Thứ Năm, 13 tháng 2, 2020

Ghi chép CAO BẰNG - 1979 (phần 4 & 5)

CAO BẰNG - 1979 (phần 4)
Ghi chép của Trọng Bảo

Vị trí chỉ huy và cơ quan tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 3 tiếp tục dâng lên phía trước. Chúng tôi chuyển lên đóng quân ở bản Cốc Vường, ngay phía sau các điểm chốt tiền tiêu cây đa thứ nhất và chốt cây đa thứ hai của Đại đội 11, cách đường biên giới và cửa khẩu Bình Mãng độ hơn nửa ki-lô-mét đường chim bay. Bản Cốc Vường còn rất ít người dân ở lại. Hầu hết trẻ em, phụ nữ, người già đã sơ tán về phía sau hoặc lánh lên núi cao, chỉ còn một số dân quân, thanh niên trai tráng ở lại làm nhiệm vụ bảo vệ bản, trông coi nhà cửa và hỗ trợ bộ đội tuần tra canh gác, vận chuyển đạn dược.

Bản Cốc Vường là nơi có đền thờ Đại vương Nùng Trí Cao, một nhân vật lịch sử sống vào những năm đầu thế kỷ XI (1025-1053). Ông quê ở châu Quảng Nguyên (nay là tỉnh Cao Bằng). Lúc sinh thời ông đã nhiều lần tổ chức lưc lượng chống phá quân giặc ngoại xâm góp phần bảo vệ biên giới quốc gia Đại Việt. Nùng Trí Cao được nhà Lý phong làm châu mục Quảng Nguyên, cai quản một vùng đất rộng lớn nơi biên ải bảo vệ bình yên cho nhân dân. Sau khi ông mất, vua Lý đã sắc phong cho ông là "Khâu Sầm Đại vương". Nhân dân đã lập đền thờ vị tướng biên cương Nùng Trí Cao tại khu vực bản Cốc Vường. Chiến tranh biên giới xảy ra, đền thờ ông bị đạn pháo quân xâm lược bành trướng bắn phá tan tành. Nhân dân Sóc Hà đã xây dựng lại sau năm 1979.

Tiểu đội vô tuyến của tôi ở trên căn nhà sàn nhô ra sát con đường lên cửa khẩu. Đứng trên sàn nhà có thế quan sát các điểm chốt của Đại đội 11 và thấy rõ cả đài quan sát của bọn Trung Quốc ở mỏm núi đá phía bên phải trên đầu điểm chốt cây đa thứ nhất của Đại đội 11. Phía bên trái là trận địa Kéo Nghìn và bản Cốc Nghịu do Đại đội 9 phòng ngự. Trên dãy núi đá là trận địa hỏa lực của Đại đội 12 gồm các khẩu đội 12ly7 và cối 82 bố trí tại Lũng Mật, Lũng Vỉ. Từ trên trận địa của Đại đội 12 có thể quan sát rất rộng toàn bộ khu vực thị trấn Sóc Giang và thị trấn Bình Mãng bên kia biên giới. Đại đội 10 thì chốt giữ ở phía sau, trấn giữ con đường từ ngã ba Đôn Chương lên thị trấn Sóc Giang (huyện Hà Quảng). Trận địa phòng ngự của Đại đội 10 là mỏm núi đất nằm ngay dưới chân cao điểm 505. Cao điểm 505 nằm trên dãy núi đất cây cối rậm rạp chạy song song với dãy núi đá vôi xuôi về phía xã Quý Quân và Mỏ Sắt, Thông Nông. Cao điểm 505 có tầm quan sát, khống chế toàn bộ thị trấn Sóc Giang và xã Sóc Hà cho đến tận ngã ba Đôn Chương.

Do phải di chuyển vị trí đóng quân lên bản Cốc Vường nên tiểu đội vô tuyến sóng cực ngắn của tôi đều có mặt đầy đủ ở cơ quan tiểu đoàn bộ. Các tổ đài đi tăng cường đảm bảo thông tin cho chỉ huy các đại đội đều rút về bản Cốc Vường. Lâu lâu rồi chúng tôi mới lại có một bữa ăn có mặt đầy đủ toàn tiểu đội thế này. Bữa cơm tối có một chút chất tươi. Nhà bếp cơ quan tiểu đoàn bộ mổ con lợn lấy thực phẩm nên mỗi người được vài miếng thịt, miếng lòng dồi.

Vừa ăn, tôi vừa tranh thủ phổ biến tình hình, động viên anh em và phân công công việc ngày mai cho các bộ phận. Ngày mai là chủ nhật, trừ bộ phận trực đảm bảo thông tin sẵn sàng chiến đấu số anh em còn lại của tiểu đội sẽ đi làm đất trồng ngô. Chúng tôi đã được bà con dân bản cho mượn một vạt đất gần phía hang Ma Gà để tổ chức tăng gia sản xuất. Mùa xuân đang tới. Mưa xuân tạo không khí ẩm ướt cho một vùng đất đai khô hạn. Cây cối đang lên chồi nảy lộc. Mùa xuân cũng là mùa cày cuốc gieo trồng trên vùng cao này.

Nghe tôi phổ biến công việc xong thằng Châu liền hỏi luôn:
- Đánh nhau đến nơi rồi mà vẫn đi trồng ngô hả anh?
- Phải trồng để lấy lương thực chứ! Khi nào đánh nhau hẵng hay...
Nghe tôi nói vậy anh em ồn ào bàn tán. Tiểu đội phó Vũ Văn Tự nói:
- Khu đất sau bản ấy rất màu mỡ, trồng ngô chắc sẽ tốt lắm đấy!
Tôi nói thêm:
- Ăn tối xong mọi người tranh thủ vào các nhà dân trong bản còn có người ở lại mượn cuốc xẻng để mai đi làm đất trồng ngô. Hạt giống tiểu đoàn sẽ cung cấp rõ chưa?
- Rõ... rõ...
Mọi người đáp và nhanh chóng thu dọn xoong nồi, bát đũa. Mấy anh em khác thì tranh thủ đi mượn dụng cụ lao động. Tôi rút cuốn sổ ghi chép ra nhưng chưa kịp viết gì thì tiểu đội trưởng truyền đạt Nguyễn Văn Đam đến. Tôi và thằng Đam ngồi nói chuyện với nhau. Đam bảo:
- Tao có linh cảm là chiến tranh sắp xảy ra mày ạ!
- Thì… chắc chắn thế nào chiến tranh cũng sẽ xảy ra thôi. Tình hình như thế này chả sớm thì muộn hai bên cũng phải choảng nhau một trận chí tử mới xong…

Nghe tôi nói vậy Đam càng có vẻ trầm ngâm rồi nó nói:
- Biết bao giờ chiến tranh mới kết thúc để bọn mình ra quân về nhà tiếp tục ôn thi vào đại học nhỉ?
Tôi ngập ngừng bảo:
- Cũng chả biết liệu bọn mình có còn cơ hội để học hành nữa hay không? Chiến tranh dù không xảy ra nhưng nếu cứ nhùng nhằng mãi thế này cũng khó mà xuất ngũ ra quân được… À… mày vẫn còn mang theo mấy cuốn sách giáo khoa để ôn thi đại học phải không?
Thằng Đam gật đầu. Tôi nhăn mặt bảo:
- Tình hình thế này cũng đã đến lúc mày vứt mẹ mấy cuốn sách ấy đi cho nhẹ khi hành quân, để đeo thêm mấy băng đạn, vài cân gạo. Bao giờ chiến tranh chấm dứt chúng mình tính sau?
Thằng Đam im lặng thở dài không nói gì. Đoạn, nó xách khẩu AK đứng dậy bảo tôi:
- Thôi! Tao về đây, sắp đến phiên đổi gác rồi!

Tôi nhìn theo thằng Đam tụt xuống cầu thang. Trông nó gầy gò nhỏ bé. Khi bóng thằng Đam đã lẫn vào bóng đêm rồi tôi vẫn chưa thôi suy nghĩ về nó. Tôi và thằng Đam cùng quê Lập Thạch, Vĩnh Phúc, cùng nhập ngũ tháng 2-1975. Hôm lên huyện tập trung để dự lễ giao nhận quân tôi chỉ có một bộ quần áo mặc trên người và cái túi đựng cuốn sổ ghi lưu bút của bạn bè. Trong khi đó thằng Đam đeo một cái bọc to kềnh càng sau lưng. Tôi hỏi:
- Mày mang theo đồ đạc gì mà nhiều thế?
Nó bảo:
- Tao mang theo sách vở để lúc nào rỗi thì học thêm. Hoàn thành nghĩa vụ trở về quê tao sẽ tiếp tục thi vào đại học.
- Mày viển vông quá! Đang chiến tranh thế này biết bao giờ mới trở về đi học được?
- Chiến tranh rồi cũng phải kết thúc chứ!
- Nhưng hành quân súng đạn, gạo củi nặng bỏ mẹ mày còn đeo thêm sách vở thế nào được.
- Tao sẽ cố...
- Thôi mặc xác mày!
Nhận quân trang xong, được cấp thêm bảy ki-lô-gam gạo nữa nên ba lô của chúng tôi căng phồng. Tôi cứ tưởng là sẽ leo lên ô tô rầm rập phóng ra mặt trận ngay. Nhưng không, chúng tôi được biên chế vào một đơn vị thuộc tỉnh đội. Và việc đầu tiên là hành quân bộ vượt sông Lô sang huyện Lâm Thao huấn luyện. Đoạn đường gần năm mươi cây số không xa, nhưng lần đầu tiên cuốc bộ lại không quen với đôi dép cao su mới phát nên chân tôi chầy chật rớm máu. Tôi để ý thấy thằng Đam vẫn lặng lẽ bước đi phía trước. Trông nó vóc dáng đã bé nhỏ nên như bị cái ba lô đè gập người xuống. Tôi nghĩ: "Cứ đà này thì qua phà nó ném bọc sách vở cho trôi sông Lô luôn!".

