Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

Truyện dài TRĂNG LẠNH (phần 1)

                     


            TRĂNG LẠNH
              Truyện dài của Trọng Bảo

           Đã cuối mùa thu.
           Trăng cuối tháng vẹt lõm như một chiếc liềm cùn cũ kỹ.
           Cánh đồng làng Hạ đẫm ướt sương đêm. Sắp sáng rồi. Tiếng gã gáy đổ dồn trong xóm nhỏ. Phía đông chân trời đã hừng lên màu sáng nhạt. Một trận gió lạnh ùa về trên cánh đồng làng. Sương mù ẩm ướt bay tạt qua mặt người. Chị Nhân quấn lại chiếc khăn voan mỏng quanh cổ. Đoạn chị cúi xuống sắn cao ống quần. Có tiếng chân người bước nhẹ phía sau. Không ngoảnh lại nhưng chị biết chắc đó là thằng Thứ. Sáng nay theo sự phân công của bí thư chi đoàn nó và chị sẽ cùng đi chăm sóc mấy ruộng thả bèo hoa dâu. Chiều hôm trước những ruộng bèo hoa dâu được bón bằng một lớp tro bếp. Sáng hôm sau phải dùng sào nứa dập cho tro bếp trên cánh bèo rơi xuống nước thì bèo mới sống được. Chị Nhân đang định quặc thằng Thứ về việc ra ruộng muộn thì nó đã đến sát ngay sau lưng. Khi chị Nhân chưa kịp đứng thẳng người lên thì thằng Thứ đã áp sát ngay bên. Hơi thở nó gấp gáp, hổn hển. Chị Nhân vừa định hỏi thì thằng Thứ đã vòng tay qua lưng ôm lấy hai bầu vú của chị bóp chặt. Chị Nhân giật mình hoảng hốt đứng thẳng người dậy. Thằng Thứ vẫn ôm chặt lấy ngực chị. Chị Nhân lúng túng vừa gỡ bàn tay chắc khỏe của thằng Thứ vừa hét lên:
           - Đồ khốn nạn! Mày làm cái trò gì thế?
           - Chị ơi… em… em…
           - Mày… mày…
           Chị Nhân thấy tức nghẹn ở cổ. Chị không dám quát mắng thằng Thứ ầm ĩ nữa vì phía trên con đường ra cánh đồng đã thấp thoáng có bóng mấy người đang vác cày bừa đi làm sớm. Chuyện tày đình thế này mà ai nhìn thấy, nghe thấy thì chết. Chị bức bối vớ cái sào nứa rồi lội ào ào xuống ruộng bèo hoa dâu. Thằng Thứ cũng vội vàng nhặt cây sào bước xuống ruộng để dập bèo. Vừa làm nó vừa ấp úng nói:
           - Em.. em xin lỗi chị… Sáng nay em phải lên đường nhập ngũ rồi… Chị… chị đừng báo cáo với chi đoàn chuyện lúc nãy nhé. Em cầu xin chị đấy!
            Chị Nhân vẫn chưa hết cơn bàng hoàng thảng thốt vì hành động táo tợn, bất ngờ của thằng Thứ. Chị càng thêm bất ngờ vì tin thằng Thứ đi bộ đội gấp thế. Hóa ra nó được gọi bổ sung nhập ngũ vì đợt giao quân hôm qua trong xã có một thằng trốn đi lính và hai thằng khi lên đến huyện đội tập trung khám lại sức khỏe thì bị loại. Miền nam đang chuẩn bị cho đợt tổng tiến công vào đầu mùa Xuân năm tới cho nên cần nhiều binh lực. Vì thế, các địa phương miền Bắc ra sức thi đua “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Xã nào thiếu người khi giao quân hoặc có người bị loại thì lập tức gọi người khác thay thế ngay. Những thanh niên gọi nhập ngũ bổ sung thường là gấp gáp như thế, gia đình nhiều khi chẳng kịp liên hoan, chi đoàn chẳng kịp trao tặng phẩm cho họ trước lúc lên đường. Thằng Thứ ở cùng làng lại sinh hoạt cùng chi đoàn thanh niên với chị Nhân. Nó kém chị gần hai tuổi và học sau một lớp. Tối hôm qua, nó mới được ông xã đội trưởng đem lệnh gọi hỏa tốc đến thông báo hôm nay lên đường nhập ngũ. Vậy mà nó vẫn đi làm bèo hoa dâu với chị Nhân sáng sớm hôm nay.
            Hai người dập hết mấy sào bèo hoa dâu thì trời sáng hẳn. Chị Nhân và thằng Thứ rửa chân rồi bước lên bờ ruộng. Thằng Thứ len lén nhìn chị Nhân rồi ấp úng nói:
           - Em về để chuẩn bị lên huyện tập trung…
           - Ừ… - Chị Nhân gượng gạo trả lời. Thằng Thứ lại nói:
           - Chị tha lỗi… bỏ qua cho em nhé!
           - Ừ…
            Chị Nhân cũng lúng túng. Mặt chị nóng phừng phừng khi nhớ lại chuyện lúc nãy. Thằng Thứ vẫn chưa yên lòng. Nó ngắc ngứ mãi rồi mới nói tiếp:
            - Chị ơi! Em ra đi lần này là có đi mà không có về nữa đâu chị ạ!
            Chị Nhân giật mình:
            - Tại sao lại như thế?
            - Vì… vì… dì em đi xem bói họ nói số em rồi sẽ… sẽ… “sinh bắc-tử nam”…
            - Chỉ mê tín vớ vẩn…
            - Đúng như thế chị ạ! - Thằng Thứ nói. Mặt nó buồn rười rượi. Ánh mắt nó nhìn xa xăm về phía chân trời. Mãi sau nó lại nói tiếp, giọng vẻ bùi ngùi: - Bọn bạn cùng xóm còn nói đời em sẽ không… không… biết… biết đàn bà là thế nào… nên lúc nãy em mới liều lĩnh như thế… em biết lỗi rồi, chị tha cho em nhé!
             Nói xong thằng Thứ bật khóc. Nói giơ bàn tay còn lấm bùn lên chùi mắt. Chị Nhân cũng phát hoảng. Tự dưng chị chỉ còn thấy ái ngại mà không còn giận thằng Thứ nữa. Nhưng chị cũng không biết nói thế nào để an ủi thằng Thứ. Tâm trí chị vẫn chưa thể quên được chuyện vừa xảy ra lúc nãy. Đây là chuyện lần đầu xảy ra đối với chị. Giữa lúc ấy thì phía trên con đường trồng bạch đàn có tiếng người quát rất to:
            - Những đứa nào kia! Giữa cánh đồng trống hơ trống hoác mà ăn mặc quần áo trắng toát lại không đeo vòng lá ngụy trang như thế hả. Máy bay Mỹ nó trông thấy quẳng xuống cho vài quả bom thì chết hết cả nút bây giờ…
            Đó là tiếng ông đội trưởng sản xuất làng Hạ. Thằng Thứ vội bảo chị Nhân:
            - Thôi em về trước để kịp lên trên huyện tập trung đây! Chị ở lại mạnh khỏe nhé…
            Nói xong nó liền ném cái sào nứa  dùng dập bèo hoa dâu xuống bờ ruộng rồi co giò chạy về phía làng. Chị Nhân vội gọi với theo:
            - Thứ ơi! Nếu có vào trong Nam chiến đấu mà gặp anh Luận nhớ nói là chị vẫn…
            - Vâng! Em nhớ rồi ạ.
            Tiếng thằng Thứ từ trên đường vọng xuống cánh đồng. Nghe giọng nó vang lảnh lói nhưng có vẻ phấn chấn hơn. Mặt nước ruộng rung rinh. Chị Nhân bước dọc bờ con mương nước nhỏ. Chị chợt rùng mình vì những cơn gió lạnh đầu mùa. Chị nhìn xuống ngực và giật mình khi thấy dấu bàn tay của thằng Thứ còn hằn trên màu áo trắng. Chị vội lội xuống mương vốc bùi quệt lên áo. Chị đi làm đồng quần áo vấy bẩn bùn là bình thường còn để thế này mà về làng ai nhìn thấy thì dễ sinh lắm chuyện. Chị Nhân là một người con gái đẹp vào loại nhất nhì của làng Hạ. Gần hai mươi tuổi rồi chị chưa một lần đụng chạm với đàn ông. Khi anh Luận người yêu của chị lên đường nhập ngũ hai người cũng chỉ dám cầm tay nhau thôi. Vậy mà lúc nãy thằng Thứ dám bóp ngực chị thật chặt, thật mạnh. Nó liều lĩnh quá, bậy quá. Nghĩ vậy nhưng chị không còn thấy ghét nó nữa. Chị thấy thương nó. Biết đâu lời nó nói đúng. Nó sẽ không trở về và chị cũng không còn gặp lại nó nữa. Chị chợt nhớ tới anh Luận. Năm ngoái cũng vào một đêm về sáng cuối mùa thu như năm nay chị và anh Luận cùng ra đồng chăm sóc ruộng bèo hoa dâu của chi đoàn. Chị cố tình đi sát bên anh, chạm vào vai anh. Khi cúi xuống dùng sào dập lên mặt ruộng bèo hoa dâu chị nhiều lần quay sang phía anh cố ý để ngực áo trễ xuống, thấp thoáng phô khuôn ngực trắng hồng tròn trịa nở nang. Vậy mà anh không dám một lần liều lĩnh, mạnh mẽ như thằng Thứ hôm nay. Đêm trước khi anh Luận lên đường nhập ngũ, hai người đã ngồi bên nhau trên đồi sim sau nhà. Trăng cuối tháng trắng xanh và lạnh. Chị ngả đầu vào vai anh, nghe được cả tiếng hơi thở của anh dồn dập. Vậy mà anh cũng chỉ dám cầm tay chị. Hôm sau anh lên đường rồi, chị mong chờ một điều gì đó xa xôi. Chiến tranh chẳng biết thế nào, người ra đi thì nhiều, người trở về thì ít. Mà người về thì cụt què, tàn tạ. Có anh thương binh trở về làng đám con gái vây quanh nhưng cú thờ ơ không màng đến. Hình như chiến tranh đã cướp mất chức năng đàn ông của anh ấy rồi. Nhiều người làng rỉ tai nhau nói thế. Năm tháng chiến tranh, làng vắng bóng đàn ông. Đám con gái, đàn bà phây phây, tràn đầy sinh lực suốt ngày đi cày, đi cấy, gánh phân, đổ ải, tối đến túm tụm ngồi ở sân kho hợp tác xã hò hát, ngắm trăng suông, khuya mới về ngủ, sáng mai lại ra đồng. Làm lụng vất vả, ăn uống kham khổ nhưng họ vẫn cứ nảy nở, tròn đầy. Trong những câu chuyện của họ giữa đêm trăng lạnh có bao nỗi ước ao, bao điều thèm muốn, mong chờ những điều bí ẩn.
            Chị Nhân về đến nhà thì nghe tiếng kêu trời, gọi đất thất thanh, tiếng khóc ời ời ở phía cuối xóm. Chị chạy vào buồng thay vội cái áo trắng có dấu bàn tay của thằng Thứ. Chị tìm miếng xà phòng 702 xát qua quýt đoạn cho vào cái chậu thau ngâm rồi chạy ra cổng. Tiếng người làng nháo nhác bảo nhau: “Xã vừa xuống báo tử anh Nghĩa đấy!”. Đúng là tiếng kêu khóc là từ phía nhà anh Nghĩa ở cuối làng. Chị Nhân thấy hơi run run. Anh Nghĩa cùng đi bộ đội với anh Luận, người yêu của chị. Mới tròn một năm đi xa vậy mà anh ấy đã thành liệt sĩ rồi.
            Chị Nhân bước thập thõm trên con đường làng đầy vết chân trâu. Chị đi về phía cuối làng Hạ. Người làng cũng đang kéo nhau đi về phía ấy. Mọi người đến để an ủi, xẻ chia nỗi đau với người thân anh Nghĩa. Đó là một việc vẫn thường diễn ra trong làng những năm tháng chiến tranh.
             Gió lạnh tiếp tục tràn về xóa nốt những ngày ấm áp cuối mùa thu…
                                                            
