Hiển thị các bài đăng có nhãn Bút ký. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bút ký. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2020

Ghi chép CUỘC GẶP CỐ VẤN PHẠM VĂN ĐỒNG

CUỘC GẶP CỐ VẤN PHẠM VĂN ĐỒNG
Bài và ảnh Trọng Bảo

Từ khi Thượng tướng Lê Khả Phiêu làm thường trực Ban Bí thư trung ương Đảng rồi được Hội nghị trung ương bầu giữ chức Tổng Bí thư tôi không còn có dịp được tháp tùng ông đi công tác nữa. Thỉnh thoảng chỉ tác nghiệp đưa tin, chụp ảnh ông khi ông đến thăm Bộ Quốc phòng hoặc các đơn vị quân đội. Một hôm, tôi lại được lệnh ra ngay nhà riêng của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu làm nhiệm vụ. Tôi đeo túi máy ảnh đi bộ từ cơ quan ra nhà riêng của ông ở phố Lý Nam Đế- Hà Nội. Đến lối vào ngõ nhà ông thì tôi bị mấy anh công an và vệ binh chặn lại. Tôi đang tìm trong túi để lấy thẻ nhà báo ra thì người sĩ quan bảo vệ Tổng Bí thư - là cán bộ của Cục Bảo vệ-An ninh quân đội vội chạy ra đón. Anh dẫn tôi vào nhà của lãnh đạo.
Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đang đứng trước cửa nhà, nơi có mấy giò phong lan đang trổ hoa rất đẹp. Vừa nhìn thấy tôi ông đã nói ngay:
- Bảo đấy à! Vào đây đi, lâu nay có khỏe không?
Tôi chào Tổng bí thư và đáp:
- Báo cáo thủ trưởng em vẫn khỏe! Thủ trưởng khỏe chứ ạ?
Ông bắt tay tôi rồi gật đầu. Tôi nói tiếp:
- Từ ngày thủ trưởng lên trung ương, khi đi công tác thường có các phóng viên TTXVN và Truyền hình Việt Nam tháp tùng. Hôm nay họ chưa đến ạ?
Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu vừa đi vào phòng khách vừa bảo tôi:
- Hôm nay là việc riêng nên mình chỉ bảo gọi phóng viên quân đội đến thôi.
- Thế ạ?
Tôi không dám hỏi ông “việc riêng” là việc gì thì ông đã nói tiếp:
- Hôm nay cụ Phạm Văn Đồng đến thăm nhà, cậu ra chụp cho mình mấy kiểu ảnh làm kỷ niệm.
Tôi vội nói ngay:
- Cụ Đồng đến thăm nhà nhưng chắc chắn là sẽ có nhiều chuyện quan trọng cần trao đổi. Sau khi chụp ảnh lúc gặp gỡ ban đầu xong em sẽ ra ngoài sân chờ. Khi nào cần chụp ảnh nữa thủ trưởng nói anh thư ký ra gọi em nhé!
Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu xua tay bảo tôi:
- Cứ ngồi trong phòng khách nghe luôn, không phải ra ngoài đâu!
Ông vừa nói xong thì anh cán bộ bảo vệ nói cụ Phạm Văn Đồng đã đến. Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đứng dậy ra đón. Cố vấn Phạm Văn Đồng được một anh cán bộ đỡ xuống xe và dẫn vào nhà. Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu và cụ Phạm Văn Đồng nắm chặt tay nhau. Tôi chụp được mấy kiểu ảnh ngoài cửa. Tổng Bí thư dẫn cố vấn Phạm Văn Đồng vào phòng khách. Cụ Phạm Văn Đồng đeo một cặp kính đen. Nghe nói mắt cụ đã kém lắm rồi, không còn nhìn rõ nữa.
Cố vấn Phạm Văn Đồng và Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu nói chuyện với nhau. Cố vấn chúc mừng Thượng tướng Lê Khả Phiêu được trung ương bầu giữ chức Tổng Bí thư. Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thì hỏi thăm, chúc sức khỏe cố vấn Phạm Văn Đồng. Cụ Phạm Văn Đồng gọi là Tổng Bí thư là “anh Phiêu”, giọng cụ vẫn khỏe và sang sảng, rành rọt. Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thì gọi cụ Phạm Văn Đồng là bác. Hai người trao đổi với nhau rất nhiều chuyện từ tình hình thế giới, trong nước đến việc chỉnh đốn, xây dựng Đảng, chống tiêu cực, tham nhũng, xây dựng chính quyền nhân dân vững mạnh và trong sạch. Tôi nhận thấy trong những vấn đề nêu lên cụ Phạm Văn Đồng đều thể hiện sự lo lắng cho tình hình thực trạng hiện nay. Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu trao đổi với cụ nhiều vấn đề đang đặt ra với sự thận trọng và tự tin. Thế giới đang bước vào thế kỷ 21 có nhiều thách thức và diễn biến phức tạp khó lường. Sau này tôi còn được biết chuyện bà bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ trong một lần gặp Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu ngay tại trụ sở trung ương Đảng ta đã hỏi một cách rất trịch thượng: “Chủ nghĩa xã hội có tồn tại được không? Việt Nam có sụp đổ không?”. Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã trả lời rất rõ ràng, thẳng thắn: “Không những tồn tại mà chủ nghĩa xã hội sẽ tiếp tục phát triển thắng lợi. Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với gần 170 nước, quan hệ thương mại với hơn 150 nước. Đảng chúng tôi có quan hệ với hơn 180 đảng cộng sản, cánh tả, đảng cầm quyền… Trong quan hệ quốc tế ngày nay, mọi quốc gia, dân tộc đều cần hợp tác để cùng phát triển. Chúng tôi tôn trọng sự lựa chọn, cách sống và chế độ chính trị của các dân tộc. Chúng tôi cũng đòi hỏi các nước tôn trọng chế độ chính trị, sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam chúng tôi”...
Cuộc gặp giữa Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu với cố vấn Phạm Văn Đồng khá dài với nhiều vấn đề quan trọng, cấp bách. Tôi tin rằng trên cương vị của mình Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu sẽ có nhiều quyết sách đúng đắn, sáng tạo và rất kiên quyết, sâu sát trong lãnh đạo, chỉ đạo chỉnh đốn, xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế chính trị và phát triển đất nước, mở rộng và củng cố quan hệ đối ngoại vì hòa bình và hữu nghị, khai thông quan hệ với các cường quốc trên thế giới, nhất là với Trung Quốc, Hoa Kỳ, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế...
Hà Nội, ngày 13/8/2020
Ảnh: TBT Lê Khả Phiêu chụp ảnh với cán bộ Cục Tuyên huấn TCCT

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2020

Ghi chép BAY LÊN QUAN HÓA

BAY LÊN QUAN HÓA
Bài và ảnh Trọng Bảo

Hôm ấy tôi đang làm việc ở cơ quan thì nhận được lệnh phải có mặt gấp ở sân bay Bạch Mai để đi công tác với thủ trưởng Tổng cục Chính trị. Tôi vội vàng khoác túi đựng máy ảnh bám theo xe của Văn phòng Tổng cục Chính trị xuống sân bay Bạch Mai. Một chiếc máy bay trực thăng đã đậu sẵn trên sân bay. Tôi lên máy bay ngồi vào vị trí ghế theo sự hướng dẫn của tổ lái. Một lát sau, Thượng tướng Lê Khả Phiêu, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và một số cán bộ cơ quan, cán bộ Bộ Tư lệnh Không quân được xe ô tô đưa ra sân bay. Chiếc trực thăng từ từ nâng độ cao rồi nhằm hướng nam lướt tới. Tôi cũng chưa biết là thủ trưởng tổng cục sẽ đi công tác ở đâu. Tôi cũng đã được đi máy bay trực thăng nhiều lần khi là thành viên trong đoàn công tác của Bộ trưởng Quốc phòng nhưng chủ yếu là ở các tỉnh phía Nam. Bay lên Đà Lạt, Tây Nguyên, bay xuống Kiên Giang, Cần Thơ, bay ra nhà giàn dầu khí trên bãi cạn Cà Mau, bay ra đảo Phú Quý và ra Côn Đảo. Đây là lần đầu tiên tôi được đi công tác bằng máy bay trực thăng ở các tỉnh phía Bắc. Đi máy bay trực thăng được ngắm cảnh đất nước từ trên cao thật là thích.
Trực thăng hạ xuống sân vận động thị xã Thanh Hóa để đón một số cán bộ của tỉnh. Lúc này tôi mới biết là Thượng tướng Lê Khả Phiêu sẽ lên thăm và làm việc tại huyện miền núi Quan Hóa. Máy bay trực thăng bay ngược theo dòng sông Mã. Trực thăng bay rất thấp dưới lòng sông. Hai bên bờ sông là những dãy núi đá vôi vách cao dựng đứng. Do bay thấp hơn đỉnh núi nên trực thăng phải lượn vòng vèo theo thế uốn lượn của dòng sông nên mất thời gian khá lâu mới lên đến Quan Hóa. Ban chỉ huy quân sự huyện phát quang một khoảng trên sườn đồi lấy chỗ cho máy bay trực thăng đáp xuống. Các cán bộ huyện ra đón. Thượng tướng Lê Khả Phiêu và chúng tôi lên các xe ô tô ra đón để về trung tâm huyện. Huyện miền núi nghèo, có chiếc xe U-oát còn hơi mới một chút để đón vị thượng tướng đã là sang lắm rồi. Tôi vội nhảy lên chiếc xe vận tải của cơ quan huyện đội để bám theo đoàn.
Thượng tướng Lê Khả Phiêu đi thăm một số nơi trong huyện Quan Hóa. Ông hỏi thăm việc sản xuất, chăn nuôi của những người nông dân, chia sẻ những khó khăn trong công việc với các cán bộ, giáo viên, nhân viên, chiến sĩ quân đội, công an nơi vùng cao. Những cán bộ, người dân hồ hởi trò chuyện với ông như với một người thân đi xa trở về. Họ không ngần ngại giãi bày những khúc mắc, băn khoăn và những kiến nghị với Đảng và Nhà nước về chủ trương, chính sách kinh tế, xã hội, về các giải pháp nhằm nâng cao đời sống cho nhân dân, nhất là nhân dân vùng cao còn nhiều khó khăn. Thượng tướng Lê Khả Phiêu lắng nghe và hứa sẽ báo cáo với trung ương các kiến nghị, đề xuất từ cơ sở.
Xế chiều, thượng tướng Lê Khả Phiêu mới về hội trường của huyện để nói chuyện với cán bộ và đại biểu các ban ngành và nhân dân Quan Hóa. Nhưng ông chưa phát biểu ngay. Ông còn hỏi và lắng nghe thêm nhiều ý kiến của đại biểu các ban ngành và đại diện nhân dân trong huyện. Thời gian trôi đi rất nhanh. Trung tướng Phạm Thanh Ngân, Tư lệnh Quân chủng Không quân ngồi dưới hội trường có vẻ bồn chồn lo lắng vẫy tôi lại gần nói nhỏ:
- Cậu lên nói với Chủ nhiệm là nên rút ngắn buổi nói chuyện vì trời sắp tối, mây mù dày đặc, núi cao, trực thăng bay về nguy hiểm lắm!
- Vâng ạ! - Tôi đáp. Tôi hiểu lúc này chỉ có cánh phóng viên chúng tôi mới có thể đi lại tự do trong hội trường.
Tôi liền tiến đến chỗ Thượng tướng Lê Khả Phiêu đang đứng trên sân khấu. Chờ khi ông ngừng lời để nghe một đại biểu dưới hội trường phát biểu tôi mới giả vờ sửa lại chiếc micro trên bục và nói nhỏ truyền đạt cho ông nghe ý kiến của Tư lệnh Không quân. Ông hướng ánh mắt nhìn Trung tướng Phạm Thanh Ngân khẽ gật đầu. Tuy vậy buổi trao đổi của ông với lãnh đạo và đại biểu nhân dân huyện Quan Hóa cũng không rút ngắn thời gian được bao nhiêu vì có nhiều ý kiến tâm huyết của cán bộ và nhân dân cần được giải đáp và ghi nhận. Khi máy bay trực thăng rời khỏi huyện Quan Hóa thì trời đã tắt nắng. Mây mù khiến tôi không còn nhìn thấy cảnh vật bên dưới nữa. Tôi thấy hai bên thái dương cứ căng lên và đau đầu quá. Nghe tôi khẽ kêu lên như vậy, anh sĩ quan không quân ngồi bên cạnh tôi giải thích: “Trời tối, mây mù khó quan sát nên trực thăng đã phải nâng độ cao, bay cao hơn những đỉnh núi cao nhất rồi, anh không quen nên sẽ rất đau đầu và căng thẳng đấy. Lát nữa xuống đồng bằng, bay thấp sẽ hết đau đầu ngay”.
Trực thăng lại đáp xuống sân vận động thị xã Thanh Hóa để “trả khách” - đó là mấy vị lãnh đạo tỉnh rồi mới tiếp tục bay về Hà Nội. Khi trực thăng của chúng tôi về đến sân bay Bạch Mai thì thành phố đã lên đèn.
Đó là câu chuyện về chuyến bay lên Quan Hóa, Thanh Hóa với tướng Lê Khả Phiêu của tôi...
Hà Nội, ngày 12/8/2020
Trong ảnh: Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thăm Quân chủng Phòng không-Không quân (ảnh Trọng Bảo)

