Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2018

Tiểu thuyết TRĂNG QUÊ (phần 6)

TRĂNG QUÊ (phần 6)
Tiểu thuyết của Trọng Bảo

Trong hình ảnh có thể có: Nguyễn Lê, ngoài trời

Xã đội trưởng Phạm Bản vốn là một thượng sỹ quân đội về phục viên. Thế nên anh có ít nhiều vốn kiến thức về quân sự, khi tình huống khẩn cấp xảy ra biết cách xử trí có hiệu quả nhất. Tỷ dụ như vụ việc người dân gây rối, ngăn cản việc dân quân đang triển khai làm trận địa hôm nay chẳng hạn. Nếu anh không xử trí kịp thời mà xảy ra xô xát đổ máu thì thật nguy hiểm, lực lượng dân quân và cả xã nữa sẽ mất thành tích thi đua như chơi. Đang lúc thời chiến khẩn trương thế này lơ là một chút là xôi hỏng bỏng không. Lo cho thành tích chung, xã đội trưởng Phạm Bản còn lo đến hậu quả xa hơn nếu lĩnh vực quân sự mà anh phụ trách xảy ra sự cố. Hiện xã đang khuyết một chân phó chủ tịch. Ông phó chủ tịch xã vừa được điều lên huyện làm trưởng phòng nông nghiệp vì anh này vốn là dân tốt nghiệp đại học ngành kinh tế. Chức phó chủ tịch ấy đang tìm chọn người. Thời chiến lãnh đạo thường có thiên hướng về cán bộ quân sự. Phạm Bản hy vọng vào vị trí ấy, là phó chủ tịch kiêm luôn chức xã đội trưởng. Chính vì thế nên anh luôn thể hiện sự cố gắng, trách nhiệm, năng nổ, xốc vác trong mọi công việc để lấy lòng lãnh đạo, tạo niềm tin với quần chúng. Việc đôn đốc, tổ chức xây dựng trận địa phòng không, huấn luyện và chiến đấu bắn máy bay Mỹ của trung đội dân quân làng Hạ do đích danh chủ tịch ủy ban hành chính xã Trần Khuông giao cho khiến xã đội trưởng Phạm Bản thêm hy vọng.
Lẽ ra ngay trong quân đội Phạm Bản có thể phát triển tốt. Vì anh là một người có năng lực.
Khi còn tại ngũ đơn vị anh đóng quân ở vùng đồi núi Đại Từ, Thái Nguyên. Phạm Bản là một cán bộ trung đội năng nổ, tháo vát, chỉ huy huấn luyện, quản lý bộ đội đều giỏi. Anh là cán bộ khung A, chuyên làm nhiệm vụ huấn chiến sĩ mới ở miền Bắc sau đó giao quân cho các cán bộ khung B đưa vào miền Nam chiến đấu rồi lại nhận đợt chiến sĩ mới khác huấn luyện tiếp. Cứ như thế, khung A huấn luyện, khung B đưa bộ đội ra trận, hết lớp này đến lớp khác như một guồng quay không ngừng nghỉ của các đơn vị quân đội thời chiến tranh chống Mỹ. Trong cái vòng quay ấy cũng có nhiều cán bộ khung A chuyển thành chỉ huy khung B vào miền Nam chiến đấu nhưng Phạm Bản thì vẫn cứ ở khung A mãi. Cấp trên đã có ý định cử anh đi học đào tạo tại trường quân chính quân khu để phát triển lên ngạch sĩ quan, làm cán bộ cấp đại đội. Anh được dự báo việc chuẩn bị đi học. Trong khi chờ đợi đi học khóa đào tạo vào năm học mới của trường quân chính thì có một sự cố khiến cuộc đời Phạm Bản bước sang một khúc ngoặt khác. Đó là thời gian cấp trên giao cho đơn vị khung A của Phạm Bản huấn luyện một lớp chiến sĩ mới toàn là nữ. Lớp chiến sĩ nữ này sau khi huấn luyện sẽ được đưa về các đơn vị thông tin, quân y.