Nhưng Đam vẫn mang được bọc sách vở về đến đơn vị. Suốt thời gian huấn luyện chiến sĩ mới lúc nào được nghỉ tôi thường thấy Đam chúi đầu vào mấy cuốn sách. Mặc cho tôi và mấy thằng cùng tiểu đội khích bác nhưng Đam vẫn bỏ ngoài tai. Nhiều lần gặp tôi nó khoe vừa giải được một bài toán khó trong tuyển tập đề thi đại học. Tôi bảo:
- Biết bao giờ mới được ra quân mà mày học làm gì cho tốn công tốn sức?
- Thì rồi đến lúc cũng phải ra quân chứ. Chiến tranh chống Mỹ kết thúc rồi họ sẽ cho tụi mình về thôi!

Nhưng chúng tôi không được xuất ngũ như thằng Đam nói. Đơn vị chúng tôi nhận lệnh hành quân lên Hà Giang làm kinh tế. Chúng tôi nhận nhiệm vụ đào đất phá đá mở con đường lâm nghiệp giữa rừng sâu. Đó là những ngày gian khổ nhất của cuộc đời chiến sĩ chúng tôi. Sống giữa rừng sâu ăn uống thiếu thốn làm việc vất vả. Tôi và Đam mỗi người về một đơn vị khác nhau. Hôm đi công tác qua Tiểu đoàn 1, tôi tạt vào thăm thằng Đam vẫn thấy trên giá ba lô chỗ nó nằm những cuốn sách ôn thi đại học đã sờn gáy. Thì ra, nó vẫn không quên việc học tập. Hình như đối với nó học là một niềm vui hy vọng của cuộc sống.

Niềm hy vọng vào đại học của thằng Đam lại không thể thực hiện được khi chiến tranh biên giới đang có nguy cơ nổ ra bất cứ lúc nào. Tôi còn nhớ bữa còn ở bản Nà Cháo, một buổi tối, tôi đang nằm nghỉ sau một ngày đào hầm xây dựng trận địa thì thằng Đam ở đâu về. Nó đưa cho tôi hơn chục miếng bìa cứng có những ký hiệu bằng chữ và số được để trong túi giấy bóng kính cẩn thận. Nó bảo:
- Đây là mã số của từng người trong tiểu đội vô tuyến. Mày nhớ dặn mọi người luôn luôn để trong túi áo nhé! Phòng khi...
Nghe thằng Đam nói tôi hiểu. Những tấm bìa này ghi mã số của từng người để khi ai hy sinh thì chôn theo, sau này còn biết danh tính liệt sĩ. Nếu tôi nhớ không nhầm thì mã số của tôi ngày ấy là JA-301.
Hôm ấy, sau khi đưa cho tôi những miếng bìa ghi mã số để đánh dấu mộ chí khi cần thiết xong thằng Đam bỗng thần mặt ra một lúc rồi hỏi:
- Không biết sau trận này mình có được ra quân về đi học tiếp không nhỉ?
- Chắc chắn rồi! Mày cứ yên tâm...
Tôi an ủi nó nhưng chính tôi cũng không tin ở lời mình lắm.

Tối hôm nay, thằng Đam lại nói về chuyện học hành. Tôi thấy thương nó quá. Tôi mong chiến tranh sẽ không bao giờ xảy ra để những người lính ham học như thằng Đam còn có được cơ hội bước vào giảng đường đại học...