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

Ghi chép HAI LẦN THĂM LỚP MẪU GIÁO

HAI LẦN THĂM LỚP MẪU GIÁO
Bài và ảnh Trọng Bảo
Giữa năm 1990, tôi được điều về làm phóng viên của cơ quan Thông tấn Quân sự. Ngày ấy, cánh nhà báo quân đội khi đi công tác thường phải chịu đựng cảnh tàu xe rất vất vả. Chiếc thẻ nhà báo thường được ưu tiên hơn nhưng nhiều khi cũng khó khăn vì phương tiện giao thông, xe tàu chở khách không nhiều như bây giờ. Thỉnh thoảng, chúng tôi cũng có xe con của cơ quan đưa đi đơn vị công tác. Đó là những chiếc xe “đít vuông” phủ bạt rất nóng và bụi bặm. Tôi nhớ một lần tôi và một phóng viên Ban biên tập Phát thanh Quân đội cùng đi chung một chiếc xe của cơ quan về đưa tin lễ kỷ niệm một đơn vị pháo cao xạ ở Hải Dương. Xe chạy ọc ạch, chết máy mấy lần dọc đường. Đến nơi thì đã sắp tới giờ làm lễ, anh cán bộ đơn vị ra đón và bảo chúng tôi:
- Đơn vị có một một cuốn sách lịch sử truyền thống và quà kỷ niệm (một bộ ấm chén). Xe của các anh đâu để chúng tôi bỏ luôn vào trong xe!
Tôi nói:
- Xe của chúng tôi đang đỗ ở bãi xe chung.
- Nhưng biển số xe thế nào! Bãi xe có đến hàng trăm xe thế này anh em chiến sĩ họ biết là chiếc xe nào?
Tôi cười và bảo:
- Anh bảo anh em phục vụ ra chỗ đậu xe cứ cái xe nào “nổi bật” nhất, xấu nhất bãi thì bỏ vào trong xe hai gói quà nhé. Đấy chính là xe của chúng tôi...
Nói xong tôi và anh phóng viên phát thanh quân đội vội vã đi vào nơi sắp diễn ra lễ mít tinh kỷ niệm. Lúc ra về quả nhiên thấy trong chiếc xe “đít vuông” của chúng tôi có hai gói quà. Chiếc xe con phủ bạt bạc phếch của chúng tôi nổi bật giữa bãi đỗ xe nên chả khó khăn gì các chiến sĩ phục vụ đã đưa được hai gói quà đến đúng địa chỉ.
Khi đi công tác với Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Khả Phiêu cánh phóng viên chúng tôi bám theo đi nhờ các xe trong đoàn. Đoàn xe mấy chiếc của lãnh đạo đều có máy lạnh, đường xa bụi bặm không ngại. Nhưng tình huống bất ngờ lại xảy ra đối với hai anh em phóng viên chúng tôi. Máy quay phim, máy ảnh điện tử để quá lâu trong xe máy lạnh lúc đưa ra khỏi xe thường hay bị sự cố. Hôm ấy, sau khi Thượng tướng Lê Khả Phiêu thăm và tặng quà các cháu lớp mẫu giáo xong đi vào nơi sản xuất của nhà máy thì anh phóng viên truyền hình quân đội liền kéo tay tôi bảo:
- Nguy quá ông ạ! Camera để trong xe máy lạnh đưa ra sử dụng chập chờn, quay lúc được lúc mất. Lúc chủ nhiệm thăm lớp mẫu giáo các cảnh quay đều hỏng hết. Máy ảnh của ông thế nào?
Tôi đáp:
- Cái máy ảnh điện tử mới mua cũng không bấm cò và lên phim tự động được. Tôi phải chụp bằng cái máy Canon cổ lỗ sĩ của cơ quan có từ thời chiến tranh, lên phim hoàn toàn bằng tay nên chụp được vài kiểu, nhưng cũng chả biết ảnh iếc ra sao?
Ngày ấy máy ảnh, camera không hiện đại như bây giờ. Máy ảnh chụp bằng phim, chưa có máy ảnh kỹ thuật số. Phim chụp về nhà tráng ra mới biết kết quả ảnh sẽ đẹp, xấu hoặc bị hỏng. Nghe anh phóng viên truyền hình nói về việc không quay được cảnh ở lớp mẫu giáo tôi cũng thấy hơi lo lo. Chuyến đi thăm và làm việc này của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Khả Phiêu là do Ban Phụ nữ quân đội tổ chức nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi 1-6. Thế mà lại bị hỏng hình ảnh ở lớp mẫu giáo thì còn có ý nghĩa gì nữa. Tôi và anh phóng viên truyền hình quân đội vội bàn với nhau tìm cách xử lý tình huống “tai nạn nghề nghiệp” này. Nhân lúc tướng Lê Khả Phiêu đang đứng riêng một mình sau khi thăm một phân xưởng sản xuất hàng quốc phòng, tôi và anh phóng viên truyền hình quân đội liền tiến đến báo cáo về sự cố máy móc lúc tác nghiệp ở lớp mẫu giáo. Chúng tôi vừa trình bày vừa lo lắng sợ thủ trưởng nổi cáu. Nhưng khi nghe chúng tôi nói xong, ông có vẻ thông cảm và bảo:
- Được rồi! Hai thằng chuẩn bị máy móc cho thật cẩn thận đi, sẽ có hình ảnh, cảnh quay ở lớp mẫu giáo!
Nói xong, ông lại tiếp tục đi thăm một số nơi trong nhà máy. Tôi để ý thấy ông thỉnh thoảng lại nhìn đồng hồ. Gần trưa, ông bảo các cán bộ dừng việc kiểm tra sản xuất quay về nhà điều hành của ban giám đốc. Lúc đi qua lớp mẫu giáo của nhà máy, ông cười vui vẻ và nói với các cán bộ cùng đi:
- Bây giờ, chúng ta sẽ “đóng phim, biểu diễn lại” để phục vụ mấy ông phóng viên quay phim, chụp ảnh!
Nói đoạn, ông rẽ luôn vào cổng lớp mẫu giáo. Các cán bộ ngạc nhiên vội đi theo ông và chưa hiểu ra sao. Các cô cháu lớp mẫu giáo thấy vị thượng tướng và mọi người đi vào cửa lớp vội ùa ra đón. Các cháu bé reo lên vui mừng: “Ông lại đến thăm... ông lại đến thăm...”. Thượng tướng Lê Khả Phiêu vui vẻ hỏi chuyện và nghe các cháu múa hát, kể chuyện như là bây giờ mới đến thăm, không có chuyện “diễn lại” để quay phim, chụp ảnh như lúc nãy ông nói vui với chúng tôi. Việc thăm lớp mẫu giáo lần thứ hai này diễn ra khá lâu. Các cán bộ nhà máy nhấp nhổm vì cơm canh đã bày ra nguội lạnh cả rồi mà thủ trưởng thì vẫn mải vui với các cháu bé. Anh phóng viên truyền hình quân đội và tôi quay, chụp được nhiều hình ảnh đẹp của vị tướng với các cháu thiếu nhi.
Câu chuyện một buổi hai lần thăm lớp mẫu giáo ở một nhà máy quốc phòng của Thượng tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Khả Phiêu là như vậy. Giờ đây, vị tướng ấy đã đi xa, anh phóng viên truyền hình quân đội ngày đó cũng mất đã lâu rồi nhưng kỷ niệm về chuyến đi công tác ấy trong tôi mãi không quên...
Hà Nội, ngày 11/8/2020
Trong ảnh: Thượng tướng Lê Khả Phiêu thăm một nhà máy quốc phòng (ảnh Trọng Bảo)

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2020

Ghi chép CAO BẰNG - 1979 (phần cuối)