Những cô gái trẻ măng, có người vừa mới tốt nghiệp phổ thông là xung phong vào bộ đội. Trong những cô gái trẻ trung căng đầy sức sống về trung đội Phạm Bản nổi lên một thiếu nữ rất đẹp và duyên dáng. Ngay lúc đầu gặp nàng, Phạm Bản đã sững sờ, mê mẩn. Nàng thật là đáng yêu. Tính tình, giọng nói, tiếng cười của nàng khiến anh như bị hút mất hồn. Không hiểu từ lúc nào, Phạm Bản đã thấy vô cùng yêu mến nàng. Một tình yêu hoàn toàn đơn phương nhưng đầy tự tin. Anh tin ở mình vì vừa tài hoa, vừa đẹp trai, lại là người chỉ huy trực tiếp của nàng. Phạm Bản luôn ưu ái, nâng niu, giúp đỡ nàng, khi huấn luyện, lúc hành quân hay lao động vào rừng lấy củi. Khi huấn luyện anh tận tình hướng dân, giúp đỡ nàng. Lúc hành quân anh mang giúp nàng bao gạo. Ngày nghỉ vào rừng lấy củi anh giúp nàng chặt cây… Anh dành cho nàng những món quà nhỏ, một bánh xà-phòng thơm, một phong lương khô 701.
Hình như Ngọc-tên người nữ chiến binh xinh đẹp nhất trung đội cũng hiểu được tình cảm mà người chỉ huy dành cho mình. Cô cũng thấy thinh thích khi thấy được quan tâm. Thân gái xa nhà, chiến tranh chả biết tương lai sẽ thế nào, được sự quan tâm là thấy yên lòng. Những lúc tập bắn thấy trung đội trưởng cứ dán mắt vào cái cổ áo chùng xuống của mình ban đầu cô cũng ngại ngùng, xấu hổ. Nhưng sau dần dần cô cũng thấy thinh thích. Có lần khi Phạm Bản đang đứng sát bên cạnh, cô còn làm động tác cúi xuống chuẩn bị nằm bắn để lộ cả một khoảng ngực áo sâu hun hút thấp thoáng hai vòng tròn nõn nà, căng mọng khiến cho khẩu lệnh của trung đội trưởng hơi run run.
Phạm Bản say mê trong công tác lại chiếm được cảm tình của một nữ chiến sĩ xinh đẹp nhất trong đơn vị khiến cho có người luôn luôn theo dõi, để ý. Người đó chính là tay trung đội phó của anh. Thực ra, tay trung đội phó tên là Lê Thanh Tục này không phải là ghen tỵ với việc Phạm Bản được đám tân binh nữ xúm quanh mà hắn ghen tỵ với tài năng của anh. Lẽ ra cái xuất đi học sĩ quan tại trường quân chính quân khu phải thuộc về hắn. Ông chú là cán bộ ở phòng tác chiến quân khu đã nhăm nhe dành cho hắn. Chẳng may, ông ta chưa kịp xuống làm việc với đơn vị thì bị trúng bom ở cầu Gia Bảy khi đang kiểm tra đơn vị chiến đấu bắn máy bay Mỹ bảo vệ cầu. Ông chú chết, chẳng còn người nâng đỡ, khi xét duyệt cử người đi học sĩ quan ai còn để ý đến hắn nữa. Nay thấy việc trung đội trưởng Phạm Bản quấn quýt bên cô chiến sĩ mới hắn cảm thấy hình như thời cơ dành cho mình đã đến. Lê Thanh Tục luôn để mắt đến trung đội trưởng của mình và theo dõi chặt chẽ đám nữ binh. Về chức trách thì hắn là cấp phó và còn là bí thư chi đoàn thanh niên. Phạm Bản vô tư, không biết mình đang đi vào một cảnh huống đặc biệt. Khi đơn vị chuẩn bị kết thúc thời gian huấn luyện cho các chiến sĩ nữ thì tình huống ấy xảy ra. Đó là đêm trước khi các chiến sĩ nữ chia tay nhau để về các đơn vị mới.
