của lãnh đạo mới mua được thịt lợn trong cửa hàng thực phẩm này. "Cả đời mình có lẽ cũng không bao giờ bước vào cái cửa hàng thực phẩm của nhà nước này!" - Mỗi lần vào chợ đi qua cái cửa hàng thực phẩm lão Vận thường có ý nghĩ như vậy. Vào đến khoảng đất trống giữa chợ, Lão Vận ném cái chổi và cái xẻng cùn xuống đất. Việc đầu tiên của lão là cầm cái bao tải rách đi thu hồi “chiến lợi phẩm”. Đó là những thứ mà những người mua bán buổi sáng còn bỏ lại. Lão nhặt nhạnh những hạt bí, hạt mít lão để riêng đem rửa sạch, phơi khô, tích lũy phòng khi giáp hạt hết gạo. Hạt nhãn, hạt vải lão nhặt đem lên đồi hoặc ngoài bãi hoang vùi xuống đất mong sẽ có hạt nảy thành cây, đơm hoa, cho quả.
         Sau khi nhặt nhạnh khắp chợ, lão bắt đầu quét dọn. Lão quét kỹ từng dãy lều quán, đùn rác về phía cuối chợ. Chợ quê nghèo, chỉ là những cái lán che bằng rơm rạ, thấp lè tè. Cách nhật chợ mới họp một phiên. Người ta gánh hàng đến, trải một mảnh ni lông hoặc bày luôn ra đất để bán. Những thứ thải loại, rác, vỏ dưa, vỏ dừa vứt ngay tại chỗ. Lão Vận quét dọn cật lực hơn một ngày chợ mới sạch sẽ. Rồi chợ lại họp, rác rưởi lại ngập ngụa, lão lại dọn dẹp vào buổi chiều và cả hôm sau ngày chợ không họp. Cứ như thế, lặp đi, lặp lại công việc của đời người quét chợ.
         Thực ra, lão Vận mới chỉ làm người quét chợ được độ bảy, tám năm nay. Trước kia, lão là người chuyên chở đò ngang sông Đáy. Dòng sông Đáy mỏng manh như một sợi chỉ nằm dưới chân núi Tam Đảo. Nhưng khi mùa mưa, nước lũ từ thượng nguồn đổ về, dòng sông phình ra, cuồn cuộn. Lúc mùa khô, những tháng cuối năm thì nước lại trong veo, sâu chỉ săm sắp bắp chân nhìn rõ cả cá, tôm và đá sỏi dưới đáy. Ngày ấy, lão Vận cũng chỉ chèo đò theo mùa nước. Mùa khô, nước sông Đáy rất cạn, người ta có thể lội qua. Khi ấy lão lôi con thuyền lên bãi rồi vào rừng chặt củi khô bán kiếm tiền đong gạo hoặc gánh nước thuê cho mấy bà bán bún phở trong chợ. Chợ quê ngày ấy không có người quét “chuyên nghiệp” như bây giờ nên rác rưởi ngập ngụa, bẩn thỉu. Mấy bà bán hàng thường phải thuê lão quét dọn quán của mình. Rồi gần như cả chợ mọi người đều thuê lão quét tước chỗ ngồi bán hàng. Dần dà, lão trở thành người quét chợ thuê. Tiếng là thuê, nhưng không phải ai cũng trả tiền cho lão, mà có trả cũng chẳng đáng kể. Bà bán cá thường trả công lão cái đầu cá mè. Anh hàng thịt chó đưa lão một mẩu xương, hôm nào hứng lên cắt cho một đoạn dồi dài độ gang tay. Thường là người ta cho lão hai, ba hào. Nhưng phần lớn là làm ngơ, mặc dù buổi chợ, họ vẫn nhìn thấy lão gánh nước thuê vào các hàng quán. Lão Vận cũng chẳng đòi hỏi. Trước đây, lão quét thuê từng chỗ bán hàng cho các chủ sạp thì họ dứt khoát phải trả tiền. Đến khi lão quét cả chợ thì lại như làm không công. Gần đây, chắc nhiều người có ý kiến, ông chủ tịch xã cân nhắc, nâng lên đặt xuống mãi mới quyết định “trả lương” cho lão bằng năm ki-lô-gam gạo một tháng. Nghe ra thì có vẻ to nhưng kỳ thực cũng chỉ bằng ba, bốn đồng. Thôi thế cũng tốt, lão Vận có một khoản thu nhập ổn định, đỡ lo hơn khi giáp hạt. Đời lão cũng đã xế chiều rồi, cần gì hơn nữa đâu.
         Thường là hằng ngày quét xong tất cả các dãy quán trong chợ thì trời đã sập tối, lão Vận thu các thứ “chiến lợi phẩm” ra về. Đống rác góc chợ ngày mai lão mới đốt hoặc gánh ra đổ ngoài bờ sông. Hôm nào cũng vậy, tối mịt lão mới lần bước về nhà.
         Về đến gần cổng nhà, lão Vận huýt sáo và gọi:
         - Anh Cún đâu rồi!