CAO BẰNG - 1979 (phần cuối)
Ghi chép của Trọng Bảo

Phần cuối ghi chép "Cao Bằng-1979" của tôi là những sự kiện, những câu chuyện, những tình huống đã xảy ra trong cuộc chiến tranh biên giới 2-1979 mà tôi đã nghe được, ghi lại được. Đây là những sự kiện mà tôi không được chứng kiến, không tham gia và cũng không có điều kiện để kiểm chứng xem là đúng hay sai, mức độ chính xác đến đâu? Nhưng tôi không thể không ghi lại vì nó là những tình tiết rất bi tráng của chiến tranh. Tôi đã sử dụng các chi tiết này làm chất liệu để sáng tạo ra các tác phẩm văn học.
Phần cuối của ghi chép này tôi muốn đề cập đến những câu chuyện ấy.
Đó là câu chuyện về một nữ chiến sĩ thông tin yêu một anh lính công binh. Ngày 16-2, họ gặp nhau bên bờ suối. Họ đều có linh cảm một cuộc chiến tranh tàn khốc sắp nổ ra. Trong lúc chia tay cô gái đã cầm bàn tay anh lính công binh đặt lên ngực mình. Chàng lính trẻ lần đầu tiên trong đời biết thế nào là bầu vú thanh tân của người con gái. Sau phút bàng hoàng run rẩy chàng lính trẻ muốn lấn tới. Nhưng đó lại là ngày cô gái "thấy tháng". Vì thế mà cô gái đã hẹn: "Ngày mai em sẽ tìm anh". Cái ngày mai ấy cô gái-người nữ chiến sĩ thông tin sẽ trao cho anh tất cả. Nhưng khi ngày mai ấy cuộc chiến tranh đã nổ ra. Chàng lính công binh hi sinh vô cùng dũng cảm để lại một tình yêu, một lời hứa, một niềm ao ước mãi dở dang... Tôi đã viết thành một truyện ngắn đang trên Báo Văn nghệ trẻ, được chuyển thành câu chuyện truyền thanh của Đài Tiếng nói Nhân dân TP Hồ Chí Minh và Chương trình Phát thanh QĐND.
Đó là câu chuyện hai người đồng đội, hai người bạn cùng làng chiến đấu trong vòng vây dày đặc của quân thù. Một người bị thương và lọt vào tay địch. Bọn bành trướng đã chặt đầu anh vứt đi. Người bạn đã tìm mọi cách lấy xác của người bạn bị giết. Anh đã cõng cái xác không đầu ấy lên để trên sườn núi đá rồi quay lại mò tìm trong dòng suối cạn tìm bằng được cái đầu cho bạn mình với một chân lý giản dị là: "Sau này về làng mẹ nó hỏi còn dám trả lời...". Từ chi tiết này tôi đã viết thành truyện ngắn "Mùa Xuân lạnh lẽo". Tiếp đó là câu chuyện của hai nữa thanh niên xung phong khi đơn vị bị bọn giặc Tàu tập kích bất ngờ đã chạy thoát trong khi hàng chục đồng đội bị bọn chúng hãm hiếp, giết hại. Hai nữ thanh niên xung phong được các chiến sĩ trinh sát tìm thấy đưa lên núi. Đêm đến, quá mệt mỏi hai nữ thanh niên xung phong ấy liền chui vào một hang đá có nhiều người đang nằm ngủ. Gần sáng lạnh quá kéo chăn của các chiến sĩ để đắp ké. Sáng ra mới biết là cả đêm qua đã nằm cùng những người lính đã hi sinh. Hai cô bé thanh niên xung phong sợ quá khóc không lên tiếng. Một chiến sĩ vận tải đến để mai táng liệt sĩ đã nói: "Các em không việc gì phải sợ hãi cả. Các anh ấy đã chết vì Tổ quốc nhưng vẫn còn sống mãi đấy!". Từ câu chuyện này tôi đã viết thành truyện ngắn "Họ còn sống mãi". Chi tiết một thầy giáo trẻ dạy văn nhập ngũ trở thành người lính đã bắn một quả đạn B41 trong một tư thế vô cùng khốc liệt. Chiếc xe tăng của quân thù lao tới. Bộ đội, thương binh đang vượt lên dốc núi. Người chiến sĩ ấy đã nâng khẩu B41 lên vai, loa thoát lửa của khẩu súng chống tăng áp vào vách đá dựng đứng. Anh đã nhằm vào chiếc xe tăng xiết cò và hi sinh do luồng lửa hàng ngàn độ của khẩu súng dội ngược lại. Người lính ấy đã chết trước khi kịp nhìn thấy chiếc xe tăng "Bát-nhất" bị bắn cháy. Tôi đã viết truyện ngắn "Thầy ơi" dựa trên tình tiết này. Truyện ngắn được in trên Báo Văn nghệ trẻ. Chuyện những nữ chiến sĩ bị vùi lấp trong hang đá, chuyện người lính công binh bị thương không thể rút lui đã cắt ngắn dây cháy chậm của khối thuốc nổ hàng trăm cân dùng để phá đường, chờ khi chiếc xe tăng và bộ binh quân địch ào đến mới điểm hỏa nổ tức thì vừa phá đường vừa tiêu diệt quân địch... Biết bao nhiêu câu chuyện về khí phách anh hùng của người lính vệ quốc, về những đau thương của nhân dân trong chiến tranh cần được ghi lại. Ngay sau khi cuộc chiến kết thúc tôi bắt đầu viết. Nhiều truyện ngắn, truyện truyền thanh, ghi chép của tôi về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc đã được in trên báo QĐND, phát sóng trong Chương trình Phát thanh QĐND, in trên tạp chí VNQĐ và nhiều tờ báo khác... Và rồi tất cả các ghi chép, các tình tiết trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tháng hai năm ấy tại hướng Hà Quảng đã giúp cho tôi viết xong cuốn tiểu thuyết mang tính ký sự "Cơn lũ đen" đã đăng trên Fb này và trên trang “Dựng nước-Giữ nước” của tuổi trẻ Việt Nam. Mong rằng sẽ có một ngày, tất cả sẽ được in thành sách để tặng các bạn bè chiến hữu thân yêu.
Khép lại ghi chép "Cao Bằng-1979" tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị, các bạn đã luôn đồng hành cùng tác giả qua từng trang viết. Cảm ơn Đại tá Hoàng Quốc Doanh, nguyên chính trị viên Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 246, người đã chỉ huy trận đánh quyết liệt nhất với quân bành trướng xâm lược tại thị trấn Sóc Giang, Hà Quảng, Cao Bằng ngày 20-2-1979 và cũng là người đã cung cấp cho tôi nhiều tư liệu quý để viết. Cảm ơn cựu chiến binh Cao Thành Văn, trợ lý quân khí của Tiểu đoàn 3, người đã có mặt trong hang huyện ủy, tham gia chiến đấu tại Sóc Giang đã đọc ghi chép này và cung cấp thêm rất nhiều tư liệu của từng trận đánh, từng sự kiện trong thời gian ấy. Cảm ơn các chiến hữu cùng Trung đoàn 246 từng tham gia chiến đấu chống quân Trung quốc xâm lược tại Hà Quảng tháng 2-1979 như Ngô Quang Hà, Phạm Hồng Thanh, Triệu Văn Trí, Đặng Giang Giang, Nguyễn Hoạch, Nguyễn Bình, Phạm Chức... đã luôn theo dõi và góp ý cho các phần của ghi chép này.
Mong sẽ gặp lại các anh chị, các bạn, các chiến hữu yêu quý trong những bài viết mới./.
Hà Nội, tháng 2-2020
TRỌNG BẢO

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2020

Ghi chép CAO BẰNG - 1979 (phần 26)