Đêm cuối tháng. Ánh trăng mùa thu cũng mỏng và lạnh. Đơn vị huấn luyện tân binh đã yên ắng mặc dù đêm nay các chiến sĩ được thức khuya hơn sau bữa liên hoan để ngày mai và những ngày tếp sau đó có các chiến sĩ nhận nhiệm vụ về đơn vị mới. Khi trung đội đã tắt đèn đi ngủ một lúc lâu, không còn tiếng rì rầm ở các lán trại thì trung đội phó Lê Thanh Tục se sẽ ngồi dậy. Hắn vớ khẩu AK và chiếc đèn pin nhẹ nhàng đi ra ngoài. Không phải là đi kiểm tra đơn vị hay đốc gác mà hắn lên nhà chỉ huy đại đội. Lê Thanh Tục gõ cửa phòng đại đội trưởng.
- Ai đấy! - Trong nhà có tiếng người hỏi.
- Báo cáo đại đội trưởng! Em là Lê Thanh Tục, trung đội phó trung đội 3 đây ạ!
- Có việc gì thế?
- Báo cáo! Có chuyện rất khẩn cấp ạ!
Đại đội trưởng Thiêm vội mở cửa. Trung đội phó Lê Thanh Tục thì thào thông báo tình hình. Đại đội trưởng hốt hoảng quát:
- Phát lệnh báo động tập hợp toàn đơn vị ngay!
Trung đội phó Tục vội ngăn đại đội trưởng:
- Không nên phát lệnh báo động! Làm như vậy thì không bắt được quả tang đâu ạ!
Đại đội trưởng Thiêm ớ người:
- Đúng vậy!
Đại đội trưởng Thiêm vội quay vào trong nhà lật gối lấy khẩu súng ngắn và chiếc đèn pin, gọi thêm một chiến sĩ liên lạc rồi hạ lệnh tiếp:
- Đi theo tôi ngay. Nhẹ nhàng thôi kẻo thấy có động họ bỏ chạy mất.
Phó trung đội trưởng Lê Thanh Tục xách súng vọt lên trước dẫn đường. Ba người chạy lên phía đỉnh đồi có những bụi cây sim, cây mua lúp súp. Họ không chiếu đèn mà mò mẫm theo ánh trăng mờ đi theo lối mòn ngược dốc.
Đến mé đồi phía đông ba người dừng lại thì thào hiệp đồng xử lý tình huống.
Bất ngờ cả ba chiếc đèn pin bật sáng soi rõ một khoảng đồi dưới gốc gây màng tang. Dưới ánh đèn, họ nhìn thấy hai người đang nằm bên nhau. Bàn tay của trung đội trưởng Phạm Bản còn luồn trong ngực áo của người nữ chiến sĩ xinh đẹp nhất đơn vị. Còn bàn tay của nàng thì đang nắm chặt một nhành cây sim. Hai người vừa thiếp đi một lát sau những phút ái ân và dồn toàn bộ sức lực cho nhau. Trên khuôn mặt hai người còn vấn vương sự rạng ngời sung sướng, thoả mãn. Đôi uyên ương đang chìm trong miên man chợt giật bắn người khi ánh đèn pin dọi sáng rực và một tiếng thét vang: “Nằm yên. Không được cử động!”. Theo phản xạ tự nhiên, cả hai nhoáng nhoàng bật ngồi dậy. Trung đội trưởng Phạm Bản rút vội tay ra khỏi ngực áo của người nữ chiến sĩ. Còn Ngọc thì lập cập cài lại khuy áo. Hai người đều hoảng hốt vì bị bắt quả tang. Rồi, cả hai bước líu ríu bên nhau trước mũi súng của đại đội trưởng Thiêm và trung đội phó Lê Thanh Tục. Họ bị dẫn giải về doanh trại như những kẻ phạm tội. Mà như vậy thì đúng là phạm tội nghiêm trọng rồi. Cùng với việc bắt quả tang, đại đội trưởng Thiêm và trung đội phó Lê Thanh Tục còn thu được tang vật là chiếc xu-chiêng màu đỏ chói vướng một cành cây sim.
Ngay sau đó là những cuộc kiểm thảo triền miên, hết chi đoàn lại đến trung đội, đại đội. Ngọc gầy rộc đi. Đôi mắt rất đẹp của nàng thâm quầng vì những đêm ngồi viết tường trình và kiểm thảo.