(còn nữa) Hà Nội, tháng 2-2020



CAO BẰNG - 1979 (phần 5)
Ghi chép của Trọng Bảo


Đêm đã về khuya. Anh em trong tiểu đội đã ngủ yên. Mấy người đi đổi gác. Tôi mở cuốn sổ nhỏ ra soi đèn pin ghi chép tóm tắt tình hình trong ngày. Hôm nay đã là ngày 16-2-1979. Vậy là chúng tôi đã có mặt ở biên giới gần sáu tháng rồi. Cuốn sổ ghi chép của tôi đã ghi được rất nhiều sự kiện, nhiều chuyện buồn, chuyện vui ở nơi tuyến đầu này. Những kỷ niệm tháng ngày quân ngũ gian khổ như cộm lên trên từng trang giấy. Chiến tranh đang chờ đợi ở phía trước, cánh lính tráng ở nơi tuyến đầu chúng tôi chưa biết tương lai rồi sẽ như thế nào?
Khi tôi vừa ngả người xuống sàn nhà định chợp mắt một lát thì trung đội trưởng Phạm Hoa Mùi chạy đến gọi dậy và ra lệnh rất gấp gáp:
- Tiểu đội vô tuyến triển khai ngay các tổ đài xuống các đơn vị! Khẩn trương lên. Đúng 12 giờ đêm phải thông mạng liên lạc vô tuyến điện. Rõ chưa?
Tôi vừa dụi mắt vừa hỏi lại Mùi:
- Lại báo động kiểm tra phương án sẵn sàng chiến đấu như những lần trước à?
- Kiểm tra gì? Mệnh lệnh chiến đấu thật đấy… - Mùi hạ giọng nói tiếp: - Trinh sát bám đường biên vừa báo cáo về: Bọn Trung Quốc đã cắt phá hàng chục mét rào dây thép gai của ta trên tuyến biên giới chỗ gần cửa khẩu Bình Mãng. Bọn chúng cũng lùa, xua đuổi gần chục con trâu sang đất ta để phát hiện bãi mìn rồi. Rất có khả năng bọn chúng sẽ tấn công chúng ta đêm nay đấy… Ông cho triển khai mạng liên lạc vô tuyến điện thật khẩn trương nhé!
- Rõ rồi! Trung đội trưởng cứ yên tâm!
Tôi đáp và lập tức gọi anh em trong tiểu đội dậy giao nhiệm vụ mang máy vô tuyến xuống ngay các đại đội. Đã có phương án sẵn sàng chiến đấu nên các tổ đài lập tức lên đường ngay. Tiểu đội phó Vũ Văn Tự và Hoàng Quy xuống chốt Đại đội 10, Nguyễn Văn Châu và Hoàng Văn Phủng lên chốt của Đại đội 11, Trần Đức Đình và Phùng Văn Minh lên trận địa Đại đội 12 hỏa lực trên đỉnh núi đá. Nguyễn Văn Kếch và một chiến sĩ sang Đại đội 9. Tại sở chỉ huy tiểu đoàn chỉ còn tôi và chiến sĩ Hoàng Văn Mông.
Anh em chiến sĩ nhanh chóng lên đường làm nhiệm vụ. Hình như ai cũng hiểu tình hình khẩn trương lắm rồi. Trong khi chờ anh em triển khai lên trận địa của các đơn vị tôi dặn chiến sĩ Mông trực canh liên lạc rồi đeo súng nhảy xuống cầu thang nhà sàn đi ra con đường phía trước bản Cốc Vường ngược lên cửa khẩu Bình Mãng. Gặp thằng Tuất, tiểu đội trưởng ở trung đội vận tải, tôi hỏi:
- Tình hình thế nào rồi! Bọn mày đi đâu mà ba lô đeo gì nặng thế?
Nhận ra tôi, thằng Tuất vừa nói vừa thở vì đeo nặng:
- Có lẽ sắp đánh nhau thật rồi anh ạ! Bọn em đang gùi thuốc nổ lên cho công binh phá đường chặn xe tăng của bọn địch đây...
Thằng Tuất nói xong rảo bước đi luôn. Tôi nhìn theo cánh lính vận tải đang gùi thuốc nổ lên hướng biên giới mà trong lòng thấy thấp thỏm, ngổn ngang bao điều. Phía thị trấn bên kia biên giới đèn điện vẫn sáng rực, lấp lánh. Đêm nay biên cương sao có vẻ yên ắng hơn mọi đêm. Tôi có biết đâu chỉ vài tiếng nữa nơi đây sẽ vô cùng dữ dội, ác liệt. Cơn lũ xâm lược của bọn bành trướng sẽ tràn sang nước ta, tàn phá nơi mảnh đất địa đầu Tổ quốc Việt Nam...
Gần 12 giờ đêm, các tổ đài đã gọi về báo cáo đã đến đơn vị. Mạng liên lạc vô tuyến điện sóng cực ngắn trong tiểu đoàn đã được thông suốt. Tôi thấy yên tâm vì trong đêm tối các chiến sĩ của mình vẫn đến được các đơn vị an toàn tuyệt đối. Tôi lo nhất là tổ đài của Đình và Minh đêm tối phải leo dốc lên trận địa của Đại đội 12 trên núi cao. Con đường độc đạo lên núi cheo leo, có đoạn chỉ vừa bàn chân người đi, một bên là vách đá, một bên là vực sâu người và máy móc, vũ khí dễ mất an toàn, hỏng hóc. Tôi dặn dò các tổ đài phải luôn đảm bảo canh trực, khi tình huống chiến đấu xảy ra phải kiên quyết giữ vững thông tin liên lạc phục vụ chỉ huy tác chiến. Đoạn, tôi chạy đi báo cáo tình hình với trung đội trưởng và chỉ huy tiểu đoàn. Xong xuôi quay về nhà thì đã hơn một giờ sáng ngày 17-2. Mệt mỏi và buồn ngủ quá. Tôi ngả lưng xuống sàn kéo chăn đắp cho đỡ lạnh rồi ngủ thiếp đi.
Vừa chợp mắt được một lát thì tôi bất chợt giật nảy mình tỉnh giấc bởi hàng loạt tiếng nổ ầm ầm rất lớn. Ngôi nhà sàn tôi đang nằm rung chuyển. Tôi lẩm bẩm chửi: "Mẹ cha thằng Tàu khựa! Sao hôm nay chúng mày nổ mìn phá đá làm hầm hào công sự sớm thế, không để các ông mày ngủ một lát à?". Khi tôi vừa kéo cái chăn bông trùm kín đầu định ngủ tiếp thì nghe tiếng trung đội trưởng Phạm Hoa Mùi quát rất to ở ngay dưới gầm nhà sàn:
- Bảo ơi dậy đi! Bọn Trung Quốc đánh đến nơi rồi mà mày vẫn còn ngủ à?
Nghe thấy thế tôi vội vàng bật ngay dậy. Tôi vớ lấy khẩu AK, khoác ba lô lên vai lao ra ngoài sàn nhà. Một chùm đạn pháo nổ gần làm ngôi nhà chao đảo khiển tôi hơi loạng choạng.
Bầu trời đêm sáng rực. Những luồng đạn pháo từ phía bên kia biên giới bắn sang xé toạc màn đêm ken dày đặc trên trời. Bọn xâm lược Trung Quốc đã nổ súng tấn công nước ta thật rồi vậy mà lúc nãy tôi còn nghĩ bọn chúng nổ mìn phá đá làm hầm hào công sự như mọi bữa. Tiếng súng pháo nổ râm ran, tiếng đường đạn rít lên bay rất gần, rất thấp, ánh chớp lửa bùng lên khắp xung quanh làm tôi hơi hoảng. Tội vội mở khóa nòng khẩu AK lên đạn vì tưởng bộ binh của địch cũng đang tràn đến. Nhưng rồi tôi trấn tĩnh lại được ngay. Tôi nghĩ đến việc phải đảm bảo thông tin thông suốt nhanh chóng cho việc chỉ huy chiến đấu. Tôi nhảy ào xuống đất. Chiến sĩ Mông cũng đeo chiếc máy thông tin vô tuyến 884 nhảy theo.
Trung đội trưởng Phạm Hoa Mùi tiếp tục gào to để tôi nghe rõ mệnh lệnh vì tiếng đạn pháo của bọn Trung Quốc nổ ầm ầm át cả tiếng người:
- Ra ngay hang Ma Gà! Vị trí của chỉ huy tiểu đoàn ở đấy. Khẩn trương triển khai thông tin phục vụ chỉ huy chiến đấu! Rõ chưa?
- Báo cáo, rõ...
Tôi cũng gào lên đáp lại rồi cùng chiến sĩ thông tin lao về hướng hang Ma Gà, nơi đặt sở chỉ huy chiến đấu của Tiểu đoàn 3.
Chúng tôi vừa chạy gằn, vừa bò từng đoạn. Nhiều khi phải nằm ép người lết dưới lòng con mương dẫn nước, nấp sau các bờ ruộng cao trên cánh đồng trống trải để tránh làn đạn từ phía bên kia biên giới bắn sang và cố gắng cơ động thật nhanh về vị trí chỉ huy của tiểu đoàn.
Trung đội trưởng Phạm Hoa Mùi chạy ở phía trước. Vừa chạy anh vừa quan sát, nghe tiếng pháo đầu nòng và liên tục gào lên bảo chúng tôi nằm xuống tránh đạn. Mịt mù khói lửa, tiếng nổ râm ran. Đạn pháo của địch bắt đầu bắn vào bản Cốc Vường, lửa cháy rừng rực. Chiến tranh tôi chưa từng trải qua nên chả biết pháo nó bắn thế nào, tiếng nổ đầu nòng, tiếng quả đạn rơi gần rú rít ra sao mà trú tránh, lúc nằm bẹp xuống mặt ruộng thì chả có quả pháo nào bắn tới, lúc vừa đứng dậy chạy thì nó nổ oành oành ngay trước mặt. Tôi giục người chiến sĩ của mình:
- Cứ chạy đi, pháo của nó đang bắn vào sâu trong đất ta. Chúng ta ở gần sát đường biên nó chưa bắn đâu mà sợ!
Tôi không nằm bò nữa mà cứ thế chạy về hướng hang Ma Gà mặc kệ tiếng nổ râm ran xung quanh.
Bầu trời một vùng biên giới sáng rực lên như ban ngày bởi những luồng lửa đạn của quân thù. Những luồng đạn giặc bay xé nát cả màn đêm. Tiếng đạn pháo quân thù đinh tai, chói óc, tiếng đạn súng 12ly7 từ trên mỏm núi cao ăn sâu vào đất ta bắt đầu quét ràn rạt trên cánh đồng các bản Cốc Vường, Cốc Nghịu. Tiếng nổ của đạn súng 12ly7 đáng sợ hơn cả tiếng pháo. Trong các bản làng tiếng người nháo nhác gào gọi nhau thảm thiết, tiếng kêu khóc hoảng loạn của những người dân chưa kịp đi sơ tán. Tiếng chó sủa, gà kêu, bò rống tan tác, vỡ đàn. Tiếng tre nứa nổ lốp bốp từ những ngôi nhà trúng đạn đang bốc cháy rần rật.
Mọi thứ âm thanh hỗn độn hoà vào nhau trong khói lửa, mùi thuốc súng và cát bụi mù mịt. Đó là cảnh giờ phút đầu tiên của cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc mà tôi đã được chứng kiến. Một cuộc chiến không thể lãng quên trong tâm trí của bao nhiêu người lính biên cương...
(còn nữa) Hà Nội, tháng 2-2020


Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

Ghi chép CAO BẰNG - 1979 (phần 3)