CAO BẰNG - 1979 (phần 26)
Ghi chép của Trọng Bảo

Nhận được quyết định đi học tôi chuẩn bị lên đường. Đó là một ngày cuối tháng 8-1979. Hôm trước ngày tôi về xuôi anh em trong tiểu đội vô tuyến điện cố tìm cách tổ chức một bữa liên hoan chia tay nhưng không thành. Không thể kiếm nổi một chút thực phẩm gì khác ngoài mớ rau thập cẩm cùng mấy quả cà chua xanh hái lượm được ở ngoài đồng. Tiểu đội trưởng Vũ Văn Tự cứ băn khoăn mãi. Tôi bảo: "Đừng bận tâm chuyện liên hoan làm gì. Mình được về xuôi ôn thi đại học là sướng lắm rồi, anh em ở lại còn phải tiếp tục chịu đựng nhiều khó khăn, gian khổ, còn phải đối mặt với quân thù hằng ngày cơ mà?".
Chúng tôi ngồi trò chuyện với nhau đến khuya. Anh em trong tiểu đội vô tuyến điện của tôi khi chiến tranh xảy ra đã có mặt ở các hướng vô cùng ác liệt như chốt cây đa của Đại đội 11, chốt "tọa-độ-lửa" trước cửa ngõ Sóc Giang của Đại đội 10 vậy mà vẫn trở về đủ cả. Đó là niềm vui lớn nhất của tôi trước khi về xuôi.
Đêm ấy, tôi thao thức mãi không sao ngủ được. Tôi nhớ đến những ngày chiến tranh ác liệt, gian khổ, nghĩ đến những vui buồn trong thời gian ở biên giới. Vậy là từ lúc chúng tôi hành quân lên chiếm lĩnh trận địa nơi tuyến trước đến khi rời biên cương về xuôi vừa đúng tròn một năm. Một năm đáng nhớ nhất trong cuộc đời quân ngũ với những vui buồn day dứt khôn nguôi.
Buổi sáng hôm sau, tôi chào tạm biệt anh em trong trung đội thông tin để lên đường. Mọi người lưu luyến tiễn tôi ra tận con đường nhỏ trước cửa bưu điện thị trấn cũ. Tôi đi qua cái thị trấn đổ nát còn hằn sâu vết dấu của cuộc chiến tranh tàn khốc. Tôi cảm thấy bàn chân mình như vẫn còn đang dẫm trên đất bỏng. Lúc qua chỗ bụi tre dưới chân điểm chốt Đại đội 10, nơi trung úy Trần Xuân Tương và hạ sĩ Nguyễn Công Tâm hy sinh tôi dừng lại một lát. Chợt nghe thoảng trong gió vẫn như có tiếng thằng Tâm đang gọi và vui mừng khoe với tôi: “Bảo ơi! Tao có con trai rồi!”...
Đến đầu bản Kép Ké tôi quay đầu lại nhìn thị trấn Sóc Giang lần cuối. Biết đến bao giờ mới lại có điều kiện trở lại mảnh đất nơi biên giới xa xôi này. Tôi nhìn lên trận địa của Đại đội 10, điểm cao 505, ngọn núi có hang huyện ủy và phía xa xanh phía sau là dãy núi có Lũng Mật, Lũng Vài, Lũng Vỉ... Toàn những nơi mà tôi đã có những kỉ niệm không quên. Bất giác, tôi đưa tay lên vành mũ. Tôi muốn chào thị trấn Sóc Giang anh hùng, chào các đồng đội của tôi còn ở lại ngày đêm trấn giữ nơi biên cương và chào những người đang nằm dưới cỏ ở nơi này.
Tôi xốc lại chiếc ba lô trên vai tiếp tục hành quân. Trong chiếc ba lô nhẹ tênh chỉ có một bộ quần áo cũ, một chiếc bi-đông và cuốn nhật ký là kỷ vật của chiến trường. Cái võng, cái tăng và các loại quân trang dùng chung khác tôi đã giao nộp lại đầy đủ cho quân nhu tiểu đoàn. Trung đội trưởng Phạm Hoa Mùi rất muốn xin quân nhu tiểu đoàn cho tôi cái võng vải bạt cũ làm kỷ niệm nhưng không được, vì nó là quân trang dùng chung ghi trong danh mục vật tư trang bị biên chế của đơn vị. Cái võng ấy đã theo tôi suốt những ngày lang thang thất lạc trên triền núi đá cao. Nó là chăn đắp khi giá rét, là chiếu trải khi nằm trong hốc đá ẩm ướt, là cái cáng thương binh khi hành quân. Cái võng lấm lem bụi đất thấm máu đồng đội ấy là quân trang dùng chung nên vẫn phải bàn giao lại. Trung đội trưởng Phạm Hoa Mùi cứ nắm tay tôi mãi hẹn ngày gặp lại. Vậy mà tôi đã không gặp lại được anh. Phạm Hoa Mùi quê ở Yên Sơn, Tuyên Quang. Từ khi chia tay nhau ở Sóc Giang tôi không biết gì về anh nữa. Đến khoảng năm 2015 thì tôi nghe tin Phạm Hoa Mùi đã mất vì mắc căn bệnh hiểm nghèo.
Tôi khoác ba lô cuốc bộ xuôi hướng ngã ba Đôn Chương. Dọc đường tôi gặp những đoàn chiến sĩ mới từ phía sau đang hành quân lên biên giới. Nhìn những khuôn mặt trẻ măng đang hăm hở đi lên tuyến trước tôi chợt thấy trong lòng dâng lên một nỗi buồn xa vắng. Bao giờ đất nước mình hết chiến chinh để những chàng trai trẻ tràn đầy sức sống thế kia không còn phải cầm cây súng trận nữa. Những người con của bao bà mẹ trên khắp đất này sẽ không còn phải ngã xuống nữa. Tôi chợt thấy lạnh người khi nghĩ cả đoàn quân trai tráng, ồn ào kia nếu chiến tranh lại xảy ra thì chỉ sau vài trận nhiều người sẽ chỉ còn là những nấm mồ nhỏ bé lẫn vào cỏ cây nơi biên ải. Giá như đất nước mình hoà bình thì những chàng trai này sẽ là những sinh viên, những công nhân, trí thức trên công trường, nhà máy thì hay quá. Đất nước hoà bình sẽ phát triển, không phải nghèo, phải khổ mãi. Hôm qua bưng bát lên thấy cơm của người lính tuyến trước đã phải độn nhiều ngô sắn hơn rồi. Chiến tranh sẽ bòn rút hết tài nguyên, tiềm lực, làm xói mòn kiệt quệ kinh tế của đất nước, sẽ quàng cái ách nghèo đói lên đầu lên cổ nhân dân.
Đến lối rẽ vào Pác Bó thì tôi đi nhờ được một chiếc xe vận tải chở vật liệu xây dựng lên biên giới cho bộ đội làm công sự đang quay về xuôi. Về gần Nà Giàng nơi trung đoàn bộ đóng quân tôi ghé một nhà dân ven đường nấu cơm nhờ. Buổi chiều tôi mới phải có mặt tại trung đoàn bộ. Chị chủ nhà nhìn tôi hỏi:
- Chú là lính cũ à?
- Vâng đúng thế ạ!
- Thảo nào nhìn mặt mũi hốc hác nhưng nhanh nhẹn lắm!
- Thế ạ?
- Thì chỉ có lính cũ nên chú mới thông thạo việc nấu nướng thế chứ!
Chị cho tôi một ít mỡ lợn, quả đu đủ xanh và nắm rau cải mới nhổ trên nương để làm thức ăn. Nấu cơm ăn xong tôi vào trung đoàn bộ thì đã đến giờ làm việc buổi chiều.
Trong số các chiến sĩ về xuôi có nhiều người được cử đi đào tạo tại các trường sĩ quan. Tôi và mấy anh em nữa nhận quyết định về trường văn hoá của quân khu. Chúng tôi sẽ ôn tập để thi vào các trường đại học. Nghĩ đến lúc được ra quân trở thành một sinh viên tôi lại thấy nao nao trong lòng. Khi còn đi học phổ thông tôi vẫn luôn ước mơ thi vào khoa văn của trường đại học tổng hợp Hà Nội. Nhưng sau cuộc chiến tranh biên giới này tôi lại muốn thi vào trường đại học nông nghiệp. Tôi muốn trở thành một kỹ sư trồng lúa. Tôi nghĩ đến đồng bào nơi biên giới thiếu đói quanh năm mà khi chiến tranh xảy ra vẫn giành từng bát gạo gạo, bắp ngô tiếp tế cho bộ đội. Tôi nhớ đến cái đói run người trong những lần leo dốc hành quân. Cái đói khiến bao người lính gục ngã nơi chân dốc núi trong những trận đánh không cân sức. Cái đói, cái khát đã giết chết mấy chục cán bộ, chiến sĩ trong hang sâu khi họ bị bọn giặc bành trướng đánh sập cửa hang. Tôi chợt nhớ đến Nguyễn Văn Đam, một người bạn thân thiết cùng quê luôn luôn ôm giấc mơ học hành mà nay đã trở thành mây khói ở nơi biên ải này.
Đoàn chúng tôi hành quân về sư đoàn bộ lúc này đang ở Bế Triều, Hòa An. Sau khi hoàn thiện các loại thủ tục giấy tờ chúng tôi tiếp tục cuốc bộ ra thị xã Cao Bằng tìm cách mua vé xe khách về Thái Nguyên. Ngày ấy đi lại thật khó khăn. Chúng tôi vạ vật cả ngày ở bến xe mà không mua được vé xuôi Thái Nguyên.
Đang loanh quanh ở khu bến xe thì bất ngờ tôi gặp thiếu úy Trần Hữu Hoàn, đại đội phó Đại đội 11, Tiểu đoàn 3. Anh Hoàn rất mừng khi biết tôi được cử về xuôi ôn thi đại học. Anh đang đi tập huấn tại sư đoàn tranh thủ về thăm nhà. Anh Hoàn rủ tôi về nhà mình chơi. Nhà anh ở ngoài ven thị xã Cao Bằng. Gia đình anh gốc gác quê Thái Bình lên đây định cư đã lâu. Tôi theo anh Hoàn về nhà. Vừa đi chúng tôi vừa vui vẻ nói chuyện, nhắc lại những kỷ niệm trong chiến tranh. Tôi nhớ hôm rút lui lên Lũng Vỉ gặp bộ phận của Đại đội 11. Nhìn thấy đại đội phó Hoàn đầu quấn băng kín vẫn đi lại nhanh nhẹn bình thường, tôi hỏi:
- Anh bị thương nặng không mà băng bó kín cả đầu trông ghê chết như thế?
Anh Hoàn bảo:
- Nặng quái gì đâu! Sướt da vớ vẩn ấy mà!
- Sao vậy?
- Tao đang chỉ huy chiến đấu ở chốt cây đa thứ nhất thì thấy bỏng rát bên má trái, máu chảy ròng ròng. Sờ tay lên thấy bay đâu mất mẹ nó một mẩu tai phải rồi. Mẹ kiếp, thằng giặc chỉ cần nhích mũi súng sang bên trái vài li thì viên đạn cắm thẳng vào giữa mặt tao rồi. Mấy thằng thấy mặt mũi tao be bét máu nên băng bó ngang dọc thế này chứ tao có bị gì nặng đâu.
Tôi bảo:
- Anh đừng chủ quan. Nó mà nhiễm trùng thì khốn…
- Đúng… đúng… nhưng nguy quá rồi mày ơi!
- Sao thế?
- Thì… sau trận này vác cái tai cụt về khéo người yêu tao nó bỏ chạy luôn một mạch mất mày ạ!
Tôi bảo anh:
- Không việc gì đâu anh ạ! Sau chiến tranh vào bệnh viện họ lắp cho một cái tai giả. Tai vẫn vẫy được, vẫn đẹp trai như thường…
- Mày chỉ được cái khéo động viên!
Anh Hoàn vốn là một lính chiến ở mặt trận Tây Nam. Thành tích chiến đấu của anh khá dày dặn. Anh là một người chỉ huy gan lỳ. Hầu như suốt thời gian Đại đội 11 chống chọi với các đợt tấn công ác liệt của địch, anh luôn luôn có mặt ở chốt cây đa thứ nhất chỉ huy bộ đội và trực tiếp bẻ gãy các đợt tấn công liên tiếp của chúng. Trong khi đó thì đại đội trưởng Tuân chui trong hang đá để tránh pháo rồi chỉ huy bằng điện thoại và qua liên lạc truyền đạt. Mệnh lệnh lúc tới được các trung đội, lúc thì không và chả đúng tý gì với tình huống chiến sự đang xảy ra. Đại đội 11 nếu không có một người chỉ huy như anh Hoàn thì bị mất trận địa ngay từ ngày đầu tiên khi bọn Trung Quốc tràn sang đông như kiến cỏ.
Bà mẹ anh Hoàn rất vui khi thấy hai chúng tôi về. Bà vội vã làm cơm. Suốt bữa bà cứ ngồi nhìn hai chúng tôi ăn. Cuộc chiến tranh vừa qua thật là khủng khiếp đối với một người như bà. Bà phải chạy vào trong rừng rồi về tận Bắc Cạn mà lòng như lửa đốt lo lắng cho con ở tuyến trước. Ăn cơm xong trời đã sẩm tối, tôi chào bà mẹ và anh Hoàn để ra bến xe. Chúng tôi sẽ chia nhau bám trụ ở bến xếp hàng cả đêm để chờ mua vé xe khách và ra đường quốc lộ xem có cái xe tải quân sự nào chạy về xuôi để đi nhờ. Kể từ lần ấy đã bốn mươi năm rồi tôi không gặp lại anh Hoàn lần nào nữa. Đầu năm 2019, đọc báo mới biết anh là thiếu tướng, nguyên phó tham mưu trưởng Quân khu 1 đã nghỉ hưu.
Về đến Trường Văn hóa Quân khu 1 tôi được biên chế về Đại đội 4 chuyên ôn luyện thi vào đại học. Tại đây tôi gặp nhiều anh em ở các đơn vị chiến đấu cũng về đây học tập. Ở trường văn hóa có nhiều thầy dạy rất giỏi, có kinh nghiệm bồi dưỡng thi đại học. Tôi hi vọng mình sẽ thi đỗ vào đại học nông nghiệp như mong muốn. Nhưng rồi cuộc đời người lình không định trước. Chuẩn bị đến kỳ thi đại học thì tôi lại được cử về học tập tại Trường sĩ quan Chính trị tại Bắc Ninh. Thời gian sau Nguyễn Xuân Hòa, nhân viên thống kê chính trị và Cao Thành Văn, trợ lý quân khí Tiểu đoàn 3 cũng từ Cao Bằng về học tập tại Trường sĩ quan Chính trị. Mỗi lần gặp nhau chúng tôi đều ôn lại những ngày chiến đấu gian khổ ở biên cương phía Bắc tháng 2-1979...
(còn nữa) Hà Nội, 2-2020

Ghi chép CAO BẰNG - 1979 (phần 25)