            (còn nữa)                                              Hà Nội, 11-2014
          

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2015

BỐN MƯƠI NĂM NHẬP NGŨ - thơ

BỐN MƯƠI NĂM NHẬP NGŨ
             Kỷ niệm 40 năm ngày nhập ngũ 25-2-1975

Bốn mươi năm từ mùa xuân ấy
Lũ chúng tôi khoác áo chiến binh
Cùng giã từ cái tuổi học sinh
Đi theo chặng quân hành dằng dặc.

Đêm Đại Từ ngồi ôm súng gác
Nghe rì rào tiếng suối rừng xa
Những thao trường Tân Thái, Lục Ba
Giọt mồ hôi đẫm trên báng súng.

Quên sao được những ngày lao động
Giữa núi rừng Tây Bắc thẳm xa,
Vắt Tà De cắn nát thịt da
Ve Khe Hiền hút bao máu lính.

Khi xuôi bè trên dòng suối lạnh
Vượt thác ghềnh nguy hiểm, gian lao,
Gái nông trường ánh mắt xôn xao
Nước suối Ngòi Lao trong xanh quá!        

Hà Giang chai sạn tay phá đá
Mở con đường xuyên giữa đại ngàn
Đói run người năm tháng gian nan
Măng đắng ơi sao mà đắng thế?

Chiến tranh lại rập rình hai phía
Chúng tôi lên trấn giữ Cao Bằng
Một mùa xuân lạnh lẽo mù giăng
Bao bè bạn không về được nữa.

Nhớ Sóc Giang bốn bề đạn lửa
Chập trùng là máu đổ, xương rơi
Những người bạn thân thiết của tôi
Đã gục chết ở nơi biên ải…

Ngày giặc rút chúng tôi trở lại
Nhặt tìm từng chút thịt xương tàn,
Ngày nào cùng nhập ngũ hân hoan
Giờ tôi-bạn xa rồi, cách biệt.

Bốn mươi năm bạn không đi hết
Con đường quân ngũ của chúng mình!