CAO BẰNG - 1979 (phần 3)
Ghi chép của Trọng Bảo

Sau tết âm lịch xảy ra một vụ việc rất nghiêm trọng. Bọn Trung Quốc bất ngờ nổ súng vào lực lượng tuần tra biên giới của ta tại khu vực cột mốc 115. Hai chiến sĩ trinh sát hy sinh, một đồng chí bị thương. Việc ứng cứu, đưa các chiến sĩ hy sinh và bị thương từ vị trí xảy ra chạm súng về tuyến sau rất khó khăn. Địa hình khu vực này bọn địch có tầm quan sát rộng, lại có các điểm cao của chúng sát biên giới khống chế cả một vùng rộng lớn xung quanh. Chúng ta đưa lực lượng lên ngay sẽ tiếp tục bị tổn thất.
Đến nửa đêm, ta mới đưa được các chiến sĩ trong tổ tuần tra hy sinh và bị thương về phía sau. Họ là những người lính đầu tiên ngã xuống trong chiến tranh biên giới phía Bắc ở khu vực Hà Quảng, Cao Bằng. Không khí tang thương chết chóc bao trùm khắp các đơn vị và các bản làng khu vực thị trấn Sóc Giang, xã Sóc Hà. Lễ truy điệu các đồng chí hy sinh được tiến hành ngay ngày hôm sau trong không khí ảm đạm. Tôi nhìn trong ánh mắt của những người lính, người dân không thấy sự sợ hãi, chỉ thấy ánh lên nỗi đau thương, sự căm thù và có đôi chút lo lắng. Trong thời điểm này chúng tôi hầu như ai cũng đều lo lắng. Chúng tôi lo không giữ nổi trận địa trước “biển người” của bọn xâm lược, lo lắng cho nhân dân còn đang sinh sống ở gần tuyến đầu biên giới.
Nhân dân, thanh niên từ phía sau cũng không còn kéo lên đường biên củng cố hàng rào, đào hố cắm chông nữa. Chuyện ném đá, đánh nhau bằng gậy gộc của cả hai bên đều chấm dứt, chuẩn bị cho một cuộc đấu súng thực sự. Trạm kiểm soát của công an vũ trang cửa khẩu Bình Mãng đã rút hết lực lượng về phía sau. Nhân dân các bản gần đường biên được yêu cầu đi sơ tán triệt để. Tôi chợt thấy lạnh lòng khi nhìn cảnh người dân lam lũ gồng gánh đồ đạc, dắt díu trẻ con, lùa trâu bò đi xuôi về phía sau, bộ đội lầm lũi vác súng đạn ngược lên phía trước. Đất nước mình nghèo quá nhưng biết đến bao giờ mới hết cảnh loạn lạc như thế này? Không khí chiến tranh đã thực sự nóng lên từng ngày. Tình hình căng thẳng như một sợi dây đàn tăng quá cỡ sắp đứt phựt. Cánh lính chúng tôi không còn dám đi lại lung tung nữa. Mỗi lần có nhiệm vụ lên sát đường biên phải hết sức thận trọng, đi dưới chiến hào, trong khe núi đá hay dưới lòng suối tránh tầm quan sát trên các điểm cao của bọn giặc.
Sau vụ việc này, bọn Tàu vẫn không ngừng khiêu khích. Bọn chúng liên tục bắn súng sang và tăng cường phá hoại các tuyến rào phòng thủ của chúng ta. Đường biên vắng lặng không một bóng người nhưng đâu đó sau các mô đá, dưới lòng mương, cạnh bờ ruộng vẫn có những người lính luôn dõi mắt cảnh giác về phía quân thù. Chúng tôi vẫn thường xuyên có mặt trên tuyến đường biên giới củng cố đường dây thông tin, đảm bảo liên lạc bằng vô tuyến điện tại trận địa tiền tiêu của Đại đội 11 ở chốt hai cây đa sát cửa khẩu Bình Mãng.
Bản Nà Sác nằm sát đường biên nên khi tình hình căng thẳng, nhiều hộ dân đã đi sơ tán. Lúc dừng chuẩn bị bữa trưa, chúng tôi phải vào một nhà ở cách biệt tận trong hõm núi mới có người còn ở lại để nhờ nấu cơm. Nhà chỉ có hai cô gái. Cô chị tên là Kim chưa đầy hai mươi, cô em tên là Ngân mới mười bảy tuổi. Họ đều là dân quân ở lại bám bản. Trung đội trưởng Phạm Hoa Mùi chắc đã biết rõ về gia đình này. Anh ra hiệu cho tôi không được hỏi thăm gia cảnh của họ. Hai chị em giành việc nấu cơm giúp chúng tôi. Tôi gỡ nắp ba lô đưa cho họ bao gạo và túi thức ăn gồm hộp thịt và bó rau.
Bữa cơm dọn ra, cơm gạo mới thơm phức, lại có cả thịt gà nữa. Hai chị em cùng ăn với chúng tôi. Họ ngồi ở đầu nồi xới cơm. Quả là hai cô gái rất đẹp. Con gái Tày đã đẹp lại thường có nước da rất trắng và đôi mắt sáng long lanh như ngọc. Suốt bữa, chị em Kim, Ngân ăn rất ít, họ lo tiếp thức ăn cho chúng tôi. Chúng tôi vui vẻ nói chuyện. Nhưng tôi vẫn nhận ra nét mặt, nhất là trong đôi mắt của hai chị em họ phảng phất ẩn chứa một nỗi buồn sâu thẳm.
Ăn cơm xong, chúng tôi lại tiếp tục lên đường.
Hai chị em Kim, Ngân khoác ba lô của chúng tôi tiễn ra tận đầu dốc. Nhận chiếc ba lô của mình từ tay bé Ngân tôi nhận thấy bao gạo buộc tên nắp ba lô vẫn còn nguyên.
Dọc đường, Mùi mới kể lại cho tôi nghe câu chuyện về hai chị em họ. Đó là một gia đình có những khoảng thời gian tràn ngập hạnh phúc. Nhà họ ngày xưa ở giữa bản, trâu ngựa, lợn gà đầy sân, thóc lúa đầy sàn. Hai cô con gái càng lớn, càng xinh đẹp. Đêm đêm bóng trai bản rập rình ngoài ngõ. Chẳng phải bỏ bùa yêu mà mãi tận những bản xa cũng có lũ con trai kéo đến thổi kèn lá gọi bạn thâu đêm ngoài bờ rào. Ông bố của hai nàng phải đốt đuốc, gõ ống bương lốp cốp để xua bọn con trai si tình. Ông muốn để hai con học hành đến nơi, đến chốn.
Nhưng rồi tai hoạ đổ xuống đầu họ. Sau một lần khám bệnh, đoàn y tế trên tỉnh về phát hiện ông bố có triệu chứng của bệnh phong. Ở vùng nũi xa xôi hẻo lánh này tin đó như một tiếng sét đánh gãy thân cây cổ thụ. Dân bản xa lánh dần, trai tráng không còn dập dìu trước ngõ nữa. Khi người ta xác định đúng là ông bố bị bệnh phong thì hai chị em Kim, Ngân không còn dám đến lớp nữa. Bệnh hủi khiến nhiều người ghê tởm, xua đuổi. Đêm đêm, người ta ném gà chết, chó mèo chết vào nhà. Gia đình họ phải dỡ nhà, khênh từng cây cột, cái kèo vào hẻm núi. Ông bố cố gắng dựng lại ngôi nhà cho vợ và hai con gái trước khi được gọi đi tập trung chữa bệnh ở một trại phong mãi dưới xuôi.
- Chuyện là như vậy đấy! - Phạm Hoa Mùi vừa xốc lại ba lô vừa hỏi tôi: - Ông có thấy sợ không?
Biết là bệnh phong không lây, không di truyền nhưng vốn là người yếu bóng vía nên tôi cũng thấy hơi sờ sợ. Ở quê tôi người ta thường rất sợ căn bệnh này. Bố tôi đã hơn trăm tuổi. Ông thường kể cho tôi nghe chuyện ngày trước ở làng bên có một người bị bệnh hủi. Dân làng phát hiện xa lánh, họ muốn đuổi cả nhà người có bệnh đi khỏi làng. Nhất là khi người bệnh đã phát nặng mặt mũi sù sì, chân tay co quắp phá mủ chảy nước vàng hôi thối. Trước cảnh ngày nào dân làng cũng xua đuổi, lý trưởng, chánh tổng phạt vạ, uy hiếp, những người con của người bệnh đã phải đi đến một quyết định khủng khiếp nhất. Họ mổ gà, giết lợn làm cơm cho ông ăn. Sau bữa cơm li biệt ấy, người con cả chủ trì lễ tế sống bố. Họ để ông ngồi trên sập rồi vái lạy. Đến tối, cả nhà gạt nước mắt đưa ông lên chiếc thuyền nan nhỏ. Nước lũ từ thượng nguồn sông Đáy đang đổ về cuồn cuộn. Con thuyền nhỏ của những đứa con trong lòng rỉ máu ấy đưa ông bố tật bệnh ra một chiếc chòi nhỏ trên bãi bồi giữa sông. Họ để ông bố ở đấy rồi thả thuyền xuôi về phía hạ lưu chờ. Nước dâng ngập bãi bồi, dìm chết người cha bị bệnh hủi. Dân chài lưới phía hạ lưu giúp những người con tìm xác ông bố bị lũ cuốn trôi xuôi. Khi còn nhỏ tôi cũng thường nghe chuyện người hủi chết huyệt phải đào sâu bốn mét đổ vôi bột sống xuống rồi mới hạ quan tài, rắc thêm vôi bột lên trên xong mới lấp. Mả hủi thường phải chôn rất xa những ngôi mộ khác.
Phạm Hoa Mùi còn kể cho tôi nhiều chuyện buồn của hai chị em Kim. Ngân. Họ không còn bạn bè, xóm giềng. Hai chị em lớn lên như hai bông hoa tươi tắn, xinh đẹp nhưng không một chàng trai nào đến tìm nữa. Họ phải lên núi cao tìm chỗ làm nương trỉa ngô. Nỗi đau cô đơn của họ thật là khủng khiếp. Người mẹ của họ đau buồn rồi ốm chết.
Một buổi tối, hai chị em vừa chuẩn bị đi ngủ thì có tiếng chân bước lên sàn. Hai chị em hoảng sợ ôm chặt lấy nhau. Bởi vì đã rất lâu không còn có ai dám vào nhà họ nữa. Có tiếng gọi nhỏ: “Các con ơi!”. Bé Ngân reo lên: “Bố! Bố về...”. Họ mở cửa đón bố. Biết tin vợ chết, ông trốn trại phong tìm về nhà. Hai đứa con vừa khóc vừa nấu cơm nếp, làm thịt gà cho bố ăn, gói cho bố đem đi đường. Họ van xin: “Bố phải ra đi ngay trong đêm, ngày mai sáng ra dân bản mà nhìn thấy sẽ xua đuổi, sẽ hắt hủi chúng con...” Ông nhìn hai đứa con gái nước mắt ròng ròng. Ông ra đi rồi biệt tích từ đó. Có tin đồn ông đã chết đuối ở sông Bằng khi trèo mảng qua sông giữa đêm. Lại có người bảo ông đã lấy một người đàn bà cùng cảnh ngộ rồi được trợ giúp làm nhà chữa khỏi bệnh và ở ngay trong khu trại phong.
Sau này, khi cuộc chiến tranh biên giới nổ ra, hai chị em Kim, Ngân vẫn ở lại. Họ vác đạn lên trận địa, đưa thương binh về tuyến sau. Hơn chục ngày giao chiến với kẻ địch đông và mạnh ở thị trấn, chúng tôi rút lui lên núi. Đơn vị chia làm nhiều mũi đột phá vòng vây để rút đi. Lên đến Lũng Vỉ, bất ngờ tôi gặp Ngân. Cô bé súng khoác trên vai chững chạc, dày dặn hẳn lên. Tôi hỏi ngay:
- Hai chị em thế nào rồi?
Ngân bật khóc:
- Chị Kim em chết rồi! Bọn địch phát hiện chị ấy chạy ra bờ suối đánh lạc hướng để cứu thương binh. Khi chúng xông đến định bắt sống thì chị ấy đã cho nổ quả lựu đạn...
Tôi cầm tay Ngân, muốn an ủi cô bé nhưng chẳng biết nói thế nào...
(còn nữa) Hà Nội, tháng 2-2020