CAO BẰNG - 1979 (phần 25)
Ghi chép của Trọng Bảo

Chỉ huy tiểu đoàn chỉ thị cho tôi bàn giao chức vụ tiểu đội trưởng tiểu đội thông tin vô tuyến điện cho trung sĩ Vũ Văn Tự. Sau chiến tranh Vũ Văn Tự được thăng quân hàm hạ sĩ quan và bổ nhiệm giữ chức vụ tiểu đội trưởng tiểu đội vô tuyến điện thay tôi. Các anh em chiến hữu khác trong trung đội thông tin cũng được lên một cấp hoặc vượt cấp quân hàm. Thế là sau gần bốn năm giữ chức vụ tiểu đội trưởng hết ở đơn vị bộ binh lại đơn vị binh chủng bây giờ tôi trở lại làm “chiến sĩ”. Tôi hơi lo lắng, không hiểu chuyện gì sẽ xảy ra. Cấp trên cũng không nói sắp tới tôi sẽ làm gì, về đơn vị nào? Tôi mong không phải là do bị “xử lý” chuyện ở Táp Ná mà bị mất chức tiểu đội trưởng?
Thời gian này toàn tiểu đoàn vẫn tiếp tục công tác xây dựng trận địa, củng cố doanh trại chờ đón chiến sĩ mới. Trung đội thông tin tiến hành kéo đường dây trần lên Lũng Mật là trận địa của Đại đội hỏa lực 12. Chúng tôi nhặt các đoạn dây điện cao thế bị đạn pháo, bị lính Trung quốc đánh gãy cột đứt rơi đầy trên cánh đồng đem về gỡ ra từng sợi nhỏ làm dậy thông tin. Mỗi sợi dây điện cao thế gỡ ra được sáu dây nhôm nhỏ và một dây lõi bằng thép. Tôi đề nghị trung đội trưởng Phạm Hoa Mùi cho tôi tham gia làm đường dây với tiểu đội hữu tuyến. Tôi vẫn nuôi hy vọng trở lại Lũng Mật, Lũng Vài, Lũng Vỉ để tìm lại cuốn sổ ghi chép các sáng tác của mình. Hôm chuẩn bị vượt vòng vây qua huyện Thông Nông tôi đã không đốt cuốn sổ ấy theo lệnh của tiểu đoàn. Tôi cho cuốn sổ vào cái túi ni-lông đựng gạo sấy rồi hơ lửa dán kín lại và giấu trong một hốc đá ở Lũng Vỉ. Song việc tìm lại cuốn sổ không thực hiện được vì địa hình trên núi tôi không thông thuộc và cũng chẳng nhớ là đã nhét vào hốc đá nào. Phạm Hoa Mùi cũng gàn tôi nói tình hình còn căng thẳng lỡ khi sang Lũng Vỉ gặp bọn thám báo hoặc vướng phải mìn...
Tuyến đường dây trần lên Lũng Mật làm xong chúng tôi lại tiếp tục đi đào giao thông hào. Tiểu đoàn 3 tiến hành đào một tuyến hào giao thông từ hang Ma Gà qua bản Cốc Vường lên chốt cây đa của Đại đội 11. Đây là đường cơ động khi chiến sự xảy ra. Bộ đội cơ động lên chi viện cho Đại đội 11 hoặc tải thương từ chốt tiền tiêu về phía sau không phải băng qua cánh đồng đầy lửa đạn nữa. Chiến tranh đã cho chúng ta những bài học xương máu. Như tại chốt của Đại đội 10 cũng vậy. Khi xây dựng các lô cốt ta chỉ mở các lỗ châu mai hướng lên phía biên giới. Khi bọn địch từ sau lưng đánh lên lô cốt không có lỗ châu mai để bắn về phía sau. Bộ đội phải chạy ra bên ngoài lô cốt phơi mình trên mặt chiến hào để bắn ngược lên đỉnh cao 505 rất dễ bị thương vong. Trận địa của đơn vị lựu pháo tại Cốc Sâu cũng vậy, các hầm đặt pháo đều hướng lên phía biên giới. Khi địch từ ngã ba Đôn Chương tấn công tập hậu. Bộ đội phải kéo pháo ra mặt đường để bắn thẳng xe tăng phía sau lao đến.
Một buổi sáng, tôi đang hì hục đào công sự ở khu vực bản Cốc Vường thì liên lạc chạy lên gọi về gặp chỉ huy tiểu đoàn có việc gấp ngay. Tôi hơi hoảng nghĩ: “Hay là cấp trên họ điều tra ra những vi phạm của mình trong chiến đấu nên triệu về để thi hành kỷ luật?”. Tuy vậy, tôi cũng tự động viên mình chắc đây chỉ là thuyên chuyển công tác bình thường thôi, chả có chuyện gì đâu.
Đến nhà chỉ huy của tiểu đoàn tôi đang ngó nghiêng xung quanh tìm nhà chỉ huy thì có tiếng gọi:
- Thằng Bảo phải không? Vào đây đi!
Tôi bước vào gian phòng đang mở cửa có tiếng người vừa gọi. Chính trị viên tiểu đoàn Hoàng Quốc Doanh đang ngồi sau bàn làm việc chăm chú ghi chép gì đó. Trời mùa hè nóng bức nên anh mở phanh cả cúc áo ngực. Tôi đứng nghiêm báo cáo:
- Tôi, hạ sĩ, nguyên tiểu đội trưởng...
Anh Doanh vội xua tay cắt ngang lời tôi:
- Thôi... không phải báo cáo, báo mèo gì nữa! Đây có phải huấn luyện điều lệnh gì đâu mà báo cáo?
Anh Doanh bảo tôi ngồi xuống ghế. Anh rót một ca nước đưa cho tôi rồi hỏi:
- Chú mày vẫn khoẻ chứ?
Tôi đáp:
- Vâng ạ! Thì em vẫn thế thôi ạ... Anh chưa lên trung đoàn nhậm chức vụ mới ạ?
- Chưa! Vài ngày nữa tao mới đi... Mà mày vẫn còn bất mãn vì chuyện sau chiến tranh không được thăng quân hàm và khen thưởng chứ?
Tôi ậm ừ:
- Em là hạ sĩ quan chiến sĩ, hết nghĩa vụ quân sự thì về phục viên theo con trâu đi cày ruộng, quân hàm, quân hiệu có là cái gì đâu mà bất mãn ạ?
- Nhưng cùng nhập ngũ với mày nhiều thằng sau chiến tranh được phong cấp uý, lên đến chức đại đội phó rồi đấy!
- Thì họ có số làm quan, số em chỉ được làm lính thì mãi mãi cũng chỉ là lính tráng thôi anh ạ!
Anh Doanh bật cười:
- Mày cũng lý luận gớm nhỉ?
- Thì em chỉ nói thật thế thôi chứ lý luận gì đâu ạ!
Anh Doanh im lặng một lát rồi đột nhiên chuyển sang chuyện khác:
- Việc của mày coi như đã xong rồi!
Tôi chột dạ và thấy hơi lo:
- Tiểu đoàn đã cho người đi Táp Ná thẩm tra rồi ạ?
- Không… chả cần thẩm tra làm gì nữa?
- Sao lại thế ạ! - Tôi hỏi lại, giọng hơi run run lo lắng: - Vậy em phải chịu hình thức kỷ luật thế nào ạ?
- Kỷ luật cái gì?
- Thế em cứ tưởng…
Anh Doanh bật cười:
- Tưởng cái gì? Sao chưa chi mặt mũi của mày đã tái mét đi thế? Lính chiến mà lại thế à? Mày chả phải kỷ luật, kỷ liệc gì cả đâu, yên tâm đi.
- Vậy là ông tiểu đoàn phó... Ông ấy đã nói lại việc của em rồi ạ?
Anh Hoàng ngần ngừ một lát rồi nói vẻ mặt buồn bực:
- Nói cái gì? Ông ấy đã… đã… đào ngũ rồi!
Tôi vô cùng sửng sốt. Tưởng là tai mình nghe nhầm, tôi thảng thốt hỏi lại:
- Ông ấy là cán bộ tiểu đoàn cơ mà, có phải chiến sĩ đâu mà lại đào ngũ?
- Thế đấy! Ông ấy bỏ đơn vị về nhà đã mấy tháng nay rồi. Trung đoàn đã gọi điện, rồi cử cán bộ mấy lần về tận nhà thăm hỏi, động viên nhưng ông ấy vẫn không chịu quay trở lại đơn vị. Thế chả là đào ngũ thì là gì nữa?
Tôi vẫn không thể hiểu. Sao có chuyện tày trời thế. Tôi chỉ mới ở quân ngũ dăm năm. Trong chiến tranh chống Mỹ thì chả nói làm gì, còn bây giờ sao lại có sĩ quan đào bỏ ngũ chứ. Hay là có chuyện gì đã xảy ra đối với anh Tuân. Anh ấy vừa được bổ nhiệm lên chức vụ tiểu đoàn phó, lại chuyển về tuyến sau huấn luyện chiến sĩ mới mà lại đào ngũ thì vô lý quá? Hơn nữa, bây giờ chiến tranh đã kết thúc rồi, làm gì còn nguy hiểm, ác liệt, chết chóc nữa mà phải bỏ ngũ. Tôi thấy hoang mang và băn khoăn về chuyện này quá. Tôi hỏi lại anh Doanh:
- Hay là hoàn cảnh gia đình ông ấy đang có vấn đề gì khó khăn hả anh?
Anh Doanh lắc đầu:
- Chả có vấn đề gì đâu! Ông ấy bỏ ngũ thật đấy, trung đoàn đã thẩm tra, xác minh chuyện này rất kỹ rồi. Kết luận về hành động của một người sĩ quan, cán bộ trung cấp trong quân đội là phải rất thận trọng, cân nhắc kỹ. Nhưng thôi việc này mày nghe thì biết thế thôi nhé, không nên nói cho ai biết nữa. Chỉ huy trung đoàn đang nghĩ cách xử trí việc ông ấy bỏ ngũ. Có thể làm chế độ để cho ông ấy ấy về phục viên. Dù sao ông ấy cũng là một người lính tham gia quân đội từ thời chống Mỹ...
Tôi vẫn không thể tin việc anh Tuân đã bỏ ngũ là sự thật. Chính trị viên Hoàng Quốc Doanh bảo:
- Ông ấy bỏ ngũ nên những việc ông ấy đã nói sau chiến tranh cũng cần phải xem xét lại. Chuyện ông ấy từng báo cáo về mày coi như là chưa thật chuẩn xác. Vì thế, chỉ huy tiểu đoàn mới gọi mày lên để thông báo là đã đề nghị cho mày về trường văn hóa của quân khu để ôn tập và thi vào đại học.
Tôi thở phào nhưng trong lòng không thấy nhẹ nhõm hơn chút nào. Tôi cứ bị ám ảnh mãi về việc anh Tuân - một sĩ quan trung cấp, một cán bộ tiểu đoàn mà lại đào ngũ?. Thật chả còn hiểu ra làm sao. Thấy tôi lặng im suy nghĩ anh Doanh cũng im lặng. Chắc anh cũng đang trăn trở vì chuyện này. Một lát sau anh nói với tôi như nói với chính mình. Giọng anh chùng xuống vẻ xót xa: “Bản chất người lính chiến là thế! Sự hèn nhát không thể giấu kín mãi được đâu! Mày hiểu không?”.
Anh Doanh chợt có vẻ suy tư, rồi anh bảo:
- Tao biết mày thiệt thòi... Tao sẽ cố gắng đề nghị lên trên xem xét lại xem có được gì không... Nhưng mọi việc đã qua rồi, không biết có...
Lúc tiễn tôi ra về anh vỗ vai tôi ân cần bảo:
- Cố lên em nhé! Đường dài vẫn ở phía trước...
Hóa ra anh Doanh vẫn đang nghĩ về tôi. Còn tôi lúc này lại không còn nghĩ đến chuyện của mình nữa. Tôi đang nghĩ đến anh Tuân tại sao lại như thế?
Cũng phải đến mấy năm sau, khoảng năm 1983, lúc này tôi đang là học viên năm thứ ba Trường sĩ quan Chính trị tại Bắc Ninh. Một hôm được nghỉ, tôi đạp xe tranh thủ về thăm nhà. Gần trưa, khi đi qua thị trấn Phù Lỗ, Hà Nội tôi chợt nhìn thấy một người mặc bộ quân phục bạc phếch đang lọc cọc đạp xe phía trước trông có vẻ quen quen. Ông ta vừa đạp xe vừa huýt sáo theo giai điệu bài hát "Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới". Một bên ghi đông cái xe đạp tồng tộc của ông treo lủng lẳng cái thủ lợn cùng chiếc chân giò, bên kia treo xâu dồi lòng lợn. Tôi liền đạp rấn lên và nhận ra đó là anh Tuân. Anh Tuân cũng nhận ngay ra tôi. Chúng tôi hỏi thăm nhau. Anh Tuân bảo tôi rẽ vào nhà anh chơi. Tôi liền đạp xe theo anh. Té ra, anh mở quán bán cháo lòng tiết canh ở cách ngã ba Phù Lỗ một đoạn, lối vào sân bay Nội Bài cũ. Anh đang đi chợ mua đồ về để làm hàng.
Tôi và anh Tuân ngồi nói chuyện với nhau cũng khá lâu. Có lẽ anh Tuân không biết là tôi đã biết rõ sự việc anh là người đã tố cáo tôi trong buổi họp đảng uỷ tiểu đoàn sau chiến tranh năm nào nên anh nói chuyện với tôi với vẻ rất tự nhiên. Còn tôi thì chuyện cũ đã qua lâu rồi, cũng chả còn thấy bận tâm nhiều nữa. Tôi vui vẻ chén một loa to cháo lòng nóng hổi anh bưng ra. Có lẽ đang đói nên tôi thấy loa cháo ấy thật là ngon…
(còn nữa) Hà Nội, 2-2020

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2020

Ghi chép CAO BẰNG - 1979 (phần 24)