                    Hà Nội, 24/2/2015
TRỌNG BẢO

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2015
      
Năm cũ đi qua bao nhiêu trăn trở
Biển Đông giặc lăm le nhòm ngó
Đợi ta sơ hở để ra tay.
Đất liền chuyện cơm áo hàng ngày
Những số phận éo le, đói khổ
Khi quan tham nhà cao, biệt thự
Vẫn ngang nhiên chiếm đất, lấn rừng.
Ở biên thùy người lính kiên trung
Vẫn chắc súng ngày đêm cảnh giác...
Năm mới đến mong đất trời sẽ khác
Hoa đẹp hơn, non nước đẹp hơn
Bởt đi nhiều những bất hạnh, cô đơn
Những chuyện đời đau thương, ngang trái
Để người lính vững vàng nơi biên ải
Cho biển Đông sóng gió hiền hòa
Và mùa Xuân sẽ lại đến cùng ta
Mang lời chúc an khang ấm áp...
                         Hà Nội, 1/1/2015
                                 TB

Thứ Tư, 24 tháng 12, 2014

Kịch bản phim hoạt hình VE SẦU ĐI HỌC

 LTG: Năm ngoái, một đơn vị chuyên sản xuất phim hoạt hình Việt Nam có đặt hàng tôi viết một kịch bản phim hoạt hình dành cho thiếu nhi. Kịch bản phim này tôi đã gửi cho họ. Nhưng đến nay, sau hơn một năm vẫn chưa được dựng thành phim, có lẽ là họ đã xếp xó vào kho lưu trữ rồi. Vì thế, tôi đưa lên blog để cho đỡ phí công đã cặm cụi viết lách bao ngày (Trọng Bảo).
  
Ve sầu đi học
 Kịch bản phim hoạt hình của Trọng Bảo
             
1
            Một khu vườn sum xuê cây lá.
          Những cái cây cổ thụ vươn cành lên trời cao. Dưới gốc cây là hoa cỏ xanh tươi. Một dòng suối nhỏ róc rách chảy ngang qua khu vườn càng làm cho phong cảnh thêm tươi đẹp. Trên những cái cây sum xuê cành lá ấy là nơi ở của muôn loài. Cuộc sống của muôn loài luôn luôn sôi động.
          Chiếm vị trí cao nhất trên cành một cái cây to là lũ chim rừng. Những cái tổ chim lù sù ngất ngưởng tít trên đầu cành lúc nào cũng có những chú chim non tham ăn, đói khát. Lũ chim non luôn luôn há cái miệng rộng ngoác to kêu la inh ỏi đòi ăn suốt ngày.
          Ở giữa những cành cây ấy là các gia đình ve sầu.
          Những ngôi nhà nho nhỏ xinh xắn nằm ẩn vào các hốc lõm của thân cây. Trong khi bố mẹ đang hối hả làm việc thì lũ ve sầu con chỉ mải mê nô đùa, quậy phá.
          Tại một gia đình nhà ve. Có một chú ve sầu con đang tuổi lớn, ham chơi, rất nghịch. Chú ve con này có đôi mắt to sáng, rất hiếu động. Chẳng mấy khi thấy chú ở yên trong nhà. Suốt ngày chú cứ đi ra, đi vào, đập cánh, khua chân múa tay.
          Rồi chú ve con này la cà, lêu lổng đi lang thang khắp khu vườn.
          Hết dùng gậy chọc thằng bé con nhà chị ong khóc thét, chú ve sầu con lại dùng súng cao su bắn trúng đầu cô bé con nhà anh chị bướm trắng đang tập múa ở cửa nhà mình. Cô bé bướm trắng ngã lăn ra đất bẩn hết cả cái váy mới tinh. Cô bé bướm trắng khóc nức nở.

 2
          Ở tận dưới gốc cái cây cổ thụ là những ngôi nhà của lũ dế mèn.
          Ngôi nhà của anh dế mèn khá kiên cố và ấm áp. Trong nhà chất đầy những bó cỏ xanh non. Khoảnh sân nhà nhỏ có những khóm hoa. Một hàng rào bằng cây xanh bao quanh ngôi nhà của dế mèn.
           Phía trước ngôi nhà của dế mèn là một bãi cỏ rộng. Trên bãi cỏ có những bông hoa nhỏ li ti, nhiều màu sắc. Những ông bố mẹ dế đang hì hục lao động trên bãi cỏ. Họ trồng và cắt, đem những lá cỏ xanh non về tổ làm thức ăn dự trữ.
          Có một thằng dế con cũng rất nghịch ngợm. Chú dế con này có hai thanh gươm bằng gỗ được đẽo gọt nham nhở. Chú dế con rất thích múa gươm, tập võ trước cửa nhà. Chú ta lộn người đâm chém loạn xạ làm những cái lá cây rơi xuống đất lả tả. Vừa vung tay múa hai thanh gươm gỗ, chú vừa hò hét vẻ rất hứng khởi: “Chém này… chém… này… chém…”.
          Khi chú dế mèn con đang co chân tung trưởng rất hoành tráng thì một làn gió mạnh thổi qua. Lá cây khô bị cuốn tung lên mù mịt. Chú dế mèn con bị mất đà loạng choạng ngã lăn quay ra đất. Hai thanh gươm bằng gỗ văng ra xa lăn long lóc. Chú dế mèn con lồm cồm ngồi dậy. Giữa lúc chú ta đang xuýt xoa nhăn nhó vì đau thì nghe có tiếng cười “he… he…he…” ngay ở phía ngoài hàng rào.
          Thằng dế mèn con liền nhỏm dậy quát to:
          - Ai dám cười tôi thế hả?
          - Tôi đây! Tôi là ve sầu đây…
           Chú ve sầu con nhô hẳn người lên khỏi hàng rào và vẫn cười nhăn nhở. Nhìn thấy bạn dế con liền dịu giọng:
           - Ve con hả! Vào nhà đi!
           - Không vào đâu! Chúng mình đi chơi đi!
           - Có trò gì vui không?
           - Có… có… vườn ổi nhà thầy Cóc chín thơm lắm. Tụi mình đến kiếm một quả đi!
           - Vậy thì đi ngay thôi!
            Chú dế mèn con liền vơ vội hai thanh gươm gỗ rồi theo ve sầu con đi ngay.


3
           Tại nhà của ve sầu buổi tối.
          Bố mẹ ve sầu đang tiếp chị ong và anh bướm. Họ đến để phàn nàn vì chuyện ve con trêu chọc các con nhỏ của họ. Ve con cúi mặt ngượng đứng sau lưng mẹ.
          Khi những người khách không mời mà đến đã ra về, bố ve sầu mới lên tiếng bảo ve con:
          - Con phải bớt nghịch ngợm đi. Mà ngày mai con phải đi học thôi!
          - Học để làm gì ạ?
          Ve con ngơ ngác hỏi lại. Bố giải thích:
          - Học để biết chữ con ạ!
          Mẹ ve sầu thì âu yếm:
          - Mẹ đã mua cho con cuốn vở, cây bút và cả một cái cặp sách thật đẹp rồi đây này!
          Ve sầu con lo lắng hỏi thêm:
          - Nhưng biết chữ rồi để làm gì ạ?
           Bố ve sầu xoa đầu con bảo:
           - Học để làm người! Có chữ thì mới nên người con ạ!
           Ve con vẫn băn khoăn:
           - Nhưng… đi học con có được đi chơi nữa không ạ?
           - Có chứ! Ở trường cũng có nhiều trò chơi vui lắm đấy!
           Bố ve nói thêm. Ve con có vẻ yên tâm.
          Thế là ve sầu con chuẩn bị ngày mai đi học. Trong đầu nó hình dung ở trường chỉ toàn là những trò chơi thú vị.