         - Hực... - Một con chó to từ trong nhà phóng ra vẫy đuôi mừng rối rít. Nó ngoạm lấy ống quần của lão kêu ư ử. Lão Vận vỗ về:
         - Đói lắm rồi hả! Để yên, tao nấu cơm cho mà ăn. Hôm nay có cái đầu cá trắm của bà Thơm cho đây này!
         Con chó phóng lên hè. Nó chồm hai chân trước đẩy cánh cửa mở ra rồi quay lại cào cào xuống đất ý mời lão vào nhà. Lão Vận châm đèn, tìm nồi nấu cơm. Con Cún cứ luẩn quẩn quanh lão. Thấy lão nhặt rau, nó cũng ngoạm một cọng rau muống cắn ra làm mấy đoạn. Lão vỗ vỗ vào đầu nó an ủi:
         - Yên nào! Mày không làm được đâu!
         Lão quay lại đun củi vào bếp. Con chó nhổm dậy. Nó dùng miệng ngoạm một cành củi đủn vào bếp. Đôi mắt nó sáng long lanh nhìn lão Vận như muốn hỏi làm như vậy có được không. Lão Vận gật gật đầu. Con Cún rên lên ăng ẳng vẻ phấn khởi lắm.
         Nấu cơm chín, lão Vận chia ra làm hai phần. Một loa cơm của lão. Phần còn lại lão đổ vào cái lon sành cho con Cún. Cái đầu cá nấu canh lão chỉ gỡ được một chút thịt còn lại cho con chó cả. Con Cún vừa ăn vừa gừ gừ trong miệng. Nó có vẻ đói lắm. Cả ngày nó chỉ được ăn một bữa. Buổi sáng trước khi ra chợ, lão dặn nó: “Trông nhà nhé!” rồi đi. Buổi trưa, lão ở luôn ngoài chợ. Ai cho gì, lão ăn nấy, khi thì bắp ngô, lúc là khúc sắn luộc. Con Cún ở nhà, nó loanh quanh chui ra, chui vào túp lều. Đói quá thì nó lại lôi mấy khúc xương trâu, xương lợn khô khốc từ trong gầm giường ra gặm suông để đánh lừa cái bụng. Biết thế nhưng lão Vận không thể đưa con chó ra chợ được. Nó to lớn chạy lông nhông ai cũng khiếp, với lại lão sợ nhất là bọn chuyên bắt trộm chó. Bữa tối, bao giờ lão cũng dành phần cơm nhiều hơn cho nó. Vài năm gần đây lão mới được ăn cơm, dù là độn sắn, độn khoai. Trước kia khẩu phần của lão chủ yếu là sắn. Họa hoằn lắm mới có cơm. Nồi cơm chỉ lơ thơ vài hạt gạo bám quanh miếng sắn. Tàn tật, ốm yếu như lão có cái mà ăn là may lắm rồi. Con chó hình như cũng hiểu lão nghèo nên cho gì nó ăn nấy. Nồi cơm, nồi canh lão để ngay dưới đất nhưng dù là có đói đến mấy nhưng không bao giờ nó lén ăn vụng. Nó là con vật trung thành. Lão Vận bảo nó coi nhà mặc dù nhà lão chẳng có thứ gì đáng coi nhưng đố ai dám lại gần túp lều của lão. Những ngày chợ không có phiên, lão Vận mới cho nó đi theo. Trong khi lão dọn dẹp, quét tước thì con Cún lùng sục khắp chợ đuổi chuột hoặc tìm kiếm những khúc xương mà cánh giết mổ quăng ra đâu đó.
         Con chó là do lão nhặt được từ mấy năm trước. Hôm ấy, trời đã sâm sẩm tối, lão vẫn lội xuống sông để rửa một nắm hạt mít và giặt một mảnh vải bạt nhặt được ở chợ. Mưa ở thượng nguồn nên nước sông đang lên. Lúc lão đang chuẩn bị về thì chợt có một cái bao tải buộc túm miệng từ đâu trôi đến rạt vào chân lão. Lão giật bắn người vì trong đó có cái gì ngọ nguậy. Lão loạng choạng bước vội lên bờ, thở dốc. Ngày giặc Pháp còn chiếm đóng bên kia sông là vùng tề, bọn giặc bắt được cán bộ du kích thường đưa lên phía đập nước gần cây câu sắt tra tấn dã man. Có khi người bị đánh còn ngắc ngoải chúng cũng nhét vào bao tải thả trôi sông. Những xác người lập lờ dạt vào bến nước. Nhưng bây giờ là thời khác rồi. Lão Vận trấn tĩnh lại. Lão nhặt cành cây khều cái bọc vào lôi lên mở dây buộc dốc ngược. Lẫn trong đám giẻ rách tuột ra một con chó nhỏ. Nó ướt sũng nhưng vẫn còn ngọ nguậy. Lão đem nó về nhà đặt cạnh bếp lửa. Một lúc sau nó bắt đầu rên ư ử rồi ngóc cổ dậy. Nó nhìn lão, mắt chớp chớp vẻ biết ơn. Nhìn thân hình con chó còm nhom, sần sùi ghẻ lở, lão hiểu vì sao họ đã nhét nó vào bao vứt xuống sông. Lão