CAO BẰNG - 1979 (phần 24)
Ghi chép của Trọng Bảo

Chuyện của tôi cứ ngỡ là sẽ dừng ở đó. Tôi muốn tập trung để hoàn thành tập ghi chép của mình. Cơ quan tiểu đoàn bộ rời khỏi khu vực Cốc Sâu, Kép Ké về tại khu vực cơ quan Huyện ủy Hà Quảng cũ. Toàn bộ cơ quan đầu não của huyện sau chiến tranh đã rời về khu vực Bản Giới. Đây là thị trấn huyện lỵ mới của huyện Hà Quảng. Sóc Giang bây giờ chỉ là một thị trấn nhỏ nơi biên giới. Các cơ quan huyện lui về phía sau đề phòng một cuộc chiến tranh mới xảy ra trong tương lai? Nhưng riêng tôi thì nghĩ lẽ ra sau chiến tranh các cơ quan của huyện Hà Quảng trở lại Sóc Giang thì hay hơn. Nhưng thôi, đó là việc của địa phương. Nhân dân các bản biên giới và thị trấn Sóc Giang cũng đã trở về dọn dẹp, xây dựng lại nhà cửa, đường xá, các công trình dân sinh và tổ chức sản xuất, ổn định cuộc sống.
Lán của trung đội thông tin chúng tôi làm ngay dưới chân hang huyện ủy, đối diện với nhà bưu điện thị trấn cũ. Chúng tôi nhặt nhạnh các thanh xà, cột kèo trong các căn nhà bị bắn đổ, cháy dở của trụ sở huyện ủy để làm lán trại theo kiểu một mái, lợp bằng ngói máng cũng nhặt nhạnh tại các khu nhà cơ quan của thị trấn. Cùng với việc ổn định nơi ở, chúng tôi tiếp tục xây dựng trận địa phòng ngư, chuẩn bị đón nhận và huấn luyện chiến sĩ mới.
Các anh em cán bộ được thăng quân hàm, bổ nhiệm chức vụ cao hơn lần lượt lên đường đến đơn vị mới nhận nhiệm vụ. Trung đội trưởng Phạm Hoa Mùi và tiểu đội trưởng Hà Trung Lợi cũng chuẩn bị đi nhậm chức. Bốn người đồng ngũ chúng tôi thì trong chiến tranh đã mất Nguyễn Văn Đam, sắp tới Mùi và Lợi đi nốt thì trung đội thông tin chỉ còn một mình tôi là lính 1975.
Một buổi chiều chủ nhật, tôi, Phạm Hoa Mùi và Hà Trung Lợi ngồi bên nhau nói đủ thứ chuyện. Cả ba đều biết sẽ chẳng còn được ở cùng nhau lâu nữa. Ba thằng nói đủ thứ chuyện kể từ khi mới nhập ngũ cùng ở đại đội thông tin trung đoàn tại Đại Từ, Bắc Thái, đến những năm tháng cuốc đất làm đường bên Hà Giang và về cuộc chiến tranh vừa qua. Nói chuyện lan man cuối cùng lại quay về chuyện của tôi là tại sao trong cuộc chiến đấu vừa qua lại không được khen thưởng, lên quân hàm, bổ nhiệm chức tước gì cả? Tôi liền gạt đi:
- Thôi chúng mày ạ! Tao chán chuyện này lắm rồi. Hai thằng chúng mày đi rồi chắc họ cũng sẽ cho tao ra quân thôi. Đời lính của tao chắc sắp chấm dứt rồi. Còn nguyên nhân tại sao thì ai mà biết được và cần gì phải biết nữa?
- Có nguyên nhân cả đấy!
Trợ lý tham mưu Bùi Thế Thọ vừa bước vào cửa nghe rõ câu chuyện của ba chúng tôi liền lên tiếng. Chúng tôi cùng quay ra cửa. Anh Thọ đang đeo ba lô tren vai. Anh được bổ nhiệm làm cán bộ đại đội. Anh cũng đến chào, chia tay chúng tôi để về nhận nhiệm vụ tại đơn vị mới.
Đặt cái ba lô xuống sạp, anh Thọ chìa tay nắm tay tôi bóp chặt khiến tôi nhăn mặt. Đoạn, anh ngật ngừng nói tiếp:
- Mày bị tố cáo là trong lúc bị thất lạc, tách khỏi đội hình của tiểu đoàn rất vô kỷ luật, không chấp hành mệnh lệnh chỉ huy chung của người có quân hàm cao nhất, tự ý đưa bộ đội phối hợp cùng dân quân ở Táp Ná... Rồi còn nhiều chuyện khác nữa như để chiến sĩ dưới quyền vào bản tự ý lấy ngô, lúa của dân…
- Ơ…
Tôi há hốc mồm ngỡ ngàng vì những điều mà anh Thọ nói. Trong lúc bị thất lạc, lang thang trong vòng vây của quân thù bộ phận nào chả phải xuống các bản làng để kiếm tìm lương thực, nhặt củ khoai, củ sắn, bắp ngô của dân để lại mà ăn để có sức mà chiến đấu, mà tìm về đơn vị cũ. Vì lúc đó có được tiếp tế gì đâu. Nhưng nếu nói như thế này thì quả tôi vi phạm kỷ luật nghiêm trọng thật rồi. Tôi chợt thấy lo lắng hoang mang.
Anh Thọ ngần ngừ một lát rồi nói thêm:
- Nghiêm trọng nhất là... là mày còn bị tố cáo trong lúc đang bị quân địch bao vây còn sử dụng cả thuốc phiện nữa đấy!
Tôi càng thêm kinh ngạc khi anh Thọ cho biết là những sai phạm của tôi đã được đưa ra thảo luận tại một cuộc họp của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy tiểu đoàn đánh giá, bình xét công lao, thành tích của tập thể, cá nhân trong chiến đấu vừa qua. Anh Thọ không nói rõ nhưng tôi hiểu rồi. Người nêu ra những khuyết điểm của tôi chắc chắn không ai khác chính là trung úy Tuân. Tôi cũng chợt hiểu là vì sao mọi chuyện anh ấy đều đổ hết cho tôi?
Tôi cũng không thể giải thích được. Vì có ai hỏi lại tôi xem những chuyện ấy sai, đúng thế nào đâu mà phân bua sai đúng. Mọi việc cứ âm thầm diễn ra ở đâu đó thế thôi. Đại đội trưởng Tuân cũng đã được thăng quân hàm thượng uý và bổ nhiệm giữ chức vụ tiểu đoàn phó. Hiện giờ thì anh ấy cũng đã đi nhận nhiệm vụ tại một đơn vị huấn luyện ở tuyến sau, mãi dưới tận dưới Hoà An, gần thị xã Cao Bằng.
Lúc tạm biệt để lên đường anh Thọ cũng vẫn có vẻ còn ái ngại và băn khoăn cho tôi. Tôi cố cười cười bảo:
- Thôi, chuyện đã qua rồi, chả việc gì phải suy nghĩ mãi nữa. Chúc anh lên đường nhận nhiệm vụ mới tiếp tục công thành danh toại, thăng quan tiến chức đều đều như diều gặp gió nhé.
Anh Thọ đi rồi câu chuyện giữa tôi với Lợi và Mùi cũng tạm dừng vì sắp đến giờ sinh hoạt điểm danh buổi tối. Tôi chợt thấy lòng mình trống trải và buồn quá. Tôi đi bộ một lát qua nhà bưu điện cũ ra phía con đường vào bản Nà Nghiềng. Bất ngờ tôi gặp chính trị viên tiểu đoàn Hoàng Quốc Doanh từ phía Nà Cháo đi lên. Tôi chào anh. Anh Doanh nhìn tôi định nói điều gì song lại thôi. Nghe nói chính trị viên Hoàng Quốc Doanh đã được thăng quân hàm và bổ nhiệm giữ chức vụ cấp chỉ huy trung đoàn. Nhưng anh chưa đi vì còn một số công việc chưa bàn giao xong.
Tôi muốn chúc mừng anh được thăng cấp, lên chức nhưng cũng ngại lại thôi.
Tôi cũng đoán anh Doanh định động viên, an ủi tôi nhưng gặp giữa đường thế này không tiện nói. Còn tôi hiểu mọi sự đã an bài. Tôi chỉ lo lắng diễn tiếp không hay sẽ xảy ra. Bởi vì có những chuyện chả bao giờ phân định sai đúng một cách thật rõ ràng được đâu. Chiến tranh bản chất vốn dĩ đã hàm chứa sự phi lý thì những người tham chiến đừng nên bao giờ đòi hỏi sẽ có một sự hợp lý tuyệt đối? Nếu nâng quan điểm lên thì là tôi sai phạm rất rõ ràng. Sai ở chỗ là đã không chấp hành nghiêm túc mọi mệnh lệnh của người chỉ huy cao nhất theo điều lệnh chiến đấu của quân đội. Khi bọn địch bao vây ở Táp Ná tôi không chịu rút lui ngay còn cố tìm cách ở lại tham gia chiến đấu cùng dân quân. Sai nhất là ở chỗ để cho bộ đội tự ý lấy ngô lúa, bắt cá của dân. Bây giờ bà con dân bản có bỏ qua thì cũng vẫn là vi phạm kỷ luật dân vận. Nên nếu điều tra xác minh rõ ràng thì mình có khi mình lại nặng tội thêm. Tự suy luận tôi lại càng thấy lo lắng nhiều hơn. Thời gian này ở hướng Lạng Sơn đã có chiến sĩ phải ra toà án binh vì đã dùng súng bắn một con bò của nhân dân lấy thịt ăn. Chuyện của tôi chắc chả đến nỗi phải ra tòa án binh đâu, nhưng mà lỡ bị cảnh cáo, khiển trách hay phê bình (thời ấy chưa có hình thức “phê bình nghiêm khắc” như hiện nay) thì cũng là rất dở. Vào quân ngũ, người ta được khen thưởng mà mình bị kỷ luật thì còn ra làm sao nữa?
Nỗi lo lắng ấy khiến tôi cứ thấp thỏm hằng ngày...
(còn nữa) Hà Nội, tháng 2-2020


Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2020

Ghi chép CAO BẰNG - 1979 (phần 23)