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2020

Ghi chép CAO BẰNG - 1979 (phần 2)

CAO BẰNG - 1979 (phần 2)
Ghi chép của Trọng Bảo 

Liên tiếp những cuộc xung đột giữa hai bên nổ ra. Bọn côn đồ phía bên kia ném đá, tấn công bằng gậy gộc, bắn cung tên vào dân ta đang rào biên giới. Ta tổ chức ném đá, dùng gậy gộc chống trả, đánh lại. Nhiều người dân, người lính vỡ đầu, mẻ trán, bị thương bởi các loại vũ khí thô sơ như thế trong thời gian tiền chiến như vậy. Chiến tranh chưa nổ ra nhưng xung đột đã lan rộng. Việt Nam và Trung Quốc đều đã sẵn sàng cho một cuộc đối đầu nảy lửa. Bọn bành trướng quyết tâm xâm lược, còn chúng ta thì quyết tâm bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc. Mâu thuẫn không thể dung hòa nên chiến tranh xảy ra là điều khó tránh khỏi, chỉ sớm hay muộn mà thôi. Súng pháo của hai bên đều đã lấy tầm bắn, xác định sẵn mục tiêu, đạn đã lên nòng rồi.
Tôi hiểu chiến tranh đang đến rất gần. Song, tôi vẫn mong chiến tranh đừng bao giờ xảy ra. Bởi nếu chiến tranh nổ ra một "cơn lũ xâm lược" vô cùng tàn khốc từ phía bên kia biên giới sẽ tràn sang tàn phá, giết chóc đến tận cùng nơi biên ải này. Những người lính phía trước chúng tôi sẽ chỉ là những người lính cảm tử quân vô cùng nhỏ nhoi ở nơi đầu cơn lũ lớn.
Thị trấn Sóc Giang ngày ấy nhìn đâu cũng thấy màu áo lính. Người dân ở đây cũng rất nghèo, cũng còn thiếu đói. Nhưng tôi nhớ mãi một chuyện gặp ở chợ Sóc Giang. Hôm đó đơn vị chúng tôi triển khai mạng thông tin lên trận địa. Được thanh toán tiền ăn, mấy anh em trong tiểu đội kéo nhau vào chợ mua cân thịt lợn cải thiện thêm bữa ăn. Khi tôi hỏi giá, bà bán thịt lợn bảo tôi:
- Một cân bán cho dân hai mươi đồng, bán cho bộ đội chỉ lấy mười tám đồng thôi! (Không biết tôi có nhớ chính xác trị giá đồng tiền ngày ấy không?)
Tôi ngạc nhiên hỏi lại:
- Tại sao lại thế ạ?
Bà bán hàng người dân tộc cười nói rất tự nhiên:
- Chả tại sao cả! Cái gì bán cho bộ đội cũng cứ thấp hơn, rẻ hơn thế đấy!
Thì ra ở chợ có một quy định không thành văn là hàng hoá bán cho bộ đội đều thấp hơn so với bán cho người khác từ 15 đến 20%. Mà có điều lạ là chả ai phổ biến, quán triệt nhưng bà con dân tộc đem hàng ra chợ ai cũng làm như vậy. Và không ai từ chối khi bộ đội hỏi mua hàng. Quy định bất thành văn đó chính là lòng dân thương yêu bộ đội mà có. Một lần đi công tác dừng lại nấu cơm dọc đường, thấy vườn đu đủ trên sườn núi trĩu quả, tôi hỏi mua, ông chủ vườn bảo: “Chú cứ lấy mà ăn! Để lại cái hạt là được”. Thì ra ở đây dân họ bảo nhau không được bán, chỉ cho bộ đội thôi. Đu đủ chín đầy vườn bộ đội muốn ăn thì cứ lấy, ăn xong nhớ để lại cái hạt cho những cây mới tiếp tục mọc lên. Tôi còn nhớ một lần lên sát biên giới gặp một cụ già đang ngồi vót chông ở bản Nà Sác, tôi hỏi: “Ông không đi sơ tán ạ?”, thì cụ bảo: “Chúng mày ở mãi tận dưới xuôi còn lên tận đây giữ đất, chúng tao ở đây lại bỏ đi à? Đất của mình thì mình phải ở, phải giữ bằng được chứ, sao lại bỏ đi?”. Câu nói của cụ già giản dị nhưng đó là một lẽ sống, một chân lý của người Việt ta có tự ngàn đời nay.
Chính nhờ lòng dân như vậy đã giúp chúng tôi đứng vững trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương của Tổ quốc. Trong những trận đánh ác liệt giữ từng tấc đất thiêng liêng nơi biên giới ấy có bao người dân đã ngã xuống giữa chiến hào cùng những người lính. Từ thời phong kiến xa xưa, các vua quan nước Việt từng coi dân bản xứ nơi biên ải luôn như là những người lính tiền tiêu trấn giữ biên thùy của đất nước...
Tình hình mỗi ngày một thêm căng thẳng. Sắp đến Tết âm lịch nhưng trời còn rét lắm. Cái rét biên thùy cắt thịt da. Tiểu đoàn 3 chúng tôi tổ chức đón tết sớm cho bộ đội. Bánh chưng đang gói đã có lệnh báo động lên trận địa. Vị trí chỉ huy tiền phương của tiểu đoàn rời khỏi bản Nà Cháo dâng lên gần thị trấn Sóc Giang đặt trong hang dãy núi đá nằm bên trái cánh đồng kéo dài từ cửa khẩu Bình Mãng xuống tận xã Quý Quân.
Phía bên kia cánh đồng là bản Nà Nghiềng, nơi đã sinh ra vị cách mạng tiền bối là ông Lê Quảng Ba, người đón Bác Hồ về Pác Bó năm 1941 và một vị tướng tài của quân đội là tướng Đàm Quang Trung, Tư lệnh Quân khu 1 (sau này ông là thượng tướng và là phó chủ tịch Hội đồng nhà nước). Hiện thì bà chị gái của tướng Đàm Quang Trung vẫn ở bản Nà Nghiềng. Khi quân Trung Quốc tràn sang bộ đội phải đến đưa bà và dân bản rút chạy lên núi. Tướng Đàm Quang Trung hay về thăm quê và đi kiểm tra các đơn vị biên giới một cách rất khác thường. Một lần, ông bị các chiến sĩ trinh sát Tiểu đoàn 3 vây bắt khi nửa đêm mặc quần đùi áo lót soi ếch ở cánh đồng gần một điểm chốt. Họ lập tức dẫn giải ông về giao nộp cho chỉ huy tiểu đoàn vì nghi ngờ là thám báo Trung Quốc mò sang trinh sát trận địa của ta. Tại nhà ban chỉ huy Tiểu đoàn 3, khi một ông người dân tộc, dáng vẻ nông dân chân đất, một tay cầm đèn pin, một tay xách xâu ếch được dẫn giải vào, tiểu đoàn trưởng Trần Tất Thiêm và chính trị viên Hoàng Quốc Doanh bị một phen hoảng hồn vì thấy quân lính của mình đã “bắt sống” được tư lệnh quân khu. Nhưng tướng Đàm Quang Trung thì lại khen ngợi: “Quân lính của các ông có ý thức cảnh giác cao như thế là rất tốt chỉ phải cái là chửi bậy và nói tục quá!”. Lúc nãy, trên đường dẫn giải ông về sở chỉ huy tiểu đoàn vì nghi ngờ ông chính là thám báo nên mấy chiến sĩ đã quát tháo, văng tục chửi bọn bành trướng...
Hang chỉ huy tiểu đoàn có rất nhiều ngõ ngách và sâu thăm thẳm. Gần cửa hang có một khoảng trống rộng, nhũ đá nhấp nhô rất đẹp. Ban chỉ huy tiểu đoàn và cơ quan tiểu đoàn bộ ở ngay gần cửa hang để tiện cơ động. Chúng tôi dùng dây thông tin kéo điện từ thị trấn Sóc Giang vượt qua cánh đồng vào hang thắp sáng. Khi sinh hoạt cơ quan tiểu đoàn bộ, chúng tôi ngồi trên các gộp đá, bên cạnh các nhũ đá để nghe quán triệt nhiệm vụ. Trong ánh đèn điện lung linh, mờ ảo trông những người lính chiến chẳng khác gì các tượng phật đang ngồi trên đài sen.
Phía trước cửa hang đá sở chỉ huy của Tiểu đoàn 3 là một con suối nhỏ chảy xuôi về phía bản Nà Cháo. Chúng tôi dọn dẹp biến dòng suối thành một chiến hào cơ động để đi lại mỗi khi về bản Nà Cháo lấy cơm hay lấy đạn, lương thực. Việc nấu nướng của cơ quan tiểu đoàn bộ vẫn ở bản Nà Cháo vì vị trí chỉ huy mới chỉ là một sườn núi đá trơ trụi không có chỗ làm bếp.
Công tác chuẩn bị chiến đấu ngày càng khẩn trương. Một bữa, quân nhu tiểu đoàn cấp phát cho mỗi tiểu đội hai cuộn vải còn mới tinh. Đó là những tấm vải chuyên dùng để gói liệt sĩ khi chôn cất. Tấm vải mỏng gần giống cái vỏ chăn đơn nhưng người ta chỉ may kín hai cạnh liền nhau, để hở hai cạnh còn lại. Trên từng tấm vải liệm ấy có đính sẵn ba giải dây cũng may bằng vải ở giữa và ở hai đầu. Khi dùng khâm liệm liệt sĩ chỉ cần đặt thi thể vào gấp lại và dùng ba giải dây đó để bó buộc. Nghe tôi phổ biến "cách sử dụng" tấm vải liệm anh em trong tiểu đội có người tái mặt, người thì tìm cách lảng đi ngay. Không ai muốn giữ những tấm vải ấy sợ xui xẻo. Tôi đành giao cho tiểu đội phó Vũ Văn Tự giữ một tấm, tôi giữ một tấm vải liệm. Hai tấm vải liệm đó rồi cũng phải sử dụng hết. Chiến tranh là như vậy, biết làm thế nào khác được...
(còn nữa) Hà Nội, tháng 2-2020