 4
           Buổi sáng hôm sau.
          Ông mặt trời đỏ rực nhô lên. Ánh nắng long lanh rơi xuống cành cây. Chú ve con vẫn ngủ ngon giấc trên giường. Mẹ ve phải gọi mãi ve con mới tỉnh giấc. Nó uể oải ngồi dậy dịu mắt. Mẹ ve sầu giục nó chuẩn bị đi học. Nó mới chợt nhớ ra rồi kêu toáng lên:
          - Đúng rồi! Hôm nay mình phải đi học thôi!
           Ve sầu quáng quàng ăn sáng rồi vội vàng đeo cặp sách để đến lớp. Nó tụt nhanh xuống đất đi theo con đường nhỏ giữa khu vườn.
           Đang cắm cúi bước đi, ve con chợt nghe tiếng gọi giật:
          - Này! Đi đâu mà vội vã thế?
          Nghe tiếng gọi, ve sầu con nhớn nhác nhìn quanh. Thì ra đó là dế mèn con thằng bạn thân của nó. Thằng dế mèn con đang hùng hổ khua hai thanh gươm gỗ chém lia lịa trong đám cỏ non bên đường vẻ rất thích thú. Trông nó giống như một võ sĩ thực sự. Ve sầu con làm loa tay gào to:
          - Tớ đang đi học đây!
          Dế con ngơ ngác:
          - Học để làm cái gì thế! Mà tại sao lại phải học chứ?
          - Thì… học là để biết chữ, là để làm người. Bố mẹ tớ bảo thế. Mà cậu cũng phải đi học đi thôi…
          Dế con nhìn ve sầu đeo cặp sách băn khoăn:
          - Nhưng mà bây giờ tớ không có sách vở. Cậu đợi chờ để tớ chạy về nhà lấy nhé!
          - Ừ… cậu nhanh nhanh lên nhé không thầy dạy cho bọn ong, kiến, chuồn chuồn hết mất chữ đấy! 
           Dế mèn con vứt hai thanh kiếm gỗ rồi chạy vội về nhà. Hai chân dế mèn con cuống quýt. Bóng nó khuất dần trên lối nhỏ giữa khu vườn.

 5
          Ve sầu con đứng chờ dế con.
          Mặt trời đã nhô lên cao. Ánh nắng xuyên qua tán lá cây trong vườn nhảy nhót lung linh trên mặt đất. Dòng suối giữa vườn chảy trong veo.
          Chờ mãi chả thấy dế con ra, ve con lẩm bẩm: “Lại mải đi chơi ở đâu rồi!”. Nói đoạn, ve con đành một mình đi đến lớp trước. Nó bước đi hấp tấp. Cái cặp sách lạch xạch bên hông.
          Lớp học chữ nằm dưới tán một cái cây to.
          Trong lớp, các bạn kiến, chuồn chuồn, bướm, ong mật, bọ dừa… đang chăm chú nghe thầy giáo Cóc giảng bài, dạy viết chữ. Trong những cuốn vở của họ đã ghi được nhiều con chữ. Những con chữ thật đẹp và lạ mắt. Ve sâu ngơ ngác nhìn các bạn ngồi xung quanh. Nó lấy vở và bút ra. Bắt chước các bạn nó cũng định viết nhưng không biết viết cái gì trên trang vở mới trắng tinh.
          Thầy giáo Cóc đã dạy đến chữ “e”. Ve sầu con vội vàng ghi luôn chữ “e” vào vở. Một chữ “e” to tướng, nghuệch ngoạc. Nó tô thật đậm thêm chữ “e” rồi gập vở lại. Nó hí hửng chạy luôn ra khỏi lớp.
          Vừa chạy ve sầu con vừa reo to:
          - A… a… mình… đã… biết… chữ… biết… chữ… rồi… mình… đã… thành… người rồi…
          Trong lúc đó dế con mới cầm cây bút chì và một cuốn vở nhàu nát hổn hển chạy đến. Nhìn thấy ve con đang chạy ngược ra, dế con vừa thở vừa hỏi dồn:
          - Cậu đã học được chữ chưa?
          - Được… được rồi! Chữ hay lắm!
          - Thế hả! Cậu đưa cho tớ xem với?
          Ve con lắc đầu:
          - Không cho cậu xem đâu! Đây là cái chữ của tớ học được chứ, cho cậu xem để cậu lấy mất cái chữ của tớ à!
          Dế con ngẩn người vẻ lo lắng. Ve sầu an ủi:
          - Cậu vào lớp ngay đi, thầy giáo Cóc vẫn còn đang còn dạy chữ đấy, thầy vẫn còn nhiều chữ lắm!
          Dế con dặn bạn:
          - Thế thì cậu đứng ở đây chờ mình với nhé! Học được chữ là mình sẽ lập tức quay ra ngay. Chúng mình sẽ lại cùng nhau đi chơi thoả thích nhé!
          Ve sầu gật đầu. Dế con len lén bước vào lớp học. Nó ngồi ghé xuống cái ghế cuối lớp rồi ẩy thằng kiến con lùi vào tận góc lớp.
          Lúc này thầy giáo Cóc đã dạy đến chữ “i”. Cây thước trên tay thầy giáo Cóc chỉ vào chữ “i” viết trên bảng và đọc để cả lớp đọc theo. Bọn học trò vừa tập đọc theo thầy vừa nắn nót viết chữ “i” vào vở của mình. Dế con cũng vội vàng ghi ngay lấy chữ “i” vào cuốn vở nhàu nát đem theo.
           Ghi được chữ “i” giống như cái chữ của thầy Cóc viết trên bảng dế con tỏ vẻ thích lắm. Nó lao luôn ra khỏi lớp phấn khởi gào to:
          - Biết…biết… chữ… mình đã… biết…. chữ rồi…!
  
6
          Dế con gặp lại ve con ở bãi cỏ cạnh dòng suối.
          Cả hai vô cùng phấn khích vì đã biết chữ. Hoá ra việc học chữ cũng chả khó khăn gì đối với chúng. Ve sầu con và dế con mở hai cuốn vở ra so đọ với nhau. Hai đứa cãi nhau ỏm tỏi. Ve sầu con bảo:
          - Chữ “e” của tớ rất đẹp và là chữ quan trọng nhất!
          Dế con cãi lại:
          - Không đúng! Chữ “i” của tớ mới đẹp và quan trọng nhất!
           Ve sầu con gân cổ lên:
           - Chữ e quan trọng nhất!
           Dế con gào lên:
           - Là chữ i!
           - Chữ e… e… e… e… e… e… e…
           - Chữ i… i… i… i… i… i… i…
           Ve sầu con và dế con chẳng ai chịu ai. Hai đứa đỏ mặt tía tai, cãi nhau ầm ĩ cả khu vườn. Hai đứa cãi nhau to quá khiến lũ chim non tít trên cành cao cũng phải giật mình ngó xuống xem có chuyện gì xảy ra. Cãi nhau một lúc mệt quá, hai đứa ngồi phệt xuống bãi cỏ cùng thở dốc. Mãi một lúc sau ve sầu mới bảo :
           - Hai chữ mà chúng mình đã học được đều là quan trọng cả! Nhưng việc quan trọng nhất là hai đứa chúng mình đều đã biết chữ rồi, đều là người có học rồi. Bây giờ lại đi chơi thôi!
           - Đúng… đúng…
           Dế con đồng tình. Song nó chợt ngần ngừ. Nó chìa quyển vở đang cầm trên tay hỏi lại:
           - Thế chúng mình làm gì với cuốn vở này?
           Ve sầu con bảo:
           - Chúng mình đã biết chữ rồi, là người có học rồi thì cần gì đến sách vở nữa chứ! Vứt luôn đi thôi…
           Ve sầu con và dế con liền xé luôn sách vở, ném bút đi. Hai đứa tung nắm giấy vừa xé từ những cuốn vở tập viết lên trời. Những trang giấy trắng bay tung toé khắp nơi. Trang giấy có chữ “e” của ve sầu con và trang giấy có chữ “i” của dế con bay xa và rơi luôn xuống dòng suối đang chảy. Dòng nước cuồn cuộn chảy cuốn ngay những trang giấy có hai chữ cái ấy trôi đi. Những con chữ rập rờn rồi biến mất dưới làn nước chảy xiết.
           Ve sầu con và dế con kéo nhau đi khắp vườn.
           Gặp ai chúng cũng vênh mặt lên đấm bình bịch vào ngực khoe là người biết chữ, là người có học. Càng ngày chúng càng trở nên kênh kiệu và tỏ vẻ khinh người ra mặt.

 7
            Một buổi sáng xôn xao trong khu vườn của muôn loài.
            Thầy giáo Cóc dẫn đầu bọn trẻ đi trên con đường nhỏ giữa vườn. Đó là những chú kiến, chuồn chuồn, ong mật, bọ dừa, châu chấu. Cặp sách đeo trên vai, đứa nào đứa nấy mặt mày đều hớn hở, phấn khởi.
            Đoàn học sinh và thầy giáo Cóc đi qua chiếc cầu nhỏ bắn qua con suối. Cả khu vườn ồn ào. Mọi người đổ ra chào đón thầy giáo Cóc và các học sinh. Trong lúc ấy thì ve sầu con và dế con đang đùa nghịch ở bãi cỏ non ven đường. Thấy mọi người ồn ào đi qua ve sầu và dế con cũng vội chạy ra xem.
            Nhìn thấy đám bạn bè học sinh cùng lớp cũ, ve sầu con liền hỏi:
           - Các cậu kéo nhau đi đâu đấy?
           - Bọn mình theo thầy giáo Cóc đi tham dự hội thì viết chữ đẹp đấy!
           Thằng ong con vui vẻ trả lời. Ve sầu con quả quyết:
           - Thế thì tớ và dế mèn con cũng sẽ đi thi!
           Ong con ngạc nhiên:
           - Nhưng hai cậu có biết chữ đâu mà đòi đi thi viết chữ đẹp chứ?
           - Biết… biết, bọn mình đã biết chữ từ lâu rồi mà!
           Dế mèn con cự lại. Đoạn nó lấy thanh gươm gỗ vạch trên mặt đất một chữ “i” nghuệch ngoạc. Ve sầu cũng dùng que viết ra mặt đất một chữ “e” xiêu vẹo và nói: “Thấy không! Chúng mình cũng biết chữ cả đấy!”. Đám học sinh ồn ào. Thấy vậy, thầy giáo Cóc bèn rẽ đám đông tiến đến vỗ vai ve sầu và dế con ân cần bảo:
          - Các con mỗi người chỉ biết có mỗi một chữ mà không hiểu là còn có nhiều chữ khác nữa chưa biết. Với mỗi một chữ duy nhất mà các con đã biết thì không viết nổi cả tên của mình đâu! Các con không thể đi tham dự hội thi viết chữ đẹp này đâu!
           Ve sầu ngơ ngác:
           - Con cứ tưởng chỉ cần biết chữ là đã thành người có học rồi chứ ạ?
           Thầy giáo Cóc ân cần:
           - Biết chữ thì chưa phải đã là người có học đâu các con ạ! Biết chữ rồi còn phải tiếp tục học, học nữa, học cả đời thì mới nên người… Các con chỉ biết một chữ thì không thể đi tham dự cuộc thi viết chữ đẹp này đâu…
           Ve sầu và dế con cúi đầu xấu hổ. Hoá ra bây giờ chúng mới hiểu ngoài chữa “e” và chữ “i” chúng đã học được còn nhiều chữ khác mà chúng chưa hề biết… Đoàn học sinh và thầy giáo Cóc tiếp tục hồ hởi lên đường đi dự hội. Ve sầu và dế con đứng trông theo. Nét mặt cả hai rất buồn. Rồi cả hai lủi thủi quay về. Thằng dế con kéo lê hai thanh gươm gỗ trên đường…
           Thế là cũng bởi ngộ nhận và lười biếng vậy, cho nên cả đời ve con và dế con mỗi đứa chỉ biết đúng có một chữ duy nhất. Vì thế ngày ngày trên cành cây cao chỉ nghe thấy tiếng ve sầu ra rả đọc mãi một chữ “e…e…e… e…” và dưới mặt đất thì dế chỉ biết ri rỉ lẩm nhẩm mỗi một chữ “i…i…i… i…” mà thôi.
                                                                                               Hà Nội, cuối năm 2012

                                                                          



Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2014

VỀ TRUNG DU - thơ

 

Về Trung du
 
Theo em về thăm lại bến xưa
Sông Lô mùa thu xanh thăm thẳm
Một trung du dịu dàng đằm thắm
Cọ xòe ô vẫy dọc đường chiều.
 
Bờ đê thấp thoáng những cánh diều
Đàn em nhỏ đầu trần đen nhẻm,
Phương Khoan (1) ấy một lần tôi đến
Hai mươi năm nay mới trở về.
 
Bến sông xưa vẫn những rặng tre
Uốn cần câu đợi mùa nước lớn
Chuyến phà Then sang ngang chộn rộn
Người lính già lặng lẽ bên sông (2).
 
Một mùa thu rơi xuống cánh đồng
Lúa rực vàng vui ngày gặt hái
Giữa rơm rạ thấy lòng thư thái
Quên nỗi lo bận bịu phố phường.
 
Tôi gặp trong màu nắng quê hương
Ánh mắt trung du sao trừu mến,
Có tiếng em gọi tôi xuống bến
Thật dịu dàng như sóng Lô giang...
 
Vĩnh Phúc, 8/2014
   Trọng Bảo
------------------
(1) Phương Khoan là một xã ven sông Lô thuộc tỉnh Vĩnh Phúc
(2) Người lính già - nhân vật trong truyện ngắn Ký ức sông Lô mà tôi đã viết. Mời đọc truyện ngắn này theo đường link:  http://Truyện ngắn KÝ ỨC SÔNG LÔ
 

Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014

Chúng tôi lính trung đoàn 246

Ngày chủ nhật (29-6-2014), tại nhà khách Bộ Tư lệnh Quân khu 2, các cựu chiến binh Trung đoàn 246 (Đoàn Tân Trào) sẽ tổ chức buổi gặp mặt truyền thống. Tôi xin đưa lại bài thơ đã viết trong dịp về dự gặp mặt hai năm trước gửi đến các bạn bè, đồng đội cùng trung đoàn năm xưa.
Tôi bị cháy hỏng máy điện thoại, mất hết số điện thoại của các bạn cùng đơn vị cũ. Ai đọc được bài thơ này hãy nhớ điện lại cho tôi nhé!
Trọng Bảo, ĐT: 0986676547

Chúng tôi lính trung đoàn 246
 
           Chúng tôi lính trung đoàn 246
           Nhớ thuở tựu quân giữa chiến khu
           Tấm áo nâu và thanh mã tấu
           Dặm trường chinh khói lửa mịt mù.
 
           Chín năm trường kỳ, chín năm gian khổ
           Tuổi hai mươi vương vãi sa trường
           Dọc ngang chiến hào mồ hôi, máu đổ
           Bao người không trở lại quê hương.
 
           Trường Sơn xưa có người lính trẻ
           Súng trên vai hăm hở lên đường
           Vượt rừng già, suối sâu, vách đá
           Những nơi nào còn đẫm máu xương?
 
           Đoàn quân băng qua bao vực thẳm
           Hướng chiến trường rẽ núi mà qua
           Đâu có biết tấm lòng quả cảm
           Lại phôi pha giữa chốn rừng già!
 
           Một người sống, hai người chết đói
           Mặt trận xa vời vợi tận nơi đâu
           Lương thực cạn, rừng không biết nói
           Để mách cho người lính một ngọn rau…
 
           Trung đoàn tôi có thêm tên mới,
           Trung đoàn “hai-bốn-đói” từ đây
           Những người lính gầy gò đói lả
           Mà làm nên chiến thắng Làng Vây…
 
           Hòa bình khi niềm vui chưa dứt
           Rừng núi Hà Giang phá đá mở đường
           Miếng măng đắng quặn từng khúc ruột
           Hạt bo bo đợi lúa chín trên nương.
 
           Và trận đánh ở Cao Bằng năm ấy
           Đồng đội tôi những ai mất, ai còn
           Đêm phá vây giữa bốn bề lửa cháy
           Thêm nhiều người ngã xuống ở sườn non…
 
           Lũ chúng tôi hôm nay về gặp mặt
           Những mái đầu đã trắng thời gian
           Cùng nhớ về những người đã khuất
           Để mãi mãi bên nhau lính trung đoàn…
                           Phú Thọ, 30/6/2012
                              TRỌNG BẢO

Thứ Tư, 7 tháng 5, 2014

Tản văn Một mét chiến hào Điện Biên

   

      Ảnh: Hoa ban miền Tây bắc
 
Một mét chiến hào Điện Biên
Tản văn của Trọng Bảo

          Mùa hè năm 1999, cũng vào dịp kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi đang nghỉ phép ở quê thì nhận được điện thoại của ông Đỗ Văn Tường, Bí thư huyện uỷ Lập Thạch-Vĩnh Phúc. Ông thông báo: "Ngày mai Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ về thắp hương tại đền thờ Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn tại xã Sơn Đông, nhà báo cố gắng đến nhé!". Tôi hứa sẽ đến sớm. Bí thư huyện uỷ  Đỗ Văn Tường còn cho biết thêm đã mấy lần đại tướng về thăm đền thờ Trần Nguyên Hãn. Hai vị danh tướng có tài "kinh bang tế thế" ấy đều là những người có công khai quốc công thần, tuy âm dương cách biệt nhưng hình như có sự đồng cảm với nhau.

            Trần Nguyên Hãn là một vị tướng giỏi có công lao rất lớn trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, trợ giúp Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh, lập ra nhà Hậu Lê. Song cũng chính vì công lao của ông lớn quá, tính tình của ông lại cương trực khiến cho lũ tham quan, nịnh thần ganh ghét. Chúng gièm pha, xúc xiểm khiến Lê Lợi dần dần không còn tin dùng Trần Nguyên Hãn nữa. Chán nản trước sự đời và hiểu được cái xu thế: "Tướng tài thời loạn, quan hoạn thời bình" nên Trần Nguyên Hãn đã dâng tấu xin được quy hưu. Ông trở về vùng quê nghèo Lập Thạch là nơi đã sinh thành để lập ấp, làm ruộng, vui cảnh điền viên. Thế nhưng đám quan tham kia vẫn không buông tha ông. Chúng tiếp tục xúi bẩy Vua Lê Thái tổ, vu cho ông tội tụ tập mưu phản. Lê Lợi u mê tin vào bọn ấy đã hạ chỉ, sai quan quân bắt trói Trần Nguyên Hãn rồi dìm chết tại bến Đông Hồ trên Sông Lô. Cũng có tài liệu khác thì lại viết là ông đã tự trầm mình xuống sông tự vẫn. Đó cũng chỉ là một sự bức tử mà thôi. Nhân dân đã lập đền thờ Trần Nguyên Hãn ngay trên bến sông, nơi ông bị dìm chết.

            Chuyến đi đón vị danh tướng của thời nay về viếng vị danh tướng của thời xưa đã giúp tôi có thêm tư liệu để viết xong truyện ngắn có tính dã sử "Bến sông xưa" mà tôi đã ấp ủ từ lâu.

          Tháng 5 năm 1963, khi trả lời phỏng vấn của "Tuần báo Cách mạng châu Phi", Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định cùng với sự lãnh đạo tài tình của Đảng, Bác Hồ, của nghệ thuật quân sự Việt Nam, của quyết tâm sắt đá của quân, dân ta là những nhân tố quyết định dẫn đến thắng lợi của Điện Biên Phủ, còn có một nguyên nhân nữa là ý chí được hun đúc từ hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước. Đó là ý chí giành độc lập tự do cho Tổ quốc, đem lại ruộng đất cho nông dân. Ông nhấn mạnh đó chính là động lực để những người lính không sợ đổ máu hi sinh cầm súng lao vào trong lửa đạn, là sự thôi thúc những đoàn dân công ngày đêm ăn đói, nhịn khát thồ gánh gạo từ hậu phưong lên mặt trận Tây Bắc xa xôi tiếp tế cho bộ đội. Ý nghĩa và bài học đó đến hôm nay vẫn luôn tươi mới. Chúng ta đang xây dựng đất nước với mong muốn phát triển Việt Nam sánh vai cùng các quốc gia trên thế giới. Lớp người hôm nay chỉ quen nghe tiếng pháo hoa, chưa từng nghe tiếng pháo giặc, chỉ biết những dự án hàng trăm, hàng ngàn hec-ta xây dựng những sân gôn, khu công nghiệp. Song xin đừng quên là chỉ một mét chiến hào Điện Biên thôi mà hàng chục, thậm chí hàng trăm người đã ngã xuống, máu liệt sĩ thấm sâu vào lòng đất. Và cũng xin đừng bao giờ quên cái giá của độc lập, tự do và của từng tấc đất Việt Nam là rất đắt.
                                                                Hà Nội, tháng 5-2009 

Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Truyện ngắn NHỚ RỪNG đăng Báo QĐND

LTG: Trang Văn học-Báo Quân đội nhân dân, thứ sáu (14-2-2014) đã đăng truyện ngắn Nhớ rừng, một truyện ngắn tôi viết về kỷ niệm thời tuổi trẻ sống, lao động ở miền rừng núi Hà Giang thân yêu. Tác giả xin trân trọng cảm ơn ban biên tập báo và post lại trên blogs của mình (Trọng Bảo).
Nhớ rừng
QĐND - Thứ sáu, 14/02/2014 
QĐND - Gặp tôi ở chợ hoa phong lan, anh Đạo kéo tôi về nhà anh. Sao giữa chốn thị thành này lại có một khu vườn rộng và đẹp đến thế. Quên cả mình là khách, tôi nhào ngay đến chỗ gốc cây treo lủng lẳng những giò phong lan rừng. Đang đúng mùa quế lan hương nở. Những chùm hoa màu trắng như sữa buông xuống. Mùi hương thơm ngan ngát. Anh Đạo gọi to:

- Mình ơi! Có khách quý…
Một người phụ nữ luống tuổi từ trong căn nhà gỗ ló ra. Tôi vội quay lại:
- Chào chị! Em là…
- Chiến hữu của tôi đấy. Chiến hữu đặc biệt. Từng sống chết với nhau thời biên giới đấy! - Nói đến đây anh cũng thấy ngạc nhiên - Ồ… mới đấy mà cũng đã mấy chục năm rồi!
- Thế sao hôm nay chú mới đến nhà chơi…
Anh Đạo trả lời thay tôi:
- Thì chiến đấu mỗi người mỗi hướng. Tôi bị thương chuyển về tuyến sau, qua bao nhiêu là bệnh viện… mất liên lạc. Mấy chục năm rồi, hôm nay bất ngờ gặp chú ấy ngoài chợ. Chú ấy làm việc ở ngay Hà Nội mà có biết đâu. Thôi bà đi chợ kiếm cái gì cho anh em tôi liên hoan một bữa ra trò mừng ngày tái ngộ.
- Được rồi, ông cứ yên tâm!
Nói đoạn, chị chủ nhà xách làn đi ra cổng. Tôi và anh ngồi ngay giữa vườn cây. Chúng tôi vừa uống chè, ngắm hoa, vừa trò chuyện rôm rả. Kỷ niệm ngày mới nhập ngũ hiện lên trong tôi tươi mới như vừa hôm qua.
Ngày ấy là những năm tháng cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tôi nhập ngũ theo lệnh tổng động viên. Chúng tôi háo hức lên đường. Miền Nam đang thắng lớn dồn dập. Những tin tức chiến sự từ mặt trận bay về khiến chúng tôi bồn chồn, mong được tham gia đội hình tiến vào Sài Gòn ngày chiến thắng. Song chúng tôi chưa hoàn thành chương trình huấn luyện tân binh thì miền Nam đã hoàn toàn giải phóng. Nhưng niềm vui thắng trận chưa nguôi thì những khó khăn thời hậu chiến đã xuất hiện. Đó là những năm tháng khó khăn của đất nước. Đơn vị chúng tôi hành quân lên Hà Giang để làm đường. Con đường 279 từ Bắc Quang xuyên rừng núi hoang sơ sang Yên Bái. Đơn vị làm lán tạm giữa rừng để mở tuyến thi công nền đường. Một hôm, tôi được giao nhiệm vụ lên tiểu đoàn nhận mắm tôm về cho nhà bếp. Khi khoác chiếc ba lô nặng trịch, hôi mù trên vai đi qua nhà chỉ huy thì chợt nghe tiếng gọi:
- Nguyên phải không?
Tôi dừng lại nhìn vào nhà chỉ huy. Tiểu đoàn trưởng Doanh là người cùng huyện nên nhận ra tôi. Anh dẫn một người trông vẻ lính cũ ra bảo:
- Đây là Đạo. Anh ấy được biên chế về Đại đội 7, cậu dẫn anh ấy về đơn vị luôn nhé!
- Vâng! Anh đi luôn cùng em chứ?
Thế là chúng tôi quen nhau. Anh Đạo hơn tôi bốn tuổi, nhập ngũ cũng hơn tôi gần bốn năm. Anh là dân Hà Nội. Anh vừa tốt nghiệp trung cấp cầu đường được điều về làm nhân viên kỹ thuật tại đại đội tôi. Dọc đường về đơn vị hơn chục cây số đường rừng, mặc dù tôi từ chối nhưng anh cứ dứt khoát giành đeo giúp tôi cái ba lô mắm tôm nặng trịch. Chúng tôi thân với nhau từ đó. Hầu như ngày nào chúng tôi cũng gặp nhau. Kiếm được cái gì ăn như nồi sắn luộc, nắm xôi dân bản cho anh cũng gọi tôi. Bây giờ nói chuyện ăn uống thì nghe có vẻ kỳ cục và khổ khổ thế nào ấy. Nhưng những năm tháng sau chiến tranh, để được bữa ăn no không phải dễ, đừng nói là ăn ngon. Khẩu phần bữa của mỗi người là hai bát hạt bo bo hoặc hai nắm bánh mì đen luộc. Ăn xong bữa mà cứ như chưa ăn. Cánh lính làm đường, suốt ngày đào đất, đục đá, bụng đói, tay run nhiều khi hoa cả mắt. Giữa tôi và anh Đạo có bao nhiêu kỷ niệm, vui buồn đều có.
Hôm đó là ngày nghỉ. Tôi đang nằm đọc tờ báo cũ thì anh ngó vào:
- Đi theo tao có cái này hay lắm!
Thấy tôi ngần ngừ, anh nói tiếp:
- Hôm qua đi khảo sát định tuyến, tao phát hiện được một tổ ong mật to lắm.
Nghe vậy, tôi ngồi bật ngay dậy. Tôi vớ con dao đi theo anh. Mọi ấm ức với anh tan biến. Tôi với anh sôi nổi bàn cách lấy mật ong. Đến gốc cây ngát có tổ ong, chúng tôi vun lá khô châm lửa. Khi lửa đã cháy, chúng tôi ném mấy cành lá tươi vào. Khói bốc lên nghi ngút. Đàn ong ào ào bay vun vút ra khỏi tổ. Anh Đạo leo lên cây cắt lấy tổ ong mọng căng những mật cho vào xô rồi ròng dây xuống cho tôi. Tôi đỡ xô mật ong. Anh Đạo tụt xuống. Hai anh em ngồi luôn dưới gốc cây chén mật ong. Mật ong tươi, ngọt lịm.
Chúng tôi mải ăn và vắt mật ong ra xô, không để ý đống lửa đốt lá cây tươi đã tàn, khói không còn bốc lên nữa. Thế là đàn ong lao xuống đốt túi bụi. Bị bất ngờ, tôi và anh Đạo hoảng quá bỏ cả xô mật phá chạy. Nhưng chúng tôi chạy đến đâu đàn ong đuổi theo đến đấy. Hai chúng tôi phóng vào khu doanh trại của đơn vị nữ ở chân dốc. Các chiến sĩ nữ đang cuốc xới, nhổ cỏ ở vườn rau hét lên kinh hãi khi thấy đàn ong như một đám mây đen đuổi riết theo hai chúng tôi. Chúng tôi chạy qua chỗ chị em đang tăng gia. Nhưng lạ thay, đàn ong chỉ bám theo tôi và anh Đạo, chúng không đốt bất cứ ai khác. Tôi và anh Đạo lao vào nhà bếp. Đàn ong đuổi theo. Hai cô bé đang vặt rau rú lên hoảng sợ. Anh Đạo rút vội một thanh củi đang cháy ngùn ngụt vung lên khua đuổi đàn ong. Tôi cũng vội vớ lấy một thanh củi đang cháy. Nồi nước trên bếp lật đổ ụp xuống, khói mù mịt. Hai chúng tôi khua khoắng một hồi đàn ong mới chịu bay đi. Tôi và anh Đạo lúc này mới hoàn hồn, tay vẫn chưa dám buông cành củi đang tỏa khói. Hai nữ chiến sĩ nuôi quân mặt cắt không còn tý máu. Tôi ấp úng xin lỗi rồi kéo anh Đạo ra ngoài. Đến bìa rừng, anh còn tỏ vẻ tiếc rẻ bảo:
- Tao với mày lên chỗ gốc cây ngát tìm xô mật ong đi.