CAO BẰNG - 1979 (phần 23)
Ghi chép của Trọng Bảo

Sau chiến tranh là việc thu dọn chiến trường, khôi phục trận địa, làm công tác thương binh, liệt sĩ. Cùng với đó là việc khen thưởng cho những người lập công trong chiến đấu. Những người lính có lẽ chẳng ai mong sẽ được nhận huân chương hay các danh hiệu này nọ nhờ có chiến tranh. Ai cũng mong chiến tranh đừng xảy ra, hòa bình vẫn tốt hơn. Nhưng khi chiến tranh đã xảy ra rồi, kẻ thù xâm lược đã đến thì những tấm huân chương, những danh hiệu cao quý luôn là niềm tự hào của những người đã chiến đấu, hi sinh để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Nhưng tấm huân chương nào thì cũng có hai mặt.
Một buổi trưa, đi đào công sự về mệt quá, ăn cơm xong tôi lăn ra ngủ. Vừa chợp mắt được một lát thì có người lay gọi:
- Dậy… dậy… ngay…
Tôi càu nhàu:
- Dậy làm gì, đào công sự cả buổi mệt đứt hơi chưa kịp ngủ đã gọi... gọi cái gì…?.
- Dậy đi, có việc gấp đây!
Khi đã nghe rõ tiếng chính trị viên Hoàng Quốc Doanh, tôi liền ngồi bật ngay dậy. Vốn lính chiến, quen những tình huống chiến đấu bất ngờ nên nghe tiếng của cấp trên gọi là tôi tỉnh ngay. Tôi vội quờ tay vớ luôn khẩu súng để trên đầu giường, nhảy xuống đất vội vàng đeo giày để phóng đi luôn. Anh Doanh phì cười:
- Mày định đi đâu đấy?
Tôi ngơ ngác hỏi:
- Chắc lại có bọn thám báo nó mò sang ạ?
- Thám báo nào? Cất súng đi ra đây tao bảo...
Lúc này tôi mới nhìn kỹ chính trị viên tiểu đoàn Hoàng Quốc Doanh. Anh ăn mặc khá chỉnh tề, tay đang cầm một cuộn giấy, nét mặt vui vẻ. Anh cười vì cái tính hấp tấp của tôi, cứ có ai gọi thì việc đầu tiên là tìm ngay khẩu súng. Âu đó cũng là tác phong của những người lính ở nơi đối diện với quân thù hằng ngày. Chúng tôi đã có mặt ở biên giới từ những ngày còn cùng nhau mặc quần áo dân thường đi rào biên giới, giành lại từng tấc đất, ném đá, đánh nhau bằng tay chân và gậy gộc với bọn lấn chiếm đất đai cho đến lúc nổ ra chiến tranh đấu súng, đấu pháo với chúng cho nên ai cũng có cái tác phong luôn luôn sẵn sàng ấy.
Anh Doanh bảo:
- Đem ngay cuốn sổ ghi chép của mày ra đây!
Tôi ấp úng:
- Cuốn sổ nào ạ?
- Cuốn nhật ký mà mày vẫn ghi chép tình hình chiến sự hằng ngày trong thời gian đánh nhau ấy!
Tôi chối ngay:
- Cuốn sổ ấy em đã đốt nó cùng các loại giấy tờ để đảm bảo bí mật theo lệnh của chỉ huy tiểu đoàn cái hôm trước khi vượt vòng vây quân địch ở Thông Nông sang Nguyên Bình rồi, còn đâu nữa ạ?
Anh Doanh trừng mắt:
- Mày đừng có nói dối! Tao biết, hôm ấy, mày chỉ đốt mỗi cuốn sổ ghi các sáng tác văn thơ thôi. Còn cuốn nhật ký ghi chép về tình hình chiến sự thì mày vẫn lén giấu trong người đem đi. Mang nó ra đây ngay…
Tôi cười hì hì:
- Làm sao anh lại biết ạ?
- Tao biết! Có chết, mày không bao giờ đốt cuốn sổ ấy đâu. Đem nó ra đây ngay! Có việc cần đấy!
- Có việc gì mà lại liên quan đến cuốn nhật ký của em ạ?
Chính trị viên Hoàng Quốc Doanh vừa đặt tập giấy xuống cái bàn ghép bằng mấy miếng ván kê giữa nhà vừa nói:
- Tiểu đoàn 3 chúng ta được đề nghị nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng. Do đó, phải chuẩn bị một bản báo cáo thành tích trong cuộc chiến đấu vừa qua. Mày văn hay, chữ tốt, lại chỉ huy mạng thông tin vô tuyến, nắm được toàn bộ diễn biến của các trận đánh nên chiều nay không phải đi đào công sự nữa mà ở nhà giúp chỉ huy tiểu đoàn viết bản báo cáo thành tích trong chiến đấu vừa qua, hiểu không?
Tôi đã hiểu rồi. Tôi rút trong túi cóc ba lô ra một cuốn sổ nhỏ tự đóng bằng loại giấy đen mặt nhẵn, mặt trơn lấm lem bùn đất. Ngồi xuống bên cạnh anh Doanh, tôi đặt lên bàn trước mặt anh cuốn nhật ký của mình. Tay tôi run run lật từng trang ghi chép trong chiến đấu. Anh Doanh cùng tôi đọc lại những trang viết vội vàng, mỗi ngày vài dòng tóm tắt tình hình trong những ngày gian khổ ác liệt ấy. Mấy ngày đầu còn ít mực tím thì tôi ghi rất rõ ràng, những ngày sau ghi bằng bút chì, ở trên núi đá nhiều sương mù, mưa ẩm nên nhòe mờ, rất khó đọc. Chính trị viên Hoàng Quốc doanh lặng người đi khi đọc những câu văn cộc lốc, những con số ghi chép trần trụi trong cuốn nhật ký của tôi về những chiến công về sự hi sinh của đồng đội. Những thông tin này trong khi chỉ huy chiến đấu chúng tôi cũng đã biết rất rõ, nhưng bây giờ đọc lại vẫn thấy nhói lên trong tim...
Chúng tôi hoàn thành bản báo cáo thành tích trong cuộc chiến đấu để cấp trên đề nghị xét phong tặng danh hiệu đơn vị anh hùng cho Tiểu đoàn 3. Rồi đây Tiểu đoàn 3 chúng tôi trở thành một đơn vị anh hùng, nhưng tự dưng tôi lại không thấy vui mừng mà chỉ thấy man mác một nỗi buồn, một nỗi buồn sau thẳm trong lòng khi biết bao nhiêu anh em, đồng đội, bạn bè thân thiết đã không còn nữa để đón nhận sự vinh quang này. Chính trị viên tiểu đoàn dặn tôi không được "bép xép" chuyện tiểu đoàn trưởng bỏ vị trí chỉ huy hôm 20-2, ngày mà bọn giặc tấn công ác liệt nhất vào thị trấn Sóc Giang. Anh không giải thích gì thêm nhưng tôi hiểu nếu chuyện này lộ ra thì tiểu đoàn tôi sẽ không được phong tặng danh hiệu anh hùng. Không ai phong anh hùng cho một đơn vị mà người chỉ huy cao nhất của đơn vị ấy lại bỏ vị trí của mình khi tình huống chiến đấu cam go. Sau này tôi càng hiểu thêm, một người chỉ huy dũng cảm, mưu trí như chính trị viên Hoàng Quốc Doanh cũng không thể được phong tặng danh hiệu anh hùng. Bởi vì nếu đề nghị tặng danh hiệu anh hùng cho anh Doanh thì anh sẽ phải báo cáo về trận đánh mà anh chỉ huy chiến thắng bọn Trung quốc xâm lược vang dội nhất ở thị trấn Sóc Giang ngày 20-2-1979. Lúc ấy, cấp trên, cơ quan thi đua khen thưởng khi xem xét người ta sẽ đặt câu hỏi: “Hôm đó tiểu đoàn trưởng đi đâu mà chính trị viên tiểu đoàn phải trực tiếp chỉ huy chiến đấu?”. Như vậy sẽ lộ ra chuyện tiểu đoàn trưởng bỏ vị trí chỉ huy khi ác liệt nhất. Và không khéo thì tất cả sẽ "xôi hỏng, bỏng không"...
Sau khi hoàn thành bản báo cáo thành tích chính trị viên Hoàng Quốc Doanh còn dặn tôi: “Mày phải giữ cuốn sổ ghi chép này thật cẩn thận nhé!”. Chính trị viên Hoàng Quốc Doanh đi rồi, anh em trong tiểu đội vẫn chưa đi đào công sự về, chỉ còn một mình tôi. Tự dưng nỗi buồn sâu thẳm ấy cứ dâng dâng lên mãi trong tôi.
Tôi bước ra khỏi lán ngước nhìn lên bầu trời. Có một cơn giông gió đang cuồn cuộn dâng lên từ phía Bắc. Mây đen vần vũ trên những đỉnh núi đá lởm chởm nơi biên thùy. Nơi mảnh đất cuối cùng Tổ quốc này tiếng súng vẫn chưa một ngày lắng im…
Sau chiến tranh nhiều việc phải làm. Tình hình biên giới vẫn căng như sợi dây đàn. Bọn địch vẫn liên tục tung thám báo sang đất ta trinh sát. Thỉnh thoảng hai bên lại xảy ra những vụ nổ súng lẻ tẻ. Vẫn có những người ngã xuống vì chạm súng hoặc vướng phải mìn bọn địch gài lại. Phía biên giới Hà Giang vẫn tiếp tục xảy ra những trận đánh lớn ở Vị Xuyên. Quân xâm lược phương Bắc hôm nay giống như cha ông chúng ngày xưa chưa bao giờ từ bỏ dã tâm thôn tính, đô hộ nước ta.
Tiểu đoàn 3 chúng tôi dần ổn định vị trí đóng quân. Những ngôi nhà nửa chìm nửa nổi trên chốt vừa là chỗ ăn nghỉ, vừa làm công sự chiến đấu khi cần thiết. Cùng với việc xây dựng trận địa, ổn định nơi ăn ở, các đơn vị bắt đầu việc bình xét, khen thưởng những người có thành tích trong chiến đấu. Nhiều người được tăng huân chương chiến công, được thăng quân hàm vượt cấp nhờ những thành tích, chiến công đã lập được. Một số cán bộ cũng được bổ nhiệm chức vụ mới. Phần lớn là lên một chức. Anh em trong cơ quan tiểu đoàn bộ và các đại đội đều được thăng quân hàm, bổ nhiệm chức vụ, được xem xét bồi dưỡng để kết nạp vào đảng, được cử đi học tập, đào tạo để làm cán bộ... Duy chỉ có mình tôi là không được phong quân hàm, đề bạt chức vụ và khen thưởng gì.
Thằng Lợi, tiểu đội trưởng hữu tuyến có vẻ thắc mắc cho tôi. Nó nói:
- Tại sao mày trong chiến đấu nhiệm vụ nào cũng hoàn thành tốt mà lại chả được khen thưởng, thăng quân hàm, cất nhắc chức vụ gì nhỉ? Nói thậ với mày, cũng là lính thông tin, tao biết nếu không có mày cùng anh em tiểu đội vô tuyến giữ vững được liên lạc trong mọi tình huống thì đơn vị ta không thể đánh và chiến thắng được. Đường dây của tiểu đội tao đứt liên tục, nối không kịp, khi nó bao vây kín xung quanh thị trấn Sóc Giang thì chịu hẳn, truyền đạt cũng không thể kịp với các tình huống chiến đấu rất khẩn trương...
Tôi bảo:
- Thôi mày ạ! Sau chiến tranh còn giữ được cái chỗ đội nón để trở về quê quán là tốt lắm rồi.
Thằng Lợi vẫn không chịu. Nó băn khoăn:
- Tao vẫn không hiểu nguyên nhân gì mà sau chiến tranh mày chả được cái gì nhỉ?
Tôi lắc đầu bảo nó:
- Quên chuyện khen thưởng của tao đi. Thế còn mày, nhận huân chương rồi, thăng quân hàm vượt cấp, lên chức mới rồi có khao tao gì không?
Thằng Lợi gật đầu:
- Hôm nào tao đi nhận nhiệm vụ ở đơn vị mới tao với mày phải chén một bữa, uống cho đã để chia tay nhé?
Thằng Lợi nói mà vẻ mặt nó vẫn không vui. Tôi biết nó đang rất băn khoăn, trăn trở, thắc mắc về chuyện của tôi. Tôi cũng thấy hơi buồn. Tôi nghĩ công lao của mình trong cuộc chiến đấu vừa qua cũng chỉ là một hạt cát trên sa mạc bao la, là một giọt nước giữa đại dương mênh mông. Nhưng thôi, mình chẳng được tặng thưởng cái gì thật to tát thì cũng không sao. Tôi chỉ ước mong mình được thăng lên một cấp quân hàm, từ hạ sĩ lên trung sĩ thôi cũng được? Để sau này khi xuất ngũ quân về quê làm ruộng, mỗi lần bạn bè cùng trang lứa hỏi tôi sẽ nói: “Trong cuộc chiến tranh biên giới tao cũng có công lao, được phong quân hàm từ hạ sĩ lên trung sĩ!”. Mặc dù nếu xét về niên hạn thì tôi cũng đeo quân hàm hạ sĩ cũng đã gần bốn năm rồi, nhưng gắn chút lửa khói chiến tranh vào cũng thấy lòng mình đôi chút thanh thản.
Chuyện không được khen thưởng, thăng cấp, đề bạt chức vụ như các anh em khác khiến tôi cũng buồn đôi chút. Nhưng việc tôi quan tâm hơn sau chiến tranh là bắt đầu thu thập các tư liệu về cuộc chiến đấu vừa qua để hoàn thành tập ghi chép về chiến tranh của mình. Một cuộc chiến tranh theo tôi nghĩ nó sẽ được ghi dấu vào lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc ta. Tôi đã ghi chép được rất nhiều tư liệu quý. Lao động, huấn luyện, công tác mệt mỏi nhưng ngày nào tôi cũng cố giành thời gian để ghi lại những gì mình nghe được. Nhiều anh em, chiến hữu đã cung cấp cho tôi những tư liệu, tình tiết rất có giá trị, hấp dẫn trong cuộc chiến đấu vừa qua...
Câu chuyện về bản thành tích của tiểu đoàn 3 mà tôi được tham gia chắp bút và câu chuyện của riêng tôi là một góc khuất trong chiến tranh. Sau bốn mươi năm, tôi không còn ngại khi đề cập đến. Bây giờ thì mọi việc đã qua lâu rồi, buồn vui cũng chỉ là quá khứ, dù sương khói và hồn liệt sĩ vẫn còn quẩn quanh nơi biên ải xa xôi...
(còn nữa) Hà Nội, tháng 2-2020

Thứ Tư, 26 tháng 2, 2020

Ghi chép CAO BẰNG - 1979 (phần 22)