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2020

Ghi chép CAO BẰNG - 1979 (phần 1)

CAO BẰNG - 1979 (phần 1)
Ghi chép của Trọng Bảo

Cuối năm 1978 chúng tôi đã có mặt ở Cao Bằng. Trung đoàn 246 được lệnh buông cuốc xẻng, dụng cụ lao động nhận vũ khí chiến đấu và lật cánh từ Hà Giang sang. Lên đến Cao Bằng, chúng tôi đóng quân ở xã Đức Long, huyện Hòa An. Tôi ở nhà ông Ngô Ngàn, Đại tá, Tỉnh đội phó Tỉnh đội Cao Bằng. Ngôi nhà của ông được làm theo phong cách truyền thống của người Tày Nùng. Trên vách nhà tôi thấy cái khung kính có một tờ quyết định do Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký phong quân hàm thiếu úy do cho ông Ngô Ngàn. Tờ quyết định to và trang trí y hệt một tấm bằng huân huy chương. Mấy hôm sau về thăm nhà gặp chúng tôi ông Ngô Ngàn vui vẻ bắt tay hỏi thăm gia cảnh, quê quán. Nhưng rồi tôi nhận thấy nét mặt ông chợt buồn. Là một người chỉ huy có lẽ ông không mong muốn chúng tôi phải lên Cao Bằng quê hương ông trong một tình huống như thế này. Ông bảo gia đình làm một bữa cơm thịnh soạn để "chiêu đãi" cánh lính chúng tôi. Lần đầu tiên tôi được biết đến vị ngon bùi của hạt dẻ Trùng Khánh hầm nhừ trong bát canh bữa cơm hôm ấy.
Thời gian ở Đức Long, theo chỉ thị của chỉ huy tiểu đoàn chúng tôi khẩn trương củng cố biên chế của trung đội thông tin Tiểu đoàn 3. Tôi được bổ nhiệm làm tiểu đội trưởng tiểu đội vô tuyến, Hà Trung Lợi, người Mường, quê ở Thanh Sơn, Phú Thọ là tiểu đội trưởng hữu tuyến, Nguyễn Văn Đam quê xã Như Thụy, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc là tiểu đội trưởng truyền đạt. Chuẩn úy Phạm Hoa Mùi đi học ở quân đoàn về làm trung đội trưởng. Thực ra cả bốn chúng tôi vốn dĩ đều là lính của Đại đội 17 Thông tin Trung đoàn 246 ngày còn đóng quân ở Đại Từ, Bắc Thái. Thời gian làm kinh tế mở đường ở Hà Giang mỗi thằng mỗi đơn vị khác nhau, khi lên Cao Bằng chiến đấu chúng tôi lại về cùng một trung đội. Tôi và Nguyễn Văn Đam còn cùng nhập ngũ một ngày vào vào "đợt vét" của cuộc chiến tranh chống Mỹ cuối tháng 2 năm 1975, cùng huấn luyện chiến sĩ mới tại Trung đoàn 121 tỉnh đội Vĩnh Phú dưới chân núi Đền Hùng, Phú Thọ. Tôi và Đam còn có cùng một thời gian vào nửa cuối năm 1976 đi học tại Trường Sĩ quan Thông tin mãi tận Hà Bắc rồi cùng bị "thải loại" do yếu sức khỏe phải trở về đơn vị cũ là Trung đoàn 246. Ấn tượng trong tôi là hình ảnh Nguyễn Văn Đam, một con người nhỏ bé nhưng rất ham học. Lúc nào trong ba lô của Đam cũng luôn có mấy cuốn sách giáo khoa lớp 10 để ôn tập mong một ngày ra quân để đi thi đại học. Hà Trung Lợi, Nguyễn Văn Đam và tôi đều mang quân hàm hạ sĩ. Trong và sau chiến tranh nhiều người được thăng quân hàm riêng tôi thì vẫn đeo quân hàm hạ sĩ cho đến khi rời khỏi Trung đoàn 246...
Theo lệnh của chỉ huy tiểu đoàn, chúng tôi tiến hành chọn lựa từ các đại đội bộ binh các chiến sĩ có trình độ văn hóa cao để đưa về trung đội thông tin của tiểu đoàn. Tôi xuống đại đội 11 là đơn vị cũ của mình xin Nguyễn Văn Trọng, nhập ngũ 11-1976. Trọng quê ở xã Kim Long, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Trọng trình độ văn hóa thấp, chưa học hết cấp 3, không đủ tiêu chuẩn về đơn vị chuyên môn kỹ thuật. Nhưng tôi cố tìm cách giải thích mấy lần đề nghị để chỉ huy tiểu đoàn chấp nhận điều động Trọng về trung đội thông tin. Đây có lẽ là lần duy nhất trong quãng thời gian được làm người chỉ huy tôi đã "lạm dụng" quyền hạn của mình để ưu ái cho một người chiến sĩ mà tôi quý mến. Thời gian còn làm đường ở Hà Giang, Nguyễn Văn Trọng là lính của tiểu đội do tôi phụ trách. Trọng là một chiến sĩ tốt, tính tình hiền lành, chịu khó, luôn hỗ trợ, giúp tôi trong nhiều việc. Thời gian sau nhờ sự cố gắng của mình Trọng đã được bổ nhiệm làm tiểu đội phó tiểu đội truyền đạt. Sau này chiến tranh xảy ra, khi tiểu đội trưởng hy sinh Trọng đã chỉ huy tiểu đội truyền đạt hoàn thành tốt nhiệm vụ đảm bảo thông tin liên lạc và trực tiếp tham gia chiến đấu rất dũng cảm. Tiểu đội phó tiểu đội vô tuyến của tôi là Vũ Văn Tự, tiểu đội phó tiểu đội hữu tuyến là Nguyễn Văn Bầu.
Tôi còn nhớ khi ở Đức Long ngày nghỉ đi chơi chợ Nước Hai (Hòa An) bất ngờ gặp trung úy Nguyễn Văn Thấu, chính trị viên Đại đội 7 thời còn làm đường ở Hà Giang bây giờ đang là cán bộ một đơn vị nữ. Tôi cũng gặp lại anh Nguyễn Ngọc Hương, trung đội trưởng cũ của mình thời cuốc đất ở Hà Giang. Anh Hương đã về phục viên. Anh mời tôi về nhà chơi. Nhà anh ở xã Hồng Việt, huyện Hòa An, từ trung tâm huyện phải đi bộ mấy tiếng mới đến. Anh Hương là một người có "hoa tay", giỏi kẻ vẽ, làm báo tường rất đẹp. Khi đến nhà anh tôi mới biết anh còn có một cô em gái rất xinh đẹp nữa. Sau này khi chiến tranh biên giới nổ ra anh tham gia chiến đấu trong hàng ngũ dân quân của địa phương và bị thương rất nặng.
Huấn luyện ở Hòa An chưa được bao lâu tiểu đoàn chúng tôi được lệnh hành quân lên Hà Quảng, áp sát đường biên giới. Tình hình ngày càng thêm căng thẳng. Bọn Trung Quốc đã dồn quân lên sát đường biên thì chúng ta cũng phải có mặt bên cột mốc để sẵn sàng đánh trả nếu chúng kéo quân tràn sang xâm lược Việt Nam. Đơn vị chúng tôi hành quân theo hướng qua Mỏ Sắt lên Quý Quân, Sóc Hà (Hà Quảng). Chúng tôi ở xã Quý Quân vài ngày rồi mới chuyển lên đóng quân ở bản Nà Liền thuộc xã Sóc Hà. Đơn vị vừa huấn luyện vừa tổ chức xây dựng công sự, trận địa.
Những tháng cuối năm 1978, dọc tuyến biên giới Cao Bằng tình hình vô cùng căng thẳng, nguy hiểm không khác gì một tổ ong sắp vỡ. Ta và địch đều tổ chức chuẩn bị đánh nhau ầm ĩ suốt ngày đêm. Đó là tiếng mìn của hai bên phá đá làm công sự, trận địa. Những cuộc tranh chấp biên giới nổ ra liên tiếp hằng ngày. Phía ta tiến hành rào biên giới bằng rào tre, rào nứa, bằng chông tre, chông sắt ở phía trước, giăng dây thép gai, gài mìn ở phía sau. Phía Trung Quốc cũng như vậy, bọn chúng cũng ráo riết rào biên giới, củng cố xây hầm hào, công sự, trận địa. Chúng tổ chức phá hủy hàng rào biên giới của ta, đẩy hàng rào của chúng sâu vào trong đất ta. Chúng nổ mìn phá đá suốt ngày đêm để xây lô cốt. Phía ta cũng ra sức chuẩn bị đối phó khi cuộc chiến tranh nổ ra. Con đường độc đạo từ cửa khẩu Bình Mãng xuống thị trấn Sóc Giang được đào hố đặt lượng thuốc nổ lớn sẵn sàng phá đường để ngăn cản xe cơ giới của bọn địch. Lực lượng công binh đào sẵn các lỗ đặt mìn chống tăng trên mặt đường. Bọn địch phá hàng rào biên giới thì chúng ta đưa dân và bộ đội lên rào lại, kiên quyết không cho chúng lấn chiếm một tấc đất của Tổ quốc. Bộ đội mặc thường phục để cùng nhân dân đi rào biên giới. Những ngày ấy, nhìn những đoàn xe chở chở tre, chông sắt từ phía sau lên biên giới tôi hiểu hậu phương đã phải bớt những cây tre làm nhà, chống bão, bớt sắt thép dùng đúc lưỡi cày, lưỡi cuốc để vót thành chông, rèn thành chông rào giậu biên cương chặn giặc...
(còn nữa) Hà Nội, tháng 2-2020

KÝ ỨC THÁNG HAI TRONG TÔI

KÝ ỨC THÁNG HAI TRONG TÔI

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và ngoài trời

Vậy là đã 41 năm rồi mỗi tháng hai về trong tôi lại dâng lên biết bao cảm xúc. Tôi không bao giờ quên tháng hai năm ấy (1979) cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc do quân xâm lược bành trướng Trung Quốc gây ra. Không quên những cảm xúc, hành động của mình trong ngày đầu tiên cuộc chiến khi chúng tôi đang ở sát ngay cửa khẩu Bình Mãng (Hà Quảng- Cao Bằng). Ngày chiến tranh đầu tiên ấy, có nhiều đồng đội, bạn bè của tôi đã ngã xuống. Họ đã mãi mãi giữ lại cho mình tuổi hai mươi trẻ trung, bất tử. Tôi nhớ không quên ngày 20-2-1979 giữa vòng vây trùng điệp của quân thù giữa thị trấn Sóc Giang chúng tôi đã chiến đấu kiên cường để chặn đứng quân thù, để chiến thắng và để sống sót. Trận đánh ngày hôm ấy Tiểu đoàn 3 chúng tôi chịu nhiều tổn thất, nhưng chiến thắng vẻ vang.
Tháng hai trong tôi còn là những ngày rút lui lên dãy núi đá giữa hai huyện Hà Quảng và Thông Nông với những đêm hành quân leo dốc đến kiệt sức, đói khát và bị quân thù truy kích ráo riết. Nhớ cái cảm giác bơ vơ, bi quan khi vượt vòng vây bị cắt đuôi, thất lạc khỏi đội hình đơn vị nhìn lại xung quanh mình chỉ còn vài chiến sĩ quần áo tả tơi, súng hết đạn, ba lô không còn lương thực. Nhớ những ngày chiến đấu, chia sẻ gian lao cùng anh em dân quân ở thung lũng Táp Ná, Thông Nông phải uống bát nước pha thuốc phiện để chữa bệnh trên đường tìm về đơn vị...
Thời gian vẫn dần trôi nhưng mỗi độ tháng hai ký ức trong tôi lại sống dậy những kỷ niệm chiến tranh không bao giờ quên ấy...
Hà Nội, ngày 10/2/2020
TRỌNG BẢO

Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2020

Truyện ngắn vui BUỒN CHO SỰ HỌC

BUỒN CHO SỰ HỌC
Truyện ngắn vui của Trọng Bảo

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang ngồi và trong nhà

Đường làng thưa vắng bóng người. Lũ trẻ con tiếp tục được nghỉ học nhưng chỉ chơi trong sân nhà ít chạy ra ngoài đường để đề phòng lây nhiễm dịch Corona. Khu chợ đầu làng cũng vắng hơn nhiều. Người ta mua nhanh, bán nhanh rồi về nhanh, tránh tụ tập đông người theo thông báo của xã. Ông Tô đi bộ ra đầu làng. Buôn bán thời dịch bệnh lờ lãi chả bao nhiêu nên bà Tô ở nhà quản lý mấy đứa cháu nội ngoại được nghỉ học.
Ông Tô ra nhà lão Cốc chơi. Lão Cốc cũng đang phải quản lý hai đứa cháu nội, một cháu ngoại nghỉ học ở nhà. Ba đứa trẻ đang dán mắt vào màn hình ti vi xem phim hoạt hình.
Ông Tô vừa cầm chén nước lão Cốc đưa cho vừa nói :
- Buồn cho cái "sự học" bây giờ quá ông ạ!
Lão Cốc gật gù :
- Đúng là buồn quá! Học sinh lại phải nghỉ thêm một tuần nữa đấy!
Ông Tô lắc đầu :
- Ý tôi không phải như vậy! Học sinh phải nghỉ học là do đề phòng dịch viêm phổi cấp lây lan. Đó là yếu tố khách quan và là cần thiết. Ý tôi nói là bây giờ nhiều người học hành cao, kiến thức đầy mình, toàn những y bác sĩ, dược sĩ vậy mà khi có dịch bệnh lại tìm cách găm hàng, gom hàng, nâng bán giá khẩu trang cao gấp hai ba lần, thậm chí gấp cả mười lần để thu lời đấy ông ạ!
Lão Cốc cũng bức xúc:
- Loại người ấy chỉ coi tiền là trên hết, xem thường tính mạng, hiểm nguy của con người, của đồng loại khi dịch bệnh xảy ra. Họ không đáng được coi là người có học…
Ông Tô trầm ngâm :
- Họ vẫn có học đấy nhưng họ không có tâm ông ạ!
- Có học gì mà không bằng một thằng bé lớp 3 dành hết số tiền được lì xì tết, một ông già nghèo ít học đem tiền tiết kiệm đi mua khẩu trang phát miễn phí cho người đi đường thế?
- Thì họ là… con buôn mà lại?
- Buôn bán cũng khối người khi xảy ra dịch bệnh thế này đem tiền mua khẩu trang phát miễn phí đấy!
Ông Tôi nói thêm :
- Đúng vậy. Tôi đọc báo, xem mạng xã hội thấy bọn người này kêu gọi nhau liên kết lại găm hàng không bán khẩu trang, nước rửa tay khử trùng đúng giá cho nhân dân đấy!
- Đúng là học nhiều mà hành động lại như kẻ vô học như thế, thật buồn quá… Nhưng thôi, đã có nhiều người bị xử phạt thích đáng rồi! Tôi thấy cái "sự học" còn có điều buồn hơn nữa ông ạ!
- Điều gì thế?
- Thì… ông không thấy cái ông tiến sĩ lý luận gì gì đó viết một bài báo chữ nghĩa lủng củng, ý tứ mù mịt, dư luận đang bàn tán xôn xao lên đấy à?
- À… cái ông tiến sĩ coi "đảng là một dân tộc" ấy à?
- Đúng rồi!
Ông Tô giải thích:
- Câu ấy không phải của ông ấy, mà là câu dịch thuật từ tiếng Đức ra tiếng ta không sát, không đúng nghĩa. Điều đáng buồn là cái ông tiến sĩ này rập khuôn máy móc, quen lối tầm chương trích cú, công thức, giáo điều, không phân biệt được đâu là ngôn từ chuẩn xác, thuần Việt nên mới bị dư luận xôn xao phê phán. Từ văn ngoại chuyển sang văn ta, từ văn ta dịch sang văn ngoại nhiều khi nó ngô nghê lắm, nếu không tỉnh thì mình cũng nghê ngô theo đấy. Ông không nghe chuyện có một anh Tây dịch hai câu thơ: "Gió đưa cành trúc la đà/ Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương" ra tiếng nước ngoài, khi dịch ngược trở lại tiếng Việt thì lại thành ra là: "Cuồng phong xô cành trúc/ Đổ xuống tà vẹt đường/ Vợ già đánh một hồi chuông/ Canh gà húp vội hóc xương mấy lần" đấy à?
Lão Cốc thích chí gật gù:
- Đúng là ông giáo biết nhiều thật. Nhưng còn cái ông tiến sĩ kinh tế phê phán chính phủ quy định "bắt các hiệu thuốc bán khẩu trang đúng giá là nông cạn, là dốt nát" cũng thật là đáng buồn, đáng lo hơn cho cái "sự học" ngày nay đấy ông ạ!
Ông Tô lại nói:
- Tôi thì lại nghĩ khác! Cái điều ông tiến sĩ lý luận kia viết ra mới đáng lo hơn. Vì ông ta ở cơ quan chiến lược, tầm vĩ mô, viết không chuẩn thì sẽ kéo theo hành động không chuẩn của cả một phong trào. Còn cái ông tiến sĩ kinh tế chỉ có ý kiến về một giải pháp ở tầm vi mô, về một sự việc cụ thể, vừa nói ra ai cũng biết là sai, chả ai làm theo nên ảnh hưởng không lớn. Chỉ buồn một điều là ông ấy học nhiều, trong đầu kiến thức khoa học thì nhiều mà ý thức xã hội thì lại quá ít thôi.
Lão Cốc bảo:
- Ông nói rất đúng! Bây giờ nước ta nhiều người học vị cao, nhiều tiến sĩ quá nhưng ít thấy có nhiều những công trình nghiên cứu giúp cho việc phát triển đất nước, ngược lại còn có những vị đưa ra những nghiên cứu gây rối rắm xã hội như ông tiến sĩ "chế tạo" ra loại chữ viết mới thay chữ quốc ngữ mà nếu áp dụng thì toàn dân ta sẽ trở thành mù chữ, rồi cái bà tiến sĩ ở trong nam phát minh ra sáng kiến đội lu hứng nước mưa chống lụt nhưng không nơi nào làm theo được… he… he…
Giữa lúc ông Tô và lão Cốc đang nói chuyện sôi nổi thì thằng Bất và thằng Lố vác cuốc xẻng từ ngoài cổng đi vào. Thằng Bất - con lão Cốc cười bảo:
- Hai cụ tranh luận gì mà sôi nổi thế? Hai cụ tạm dừng để nghe con thông báo một tin rất vui mừng nhé!
- Có tin gì mà vui mừng thế?
Lão Cốc hỏi lại. Thằng Lố ném cái xẻng ra góc sân rồi hớn hở đáp:
- Chúng con đã tiêu diệt được tên "phó chúa" rồi hai cụ ạ!
Ông Tô ngạc nhiên:
- Tên "phó chúa" là tên nào thế?
Thằng Bất bật cười:
- Thế này hai cụ ạ! Chúng con vừa phát hiện và đào được ở góc đình làng ta một tổ mối rất lớn. Trong đám mối bị tiêu diệt có một con mối khá to. Nhưng chúng con nhận định đó chưa phải là con mối chúa mà nó chỉ là con "phó mối chúa" thôi…
Lão Cốc trợn mắt:
- Chúng mày học hành thì lôm côm mà cũng văn vẻ, lắm chuyện quá nhỉ? Mối mọt mà cũng có cấp trưởng, cấp phó cơ à?
- Hì… thì đàn mối đông đảo đang hoạt động phá hoại đình làng ta mạnh thế thì con mối chúa cũng phải có các cấp phó giúp việc chứ. Nhưng dù con mối chúa kia có ẩn trốn ở đâu thì nhất định chúng con cũng sẽ tìm ra tiêu diệt nó để cứu lấy đình làng ta các cụ ạ… Bây giờ chúng con nghỉ ngơi đi làm vài chén tửu cho ấm bụng cái đã.
Lạo Cốc hỏi:
- Thế chúng mày không sợ công an kiểm tra nồng độ cồn à?
- Chúng con uống xong đi bộ trong đường làng ai kiểm tra đo nồng độ cồn mà lo!
Nói xong, thằng Bất và thằng Lố kéo nhau sang quán thịt chó của mụ Béo. Ông Tô cũng đứng dậy chào lão Cốc ra về. Vừa đủng đỉnh đi trên con đường làng lát bê tông ông Tô vừa ngẫm ngợi bao điều. Ông thấy vui vui vì đã tiêu diệt được con "phó chúa mối" phá hoại đình làng nhưng lại chợt thấy chạnh buồn cho cái "sự học" ngày nay…
Hà Nội, ngày 9-2-2020

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2020

Truyện ngắn vui VIỆC LÀNG SAU TẾT

VIỆC LÀNG SAU TẾT
Truyện ngắn vui của Trọng Bảo
Trong hình ảnh có thể có: thực vật và món ăn


Sau tết, làng xóm có vẻ buồn. Dịch viêm phổi cấp Corona khiến ít ai muốn ra đường. Hội làng đầu xuân năm nay cũng hoãn vì phòng dịch. Mọi người chào nhau qua băng khẩu nên không còn trông thấy nụ cười trên môi nữa.
Buổi sáng, ông Tô đang đọc báo để cập nhật tình hình dịch bệnh thì lão Cốc đến. Lão đeo cái khẩu trang trùm kín cả mồm mũi thở phì phò vì thiếu dưỡng khí. Ông Tô cũng vội lục túi tìm cái khẩu trang để đeo. Thời dịch bệnh này ai gặp nhau mà không đeo băng khẩu thì là người kém lịch sự, kém hiểu biết và không tôn trọng mọi người. Ông Tô hỏi, giọng ông qua cái băng khẩu kín mít có hơi khang khác một chút:
- Ông đến chơi hay là có việc gì mà sớm thế?
- Việc rất cần kíp ông ạ!
Ông Tô hỏi lại:
- Chắc lại là việc tuyên truyền phòng chống dịch viêm phổi cấp do vi rút Corona phải không. Ông có bài thơ nào về chuyện này chưa?
- Có… có rồi…
Nói đoạn, lão Cốc-nhà thơ Cốc Vũ thuận miệng đọc luôn bài thơ vừa mới sáng tác:
"Cô rô na hỡi cô rô...
Mày từ "nước lạ" mày mò sang đây,
Khẩu trang lập tức đeo ngay
Đề phòng dịch bệnh chuyện này chớ quên…".
Ông Tô bảo:
- Ông nên gửi ngay bài thơ này cho trưởng thôn để cho đọc hằng ngày trên loa truyền thanh nhắc nhở mọi người chú ý phòng bệnh nhé!
- Để tôi sửa chữa rồi gửi để đọc trên loa phóng thanh… Hôm nay, tôi tìm ông vì có một chuyện khác quan trọng hơn…
- Có chuyện gì thế?
- Chuyện đình làng ta đấy!
- Đình làng ta có chuyện gì vậy?
- Đình làng ta hiện đang bị mối tấn công ghê quá ông ạ! Nhiều cột, xà gỗ bị nó ăn ruỗng mất rồi. Các cụ trong làng đang rất lo lắng ông ạ!
Ông Tô cũng tỏ vẻ lo lắng. Ông bảo:
- Phải tìm ngay cánh thợ chuyên nghề diệt mối mọt kiến gián về để cứu lấy đình làng ông ạ!
- Đã tiến hành rồi. Đã đào bới và tiêu diệt được rất nhiều tổ mối lớn nhỏ và hàng đàn con cháu chắt của bọn mối rồi nhưng vẫn không thể hạn chế được bọn chúng tấn công phá hoại đình làng ta?
- Vậy các cụ trong làng tính sao bây giờ?
- Các cụ tiếp tục cho đào tìm khắp sân đình tìm diệt hết bọn mối. Nhưng điều quan trọng là muốn tiêu diệt thật triệt để đàn mối phá hoại là phải diệt bằng được con mối chúa ông ạ! Mối chúa chết thì đàn con sẽ tiệt. Con mối chúa này có thể ẩn náu đâu đó dưới bệ thờ thành hoàng làng nên chưa tìm ra được vì không ai dám đào tìm làm kinh động đến chỗ linh thiêng ấy.
- Nó trốn ở đâu cũng phải tìm bằng được. Thành hoàng làng ta rất linh thiêng, ngài sẽ phù hộ cho dân làng tiêu diệt hết bọn mối mọt chuyên đục khoét phá hoại này ông ạ!
Lão Cốc gật gù:
- Đúng thế ông ạ! Mọi việc phải tiến hành đồng bộ, không có vùng cấm, không chừa chỗ nào và không được quên việc nào…
Ông Tô khẳng định:
- Cũng như phải ráo riết chống dịch Corona nhưng cũng không được lơ là việc chống tham nhũng ông ạ!
- Đúng… đúng… việc làng, việc xã, việc nước đầu năm, sau Tết đều cần kíp, mà việc nào cũng rất quan trọng, rất cấp bách, không thế lơ là… Chống vi rút Corona phải bình tĩnh, không hoang mang, chống tham nhũng thì lại phải vững vàng và kiên quyết mới thành công ông ạ!
Ông Tô và lão Cốc cùng kéo nhau ra đình nơi các cụ bô lão trong làng và đám thanh niên đang khẩn trương tìm diệt bọn mối mọt phá hoại…
Hà Nội, 02-02-2020