- Thôi để đến tối! Mò lên bây giờ bọn ong nó đánh cho một trận nữa thì toi hẳn.
Tôi vừa gàn anh vừa xoa xoa cái đầu đau ê ẩm vì ong đốt. Anh Đạo nhất định tìm cách lên lấy bằng được xô mật. Anh lo để đấy đến tối thì lũ kiến sẽ bò vào làm hỏng xô mật ong. Anh buộc một bó nứa to châm lửa và đốt lên cùng lá cây tươi. Khói mù mịt. Anh lên lấy xô mật ong. Buổi tối, tôi và anh xách theo hai chai mật ong sang cho các em ở trung đội nữ như một lời xin lỗi vì đã làm cho họ một phen khiếp đảm. Sau bận ấy, chúng tôi hay sang chơi với các em ở trung đội nữ. Các nữ chiến sĩ đóng quân ở giữa rừng, họ cũng vất vả làm đường như đơn vị nam chúng tôi. Hôm hai nữ chiến sĩ đi lấy gạo bị lũ cuốn trôi, cả đại đội chúng tôi dàn quân lần theo dọc hai bờ con sông Bạc tìm thi thể của họ.
Một lần, anh Đạo được cử về Hà Nội mua hạt rau giống. Không biết anh tỉ tê thế nào mà đại đội trưởng đồng ý cho tôi cùng đi. Khi chúng tôi qua chỗ đơn vị nữ hỏi xem chị em có nhờ mua bán cái gì không, các cô gái cứ cười cười mãi. Thoan, một trong hai cô bé nhặt rau ở bếp bữa chúng tôi bị đàn ong đuổi hôm trước đưa cho chúng tôi một cái phong bì dán kín và dặn:
- Các thứ cần mua chúng em đã ghi cả trong này rồi! Nhưng ra đến ngoài đường các anh mới được mở ra xem đấy nhé!
Nghe Thoan dặn, các cô gái cứ cười ngặt nghẽo mãi.
Hai chúng tôi bám nhờ xe chở xi măng ra Quốc lộ 2 để đón xe khách. Phải mất hai chặng xe mới tới được ga Phú Thọ. Từ ga Phú Thọ, chúng tôi đi tàu xuôi Hà Nội. Anh Đạo về Hà Nội trước mua hạt rau giống. Tôi tranh thủ mượn xe đạp tạt về thăm nhà một tối rồi sáng hôm sau về Hà Nội đón anh ở ga Hàng Cỏ để cùng ngược lên đơn vị. Gặp nhau ở sân ga, anh Đạo bảo:
- Mày lấy thư của các em ra xem họ nhờ mua cái gì?
Lúc này tôi mới nhớ đến lá thư Thoan đưa cho hôm trước nhét ở góc ba lô. Vừa bóc ra xem, tôi tái mặt kêu:
- Chết rồi anh Đạo ơi!
- Việc gì thế?
Tôi vừa đưa mảnh giấy cho anh Đạo vừa ghé tai anh nói nhỏ:
- Chị em nhờ mua toàn đồ “phụ tùng” của phụ nữ… làm thế nào bây giờ hả anh?
Anh Đạo đọc xong tờ giấy cũng hơi cuống. Chị em trung đội nữ nhờ mua bốn mươi cái xu-chiêng. Ngày ấy, cả tôi và anh đều chưa có gia đình. Thậm chí tôi còn chưa có cả người yêu nữa. Bàn tính một lúc, chúng tôi kéo nhau ra đường Nam Bộ trước cửa nhà ga. Hai anh em cứ lượn đi lượn lại mãi mới dám đánh liều vào một cửa hiệu của một chị đứng tuổi. Chị bán hàng hỏi:
- Hai chú bộ đội cần mua gì?
Anh Đạo chỉ tôi. Tôi gãi đầu gãi tai, ấp úng không nói được.  Chị chủ hiệu gặng hỏi. Tôi đưa cho chị tờ giấy. Chị xem xong cười ngặt nghẽo một lúc rồi bảo:
- Đấy, các chú xem các loại kích cỡ nào thì chọn đi!
Tôi càng hoảng. Anh Đạo lúc này còn giở quẻ:
- Mày xem em Thu, em Lý, em Tân, nhất là em Thoan của mày vừa cái nào thì mua đi, sắp đến giờ tàu chạy rồi…
Tôi cáu:
- Anh định đùn hết trách nhiệm cho em à?
- Nhưng các em nhờ mày mua chứ có nhờ tao đâu!
Tôi quyết định:
- Nhờ chị chọn cho hai mươi cái loại vừa, hai mươi cái loại to.
- Mày mua thế nhỡ có chị em nào không vừa thì mày chết! - Anh Đạo dọa.
Tôi cũng hơi lo. Nhưng các em không ghi rõ kích cỡ thì biết thế nào. Để cho yên tâm, tôi mua thêm năm cái loại to nhất nữa. Chị bán hàng xếp bốn lăm cái xu-chiêng vào ba lô cho tôi. Trên đường về đơn vị, tôi tìm cách đùn việc đeo cái ba lô loại hàng “đặc biệt” này cho anh Đạo. Lúc ngồi trên tàu xe, mỗi khi thấy công an hay tổ kiểm soát quân sự đi qua là tôi lo tái cả mặt. Họ mà kiểm tra hành lý thì nguy. Ngày ấy còn có chuyện ngăn sông cấm chợ, hàng hóa cấm lưu thông. Bị kiểm tra, bày các thứ ra thì ngượng chết, nhất là lại bị quy là buôn lậu các thứ này nữa thì càng nguy. Lúc đến Vĩnh Tuy, tôi bảo anh Đạo xuống xe. Anh ngạc nhiên:
- Lên tới ngã ba đi Yên Bình mới xuống đi bộ cho gần chứ. Xuống ở đây xa mất hơn mười cây số đấy.
- Trạm kiểm soát quân sự chỗ ngã ba kiểm tra kỹ lắm. Xuống đây cho yên tâm!
Tôi nói và đeo chiếc ba lô hàng “đặc biệt” lên vai. Anh Đạo bảo:
- Mày khôn thế! Dọc đường sợ bị bắt thì đùn cho tao đeo cái ba lô này. Bây giờ cuốc bộ leo núi thì mày lại xí phần?
Nói vậy nhưng anh vẫn khoác chiếc ba lô hạt giống nặng lên vai. Qua chỗ đơn vị nữ, chị em trông thấy ùa ra. Tôi quẳng cái ba lô về phía chị em rồi tháo chạy. Hôm sau gặp nhau ở bờ suối, Thoan cười cười bảo tôi: “Anh mua cho em hai cái chả cái nào vừa cả!”. Tôi đánh bạo: “Lần sau có nhờ thì phải cho… kiểm tra, đo trước thì mới mua đúng được…”.
Tôi và anh Đạo cùng ôn lại chuyện cũ. Anh bùi ngùi:
- Trận đánh ở biên giới năm ấy mấy chục chị em hy sinh gần hết. À, mày đã đến thăm nhà cái Thoan lần nào chưa?
- Có! Em đã đến nhà cô ấy ngay sau chiến tranh biên giới 2-1979. Đơn vị giao cho em đem di vật của liệt sĩ về giao cho gia đình Thoan. Mẹ cô ấy mở cái ba lô ra cầm mấy thứ đồ của con gái cứ khóc mãi.
Anh Đạo đứng dậy:
- Thôi, nhắc lại chuyện cũ buồn quá! Theo tao ra vườn xem hoa phong lan. Có mấy loại lan rừng tao mới tầm được đấy.

Truyện ngắn của TRỌNG BẢO