CAO BẰNG - 1979 (phần 22)
Ghi chép của Trọng Bảo

Chúng tôi quay trở lại thị trấn Sóc Giang. Thị trấn Sóc Giang đổ nát hoang tàn. Một tháng trước, nơi đây chính là “tọa độ lửa”, là nơi bao nhiêu đồng đội của chúng tôi đã ngã xuống. Máu của họ vẫn như còn đọng trên mặt đất rưng rưng. Cũng chính tại nơi đây Tiểu đoàn 3 chúng tôi đã bẻ gãy bao nhiêu đợt tấn công vô cùng ác liệt của kẻ thù xâm lược, tiêu diệt hàng trăm tên địch, bắn cháy gần chục chiếc xe tăng của chúng.
Nhưng rồi, đơn vị chúng tôi đã phải rút lui để không bị tiêu diệt hoàn toàn trước sức tấn công ác liệt, liên tục của quân xâm lược với chiến thuật "biển người". Một cuộc rút lui còn gian lao, nguy hiểm hơn là một trận đánh mặt đối mặt với quân thù. Bây giờ chúng tôi, những người còn sống quay trở lại thị trấn biên giới Sóc Giang. Hình như mọi người ai cũng có chung một tâm trạng bùi ngùi.
Kẻ thù đã bị đánh lui, những tên bành trướng đã phải kéo nhau tả tơi tháo chạy về nước. Nhưng cái cảm giác chiến thắng, cảm giác tự hào trong những người lính chúng tôi rất mờ nhạt, hầu như không có. Không có cái niềm vui háo hức, tưng bừng của ngày 30-4 năm nào, chỉ có nỗi bàng hoàng, xót xa về sự tàn phá khủng khiếp, về sự mất mát quá lớn của chiến tranh. Một vùng biên giới hoang tàn. Chẳng còn một bóng người dân nào trong thị trấn, chẳng còn một tiếng gà gáy, chó sủa trong những bản làng dọc đường hành quân. Chúng tôi là những người đầu tiên trở về thị trấn Sóc Giang sau chiến tranh. Đoàn quân súng luôn cầm trong tay, cảnh giác, lầm lũi bước đi trong sự hoang vắng lạnh lẽo, thê lương. Sau trận chiến, một đội hình cán binh quần áo tả tơi, bẩn thỉu. Nhiều người băng còn quấn trên đầu loang lổ màu máu, cánh tay bị thương gãy còn treo lên cổ.
Dọc con đường từ Quý Quân qua bản Nà Nghiềng vào thị trấn Sóc Giang còn in đậm những dấu vết khốc liệt của những trận đánh. Mùi xác chết của người và động vật thối rữa khăn khẳn khắp nơi. Chỗ nào cũng gặp những quả mìn bọn địch gài lại trước khi rút đi. Bộ phận công binh đi trước mở đường. Chúng tôi phải rất thận trọng đặt bước chân theo dấu đã vạch sẵn trên đường của công binh. Người đi sau bước đúng dấu chân của người đi trước để tránh dẫm vào bẫy mìn, vật nổ. Vậy mà vẫn có người bị vướng vào mìn do bọn giặc gài lại. Loại mìn bộ binh của Trung Quốc rất lợi hại. Khi người đạp mìn nổ xé nát hết bắp chân, tháo khớp gối hoặc khớp đùi vẫn không cứu được vì da thịt cứ tiếp tục hoại tử thối dần lên đến bụng, đến nội tạng là chết. Thượng sĩ Trần Quang Tuyến, trung đội trưởng ở Đại đội 9 đã bị vướng vào loại mìn này được cấp cứu và đưa về tuyến sau, không biết tính mạng ra sao?
Đội hình hành quân một hàng dọc chậm chạp vừa đi vừa quan sát xung quanh. Không ai nói một câu nào chỉ nghe tiếng thở dốc của những người mang vác nặng ở bộ phận hoả lực, tiếng thì thào truyền đạt mệnh lệnh theo dọc hàng quân.
Các đơn vị về đến vị trí trú quân. Đại đội 11 lên khu vực bản Cốc Vường, chuẩn bị triển khai việc khôi phục lại trận địa phòng ngự trên các chốt cây đa đối diện cửa khẩu Bình Mãng. Đại đội 9 ở bản Cốc Nghịu, Đại đội 10 ở bản Nà Nghiềng, Đại đội 12 tiếp tục trở lại các trận địa hỏa lực trên Lũng Mật, Lũng Vỉ. Chỉ huy và cơ quan tiểu đoàn về tại các bản Kép Ké, Cốc Sâu là nơi ngày 20-2 bọn địch tập kết để tấn công vào chốt của Đại đội 10, hang huyện ủy và thị trấn Sóc Giang. Tại bản Kép Ké dấu vết chiến tranh vẫn còn hiện hữu. Tôi đã trèo lên vị trí khẩu 12ly7 của Đại đội 16 ở mỏm núi đá gần bản Kép Ké. Khẩu đội 12ly7 này đã bắn xối xả vào lưng, vào gáy bọn bành trướng để chi viện cho Đại đội 10 bảo vệ trận địa. Tôi cũng đã mò lên hang huyện ủy giữa thị trấn Sóc Giang. Hang đá đã bị bọn địch dùng một lượng thuốc nổ lớn để phá. Cửa hang bị vỡ toang hoác như miệng một con cá sấu.
Tất cả nhà cửa, công trình khu vực thị trấn Sóc Giang, xã Sóc Hà còn sót lại sau các trận pháo kích đều bị bọn địch phá hoại trước khi rút lui. Cột điện cao thế, điện thoại bị ép thuốc nổ đánh gãy ngổn ngang khắp cánh đồng. Bọn chúng dùng thuốc nổ phá hết các loại cầu cống to nhỏ, các công trình dân sinh. Bọn chúng còn đang tâm phá sập cả cửa hang Pác Bó, nơi Chủ tịch Hồ Chí Mình đã ở năm 1941. Thị trấn Sóc Giang, xã Sóc Hà giống như vừa qua một trận B52 của Mỹ và còn tan nát hơn nhiều. Bọn giặc ở dưới mặt đất chúng có điều kiện để tàn phá kỹ hơn, triệt để hơn. Nhìn cảnh đổ nát, tan hoang ở Sóc Giang đến mức ghê gớm như này, anh Doanh đã phải thốt lên bảo tôi:
- Bọn giặc bành trướng Trung Quốc đúng là “những B52 mặt đất” đấy mày ạ!.
- Đúng là như vậy anh ạ!
Tôi thấy điều anh nhận xét thật sâu sắc và chuẩn xác. Bởi tôi cũng đã được chứng kiến cảnh thành phố Việt Trì sau trận bom B52 của đế quốc Mỹ rải thảm tháng 12 năm 1972.
Đoạn đường từ ngã ba Đôn Chương lên thị trấn Sóc Giang chưa thông. Các loại mìn của ta và của địch gài trên đường lực lượng công binh chưa dò gỡ hết. Mặt đường bị băm nát bởi các hố đạn pháo. Chúng tôi phải cuốc bộ về ngã ba Đôn Chương, về Nà Giàng nhận vũ khí, trang bị và lương thực, thực phẩm. Đường đi phải theo sự chỉ dẫn của công binh để tránh vướng mìn. Khi đi lấy vũ khí, quân trang, gạo ở ngã ba Đôn Chương tôi gặp các anh em, bạn bè ở Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 1 và cơ quan trung đoàn bộ mới biết nhiều người quen thân đã hy sinh như Thiếu tá Nguyễn Khắc Đễ, phó chính ủy trung đoàn, Thượng úy Nguyễn Văn Bính, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1. Ở cơ quan trung đoàn là hai nữ văn thư bảo mật... Tôi cũng đã nghe và ghi chép lại được nhiều câu chuyện về cuộc chiến tranh vừa xảy ra.
Một buổi sáng khi chúng tôi đang đào công sự, xây dựng trận địa trên chốt thì có một chiếc máy bay trực thăng từ phía Đôn Chương bay lên. Đó là chiếc trực thăng chở tướng Đàm Quang Trung, tư lệnh và các cán bộ quân khu lên thị sát biên giới. Bay đến khu vực thị trấn Sóc Giang chiếc trực thăng lượn một vòng rồi bay tiếp lên phía cửa khẩu Bình Mãng. Cả tiểu đoàn tôi nhốn nháo khi chiếc trực thăng có hình quốc kỳ Việt Nam trên thân cứ phành phạch bay thẳng sang hướng Trung Quốc. Các đơn vị của Tiểu đoàn 3 lập tức báo động. Bên kia biên giới bọn địch cũng vội vã báo động chạy lên trận địa. Bay lên đến sát đường biên giới chỗ cửa khẩu Bình Mãng thì chiếc trực thăng đột ngột quay ngoặt lại vòng lên Lũng Mật rồi bay về đáp xuống sân ủy ban nhân dân huyện Hà Quảng, nơi chúng tôi đã dọn dẹp, cắm cờ đỏ xung quanh làm tín hiệu bãi hạ cánh cho trực thăng.
Khi trực thăng hạ cánh tướng Đàm Quang Trung chui ra mặt vẫn còn vã mồ hôi. Ông bảo mình tự tin thuộc địa hình, địa vật khu vực quê hương Sóc Giang như lòng bàn tay, không cần phải bản đồ. Ông nói với phi công cứ bay lên, lúc nào ông bảo hạ cánh thì hạ. Nhưng khi bay qua Sóc Giang ông đã không nhận ra vì thị trấn đã bị bọn giặc san phẳng rồi. Ông nói phi công cứ tiếp tục bay. Khi nhìn thấy thị trấn Bình Mãng với các khu nhà cao tầng không bị ảnh hưởng gì của cuộc chiến tranh vừa qua ông mới giật mình vội hô phi công bay lộn lại ngay. Suýt nữa thì xảy ra một tình huống xấu. Khi đi bộ qua thị trấn Sóc Giang, tướng Đàm Quang Trung càng kinh ngạc hơn bởi sự tàn phá ghê gớm của quân xâm lược.
Sau khi ổn định vị trí trú quân các bộ phận bắt đầu lên các vị trí chiến đấu đào bới tìm kiếm liệt sĩ. Khắp nơi mùi thối rữa của tử thi, xác động vật bốc lên thật là kinh khủng. Việc xác định, phân biệt hài cốt đâu là quân ta, đâu là địch, đâu là dân cũng thật khó khăn. Mặc dù trước khi chiến tranh xảy ra mỗi người đều có mã số riêng của mình in trong một mảnh bìa cứng để sẵn trong túi áo phòng khi hy sinh thì chôn theo sau này còn biết danh tính. Nhưng đánh nhau cả tháng trời nhiều người đã không giữ nổi mảnh bìa ghi mã số riêng của mình. Mà chớ trêu thay là người giữ được thì vẫn sống, người chết thì lại chẳng còn giữ được cái mã số để đánh dấu mộ chí của mình.
Mấy ngày sau, con đường xuôi về ngã ba Đôn Chương, về thị xã Cao Bằng đã được khai thông. Chuyến xe chở hàng đầu tiên đã lên tới thị trấn Sóc Giang. Đơn vị chúng tôi được tiếp tế lương thực, thực phẩm. Có một chút thịt lợn kho ướp muối. Mỗi thằng chúng tôi còn được phát một bộ quần áo mới, một đôi giày vải mới. Thằng nào cũng diện ngay quần áo mới, giày mới. Ăn uống tuy còn độn ngô, độn mỳ song cũng no hơn nên trông dáng vẻ lính tráng khoẻ khoắn hơn. Nhiều thằng trông hai má đỡ hóp hơn, mặt mũi đỡ bơ phờ hốc hác như những hôm đầu mới về thị trấn song chưa hết vẻ nhợt nhạt, hậu quả của dài ngày đói khát, gian khổ.
Song chúng tôi chưa kịp mừng thì xảy ra một chuyện. Đó là, khi tiểu đoàn bộị mới chuyển về vị trí bản Kép Ké Ná này trú quân, tiểu đoàn trưởng cho quân y kiểm tra nguồn nước. Nguồn nước mà các máng dẫn về bản từ rất xa trên núi. Dân bản thường đắp các đập trên núi rồi bắc máng dẫn nước tự chảy về bản. Y sĩ đơn vị chỉ đi đến chân núi rồi quay lại vì sợ lên núi vướng phải mìn hoặc gặp bọn thám báo của địch. Do đó, quân y tiểu đoàn không phát hiện là trong đập nước có mấy xác người chết đang thối rữa. Khi trời mưa xuống đã gây ô nhiễm nghiêm trong nguồn nước. Thế là cả đơn vị chúng tôi gần một tháng nấu ăn, lấy uống đã dùng nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng ấy. Thảo nào mà nước cứ có mùi hôi hôi. Bọn lính tráng chúng tôi lại toàn uống nước lã mới ghê chứ. Một số anh em trong đơn vị vì thế nên ngã nước, mặt bị sưng phù thũng lên chứ không phải là do sau chiến tranh bộ đội được ăn no nên béo khoẻ...
(còn nữa) Hà Nội, tháng 2-2020

Ảnh: Số phận của quân bành trướng xâm lược.