Trung đội phó Lê Thanh Tục chủ trì các buổi sinh hoạt của trung đội và của chi đoàn để kiểm điểm hai người. Anh ta đề nghị lên trên xét hình thức kỷ luật loại ngũ cả hai. Việc có thể sẽ phải trở về quê hương trong lúc cả nước đang hướng ra tiền tuyến không khác gì những kẻ đào ngũ khiến cả hai đều vô cùng hốt hoảng. Ngọc khóc đến cạn nước mắt. Trong khi chờ trên quyết định hình thức kỷ luật Ngọc bị đưa xuống bộ phận nuôi quân chuyên chăn lợn sau đó chuyển vào đơn vị công binh tuyến lửa. Trung đội trường Phạm Bản bị giáng chức và thuyên chuyển sang đội sản xuất gồm chủ yếu là những phần tử "Bê quay" đang lao động dọn dẹp lòng hồ núi Cốc. Gần một năm sau thì anh được ra quân.
Về địa phương do có vốn kiến thức quân sự nên Phạm Bản được gọi vào lực lượng dân quân. Dần dần với sự phấn đấu, công tác tốt lại có khả năng chỉ huy anh được đề bạt lên làm cán bộ quân sự cấp xã. Một lần đi dự lớp tập huấn phòng không nhân dân ở trên tỉnh Phạm Bản bất ngờ gặp lại người cùng đơn vị cũ thời anh còn ở Thái Nguyên. Hôm ấy, sau khi nghe giới thiệu về nguyên tắc tổ chức trận địa bắn máy bay bay thấp bằng súng bộ binh, đến giờ giải lao mọi người tản vào các gốc cây có bóng mát ngồi nghỉ. Phạm Bản đang đi cùng anh xã đội phó ở xã bên thì chợt có ai đó vỗ bộp vào vai nói:
- Chào đồng hương...
Phạm Bản quay ngoắt lại. Đó là một sĩ quan đeo quân hàm trung úy, khẩu súng ngắn đeo sệ bên hông, cái xà-cột da đen khoác chéo qua vai. Phạm Bản nhận ra ngay đó là Lê Thanh Tục - cấp dưới của mình khi anh còn ở trong quân ngũ. Vẫn cái bản mặt đen đen, đôi mắt hum húp và cái mũi sần sùi. Chỉ có khác là bây giờ trông hắn có vẻ oai vệ hơn, không dúm dó như thời ở khung A huấn luyện tân binh trên đất Đại Từ, Thái Nguyên. Sau vụ có công phát hiện, theo dõi giúp chỉ huy đại đội bắt quả tang “gian phu-dâm phụ” nên Lê Thanh Tục được cử đi học tại trường quân chính quân khu. Xuất đi học sĩ quan ấy lẽ ra là của Phạm Bản. Ra trường, Lê Thanh Tục về công tác tại ban dân quân của tỉnh đội. Lê Thanh Tục ưỡn ngực giơ thẳng cánh tay phải ra.
Phạm Bản không bắt tay Lê Thanh Tục mà lập tức quay đi. Lê Thanh Tục bị bẽ mặt trước nhiều người song vẫn cố vớt vát nói vóng theo:
- Cái đồ… đồ chết vì gái… lại còn sĩ…
Câu nói ấy của Lê Thanh Tục cứ đeo đuổi Phạm Bản mãi. Đúng là nhiều người chết vì gái. Lẽ ra Phạm Bản có thể thăng tiến xa rồi nếu không xảy ra vụ đồi sim năm ấy. Hóa ra cái thứ ấy của đàn bà ghê thật. Nó có thể làm cho nhiều người "rụng mất sao, cào mất gạch, cách mất chức” chứ chẳng phải chuyện đùa. Vậy mà ai cũng thích đụng chạm vào "cái ấy" của chị em cho dù có mất hết. Bây giờ phụ trách trung đội dân quân cũng toàn là gái thế này khiến xã đội trưởng Phạm Bản lại nhớ đến chuyện thời quân ngũ không xa…
(còn nữa) Hà Nội, 10-2015