Vận vét cơm nguội cho nó ăn. Hôm sau, lão xin ít diêm sinh về bôi trị ghẻ cho nó. Con chó ở với lão Vận từ đó. Mặc dù cũng bữa đói, bữa no, miếng được, miếng mất như lão nhưng con chó vẫn hồi sức và lớn nhanh. Sau một thời gian con chó đã to lớn lộc ngộc. Nó khôn lắm. Có lần bọn trộm chó đem bả ném đợi nó ăn ngã xuống là tuồn vào bao tải đem đi. Nhưng nó chỉ ngửi mà không ăn. Ai cho cái gì nếu không được sự đồng ý của chủ thì nó không bao giờ tự ý ăn cả. Thấy con chó khôn, có người muốn mua, nhưng lão không chịu. Con Cún là bạn thân thiết của lão Vận. Khi máy bay Mỹ ném bom ra miền Bắc, chợ Niễu sơ tán mãi trong rừng cọ sau làng Hạ. Người ta ngồi ngay dưới gốc cây để mua bán, rác vứt luôn ra rừng nên không cần người quét chợ nữa. Lão Vận ở lại bến sông kiếm cá bán đong gạo. Khi ngày dân quân xây dựng trận địa trên Đồi Ma lão Vận hay mang cá bắt được ở sông Đáy lên biếu họ. Từ đó, sau các buổi trực chiến thằng Nam hay xuống bến sông theo lão đi bắt cá. Thằng Nam rất nhanh nhẹn lại sát cá. Có thằng Nam giúp sức cất vó, cắm đăng chắn cá khiến lão Vận thấy rất vui. Lão coi nó như con. Nhiều bữa bắt được nhiều cá lão bảo nó mang một ít về nhà cho mẹ và em. Ở vùng quê nghèo này quanh năm cơm độn sắn, rau muống luộc chấm nước muối để có con cá kho tương mà ăn là chuyện không phải đơn giản...
        Lão Vận mải suy nghĩ không biết trời đã tối từ lúc nào. Có tiếng con cún sủa và rên ư ử vì vui mừng. Hóa ra con chó đã phát hiện ra thằng Nam đang đeo khẩu K44 đi đến. Nó ngoạm vào ống quần thằng Nam kéo ra chỗ lão Vận đang ở lùm cây cạnh nhà. Nghe tiếng chân thằng Nam lão Vận liền ngồi dậy hỏi:
         - Tối nay không phải trực chiến à?
         - Không ông ạ.
         Thằng Nam vừa đáp vừa đưa cho lão Vận một cái gói vuông vuông. Lão Vận ngạc nhiên hỏi:
         - Cái gì thế này?
         - Lương khô đấy ông ạ! Ông ăn đi cho đỡ đói.
         - Mày lấy đâu ra thế?
         Hôm nay chúng cháu đi cứu giúp một chiếc xe của bộ đội chở đạn dược bị sa lầy. Phải chuyển hết đạn xuống cho nhẹ mới kéo được xe lên. Đến quá trưa mới xong công việc. Xong xuôi các anh ấy mời ăn lương khô. Cháu xin một phong về biếu ông ăn thử.
          Lão Vận cầm phong lương khô 701 mở lớp giấy gói ra xem rồi cắn thử một mẩu nhỏ. Lão ăn chậm rãi. Nó giống như một miếng bánh khảo nhưng hương vị thì lại khác hẳn. Vừa ăn, lão Vận vừa bảo thằng Nam:
         - Trời sắp mưa. Tối nay mà mưa to nước sông sẽ dâng cao ngập hết bãi bồi, cá sẽ lên vật đẻ, chuẩn bị sẵn đèn đóm và nơm vó, nhất định tối hôm nay ta sẽ bắt được nhiều cá đấy.
         - Vâng ạ!
         Thằng Nam đáp. Trời đã mờ tối. Lão Vận và thằng Nam cùng đi về phía căn nhà nhỏ trên bến sông. Gần đến nhà lão Vận, con cún bỗng gầm gừ vì phát hiện ra người lạ. Thằng Nam nhìn thấy có một bóng người đeo súng đang đứng ở cửa. Nó giật mình hỏi:
         - Ai đấy?
         Người đó quay phắt lại. Thằng Nam nhận ra đó là cái Na, chiến sĩ cùng trung đội dân quân làng Hạ. Nhận ra thằng Nam cái Na gọi vẻ hốt hoảng:
         - Nam ơi! Về... về... đơn vị ngay, có chuyện không hay rồi... nhanh... nhanh lên...
        - Có chuyện gì thế?
        - Cứ về ngay khắc biết... trung đội trưởng bảo mình gọi Nam về ngay...
         Giọng cái Na vẫn líu đi vì sợ hãi. Rồi đột nhiên nó bật khóc. Thằng Nam cũng phát hoảng dù chưa hiểu là việc gì đã xảy ra. Nó vội vã chạy theo cái Na ngược trở lên trận địa Đồi Ma. Hai đứa quên cả chào lão Vận đang đứng ngơ ngác ở cửa nhà.

          (còn nữa)                                     Hà Nội, 11-2014