ThíchHiển thị thêm cảm xúc

Thứ Năm, 14 tháng 6, 2018

Tiểu thuyết TRĂNG QUÊ (phần 5)

TRĂNG QUÊ (phần 5)
Tiểu thuyết của Trọng Bảo

Trong hình ảnh có thể có: núi, bầu trời, đám mây, ngoài trời, thiên nhiên và nước


Trung đội dân quân thường trực làng Hạ bắt đầu xây dựng trận địa ở khu vực Đồi Ma. Quả đồi này màu đất đỏ sậm tựa như màu máu khô. Cây cối trên đồi khá xanh tốt, rậm rạp nhưng toàn là các loại cây tái sinh và nhưng bụi sim, mua mọc khắp đồi. Trên sườn đồi phía bắc có một hòn đá to liền khối nổi lên màu sám xịt. Một cây đa trùm rễ lòng thòng ôm quanh hòn đá. Nghe các cụ kể lại ngày xưa bọn Tàu đào hầm ngầm giấu vàng bên dưới hòn đá. Bọn chúng lùng bắt con gái đồng trinh cho ngậm sâm, khâu miệng lại rồi chôn sống xung quanh làm thần giữ của. Những người con gái chết trẻ biến thành ma đêm đêm hiện hình đi lại vất vờ quanh hòn đá, tiếng kêu khóc của họ thật lâm li, ai oán. Chuyển thực hư chẳng biết thế nào nhưng ngang thân hòn đá hướng bắc có một cái hốc lõm sâu vào. Không biết tự bao giờ đã có một cái bát hương đặt ở trong hốc đá. Thỉnh thoảng vẫn thấy những túm chân nhang còn rất mới. Một dạo người ta đồn rằng cái bát hương ấy là đồ cổ rất quý hiếm, có từ mấy trăm năm, hoặc cả ngàn năm trước, trị giá đến hàng chục triệu đồng nên bọn săn đồ cổ thường lởn vởn trên Đồi Ma. Cái bát nhang có khắc chìm hình rồng phượng ấy biến mất sau một đêm mưa. Nhưng rồi nó lại trở về đúng chỗ cũ. Nghe đâu có một thằng tham tiền dám cả gan lấy trộm cái bát nhang cổ ấy. Nhưng nó đem về đến nhà chưa kịp bán thì đã gặp báo mộng diệt gia, cháy nhà, tiệt diệt hết gia cầm, gia súc, lụn bại cả họ hàng. Ban đầu, thằng ăn cắp không tin, song sau một đêm đột nhiên hai con trâu nhà nó lăn ra chết, thằng con lớn đang đi học bỏ chạy về nhà trợn ngược mắt đứng giữa sân há hốc mồm không nói gì. Thằng ăn cắp cái bát nhang hoảng sợ quá vội và đem đến trả lại còn phải sắp lễ vật cúng bái. Dân làng Hạ chỉ biết đúng là có chuyện cúng bái chập cheng suốt cả đêm trên Đồi Ma. Sáng hôm sau có người lên xem còn thấy dấu vết đốt vàng mã, dấu máu động vật và lông gà vương vãi khắp đỉnh đồi. Sau bận ấy, không ai còn dám động đến cái bát nhang trong hốc đá ấy nữa.
Đồi Ma nằm trên trục thẳng lên hướng cây cầu sắt trên quốc lộ 2C đến núi Tam Đảo. Do đó khi máy bay Mỹ bổ nhào từ trên dãy núi Tam Đảo xuống ném bom cầu sẽ lọt vào tầm ngắm của những cây súng bộ binh của dân quân. Khi chúng bay thấp để tránh ra-đa phòng không cũng sẽ phơi bụng khi bay qua trận địa Đồi Ma. Chính vì vậy nên Đồi Ma thành đắc địa để xây dựng trận địa phòng không bắn máy bay tầm thấp bằng súng bộ binh.
Để xây dựng trận địa, trung đội dân quân phải chặt hết cây cối trên đỉnh đồi và phải cưa bỏ một cành đa chìa về hướng bắc để khỏi vướng xạ giới. Chặt cây trên đỉnh đồi thì đám thanh niên còn dám làm còn việc trèo lân cây đa chặt cành thì không đứa nào dám. Trung đội trưởng Tình bảo thằng Nam trèo lên cây đa. Thằng Nam vốn là đứa liều lĩnh chẳng sợ gì ma quỷ. Nó dắt con dao tông vào lưng đu đám dây leo chằng chịt trèo lên cây đa. Khi nó vừa vung dao chặt được mấy nhát thì rú lên ngã nhào xuống. May là phía dưới cành đa cây cối, dây leo chằng chịt um tùm nó nhanh chân nhanh tay túm được nên ngã không đau lắm. Nó bám vào một cành cây treo lủng lẳng cách mặt đất đến gần chục mét. Cả trung đội hốt hoảng nhào đến. May có sẵn mấy cây tre đem lên làm lán trại. Mọi người hò nhau vác một cây tre đến dựng lên rồi giữ cho vững để thằng Nam ôm cây tre rồi tụt xuống đất. Hóa ra lúc nãy chỗ cành đa nó đang chặt có một tổ ong vò vẽ. Nó vung dao lên chặt cây chạm vào tổ ong nên bị đàn ong lao ra đốt. Cũng may mà khu đồi rậm rạp và tổ ong chưa bị vỡ nên khi thằng Nam ngã xuống lùm cây bên dưới đàn ong không đuổi theo. Tuy chả phải là chuyện ma quỷ gì song không ai còn dám lên chặt cái cành đa ấy nữa. Xã đội trưởng Phạm Bản quyết định xin công binh huyện đội về ép mấy lạng thuốc nổ đánh gãy cành cây. Khi cái cành cây ấy bị khối thuốc nổ đánh gãy gục cây đa trông xa giống như một người bị cụt mất một cánh tay.
Khi mọi người đang phát dọn cây cối, đào công sự trên đỉnh Đồi Ma thì có nhiều tiếng người xôn xao dưới chân dốc. Một toán người phần đông là phụ nữ rùng rùng kéo nhau lao lên. Vừa xông lên đồi họ vừa gào thét ầm ĩ. Toàn là các bà nạ dòng. Nhà họ ở dưới chân đồi. Một bà gào lên:
- Các anh chị định hại cả làng ta à…?
- Sao dám chặt cây, đào bới ở chỗ linh thiêng, nơi huyệt đạo thế này thì động mồ, động mả, đứt long mạch thì cả làng ta sẽ chết hết đấy…
- Ối giời ơi là giời ơi, họ định giết cả làng Hạ này bà con ơi!
Đám thanh niên dân quân dừng tay trèo lên bờ công sự ngồi nghỉ và nghe các bà kể lể, kêu gào. Họ không quan tâm chuyện ma quỷ, chỉ muốn nghỉ một lát lấy sức. Bữa ăn đạm bạc, cơm trộn toàn sắn đắng khiến họ nhanh mệt mỏi. Ngồi nghe đám dân làng bàn tán, kêu gào thỉnh thoảng thằng Hừng thọt lại chọc thêm một câu khiến cho mấy bà già càng thêm lồng lộn. Người trong làng kéo lên mỗi lúc một đông. Ai cũng can ngăn trung đội dân quân không nên đào bới, chặt cây cối, xây dựng trận địa trên Đồi Ma nếu không gây động địa thần linh, ma khách thì cũng sẽ thu hút bom đạn của bọn giặc Mỹ ném xuống làng xã. Mấy người quá khích còn xông vào giằng lấy cuốc xẻng của dân quân ném đi. Có người còn hô hào nhau cào đất san lấp các hầm hố, công sự của dân quân. Họ đạp đổ cả lái lán trú mưa nắng của dân quân vừa mới dựng xong trên đỉnh đồi. Nhiều tiếng chửi bậy, thách thức vang lên. Trung đội trưởng Tình hết sức lo lắng, lúng túng không biết xử trí tình huống này ra sao. Cuối cùng, không còn cách nào khác chị Tình đành kéo thằng ghé tai nói nhỏ. Thằng Nam gật đầu nhận lệnh của chỉ huy. Đoạn, nó vội bưng cái mặt bị ong đốt sưng húp lao vút đi. Thằng Nam chạy về làng thông báo cho ông Đạt đội trưởng biết tình hình đang diễn ra trên Đồi Ma. Ông Đạt vội vàng cho người báo cáo ngay lên ban chỉ huy xã đội. Một lúc sau ông Đạt cùng xã đội trưởng Phạm Bản và anh công an xóm hối hả chạy lên trận địa của dân quân làng Hạ.
Vừa lên tới đỉnh Đồi Ma, xã đội trưởng đã lớn tiếng quát trung đội trưởng Tình ngay lập tức tập hợp đơn vị triển khai phương án sẵn sàng chiến đấu. Đây đúng là một hành động, một âm mưu phá hoạt nhiệm vụ quân sự chứ không phải là chuyện bình thường. Vậy mà khi có tình huống xảy ra trung đội dân quân lại không xử lý được, để bị mất trận địa một cách quá dễ dàng thế này.
Thấy trung đội dân quân tập hợp, súng ống, gậy gốc lăm lăm đám đông quá khích mới tạm dịu đi. Trưởng công an xóm Vũ Sinh đảo mắt nhìn đám người đang nhốn nháo, phân loại nhanh các đối tượng rồi chỉ mặt người đàn bà to mồm nhất đám cảnh cáo:
- Bà là bà Chuyên phải không? Nhà bà ở tận bên kia sông tại sao lại có mặt phá hoại trận địa quân sự ở đây?
Bị điểm tên chỉ mặt bất ngờ, bà Chuyên chột dạ lúng túng:
- Tôi… tôi… đi bán hàng trong làng. Thấy chuyện xảy ra thì lên… lên… xem thôi…
Trưởng công an Vũ Sinh nghiêm khắc:
- Bà là người chuyên buôn gian, bán lậu, mua rẻ, bán đắt, móc ngoặc, tiêu thụ các loại hàng hóa bất chính tuồn từ trong của hàng mậu dịch quốc doanh ra bán với giá cắt cổ, gây nhiễu loạn thị trường xã hội chủ nghĩa. Bà biết đó là tội gì không?
- Tôi… tôi… không… không…
Mụ Chuyên lắp bắp và tìm cách lùi ra khỏi đám đông. Anh công an xóm tiếp tục cảnh cáo một người khác:
- Lão Vận kia nữa. Lão đã già cả rồi, hợp tác xã tạo công ăn, việc làm, cho chuyên trách việc vệ sinh quét chợ, vậy mà vẫn còn lên đây gây rối hả?
- Tôi… không phải… là…
Lão Vận ngớ người ra ấp úng. Lão định thanh minh nhưng đám đông ồn ào át cả tiếng lão. Lão không phải là lên để ngăn chặn việc dân quân xây dựng trận địa. Lão vừa đánh được một mẻ cá trên sông Đáy. Lão liền mang lên cho đám dân quân một ít. Không ngờ lúc lão lên lại đúng vào lúc đám người làng Hạ lên ngăn cản việc làm trận địa phòng không. Lão Vận bị chỉ trích oan. Người lão run run, tay lão xách xâu cá thêm nặng chĩu. Lão cố nói thêm một câu cho ra nhẽ nhưng chẳng ai thèm nghe lão. Mọi người còn đang to tiếng tranh luận phải trái, an nguy với nhau. Ông đội trưởng đội sản xuất làng Hạ thì ôn hòa. Ông nhỏ nhẹ vận động, nhắc nhở bà con nên về để ra đồng ra sức sản xuất nhiều ngô lúa chi viện cho tiền tuyến đánh giặc, không nên tụ tập đám đông làm những việc sai trái, thiển cận thiếu suy nghĩ, cản trở nhiệm vụ chiến đấu của dân quân, vi phạm pháp luật của nhà nước. Anh trưởng công an xóm thì tiếp tục nghiêm khắc nhắc nhở, cảnh cáo thêm một số phần tử tiêu cực, chậm tiến trong làng đang có mặt tại đây. Tuy vậy, hai cả thái độ cương nhu đều không có kết quả. Đám đông vẫn không đồng tình với việc dân quân xây dựng trận địa phòng không trên đỉnh Đồi Ma. Nhiều người lại bắt đầu to tiếng, vung chân, vung tay, manh động...
Đột nhiên, xã đội trưởng Phạm Bản thét to:
- Máy bay địch từ hướng thủ đô Hà Nội đang bay lên! Trung đội dân quân khẩn trương vào vị trí sẵn sàng chiến đấu!
Quả là có tiếng máy bay, hoặc là tiếng ô tô ầm ì phía xa xa. Đúng lúc ấy có một tiếng nổ to của máy bay tăng tốc phía bầu trời trên dãy núi Tam Đảo. Đám dân làng Hạ nhốn nháo hốt hoảng. Một rồi hai, ba người bỏ chạy. Thế là đám đông vội vàng tóe ra lao xuống chân đồi như vịt vỡ đàn. Nhìn đám người quá khích hoảng hốt tan tác chạy về làng, xã đội trưởng Phạm Bản cười thầm và nghĩ: “Đúng là cứ phải có chiến sự thì tình hình mới yên được! Mình xử lý tình huống này thật là xuất sắc”.
(còn nữa) Hà Nội, 10-2015


Thứ Ba, 5 tháng 6, 2018

Tiểu thuyết TRĂNG QUÊ (phần 4)

TRĂNG QUÊ (phần 4)
Tiểu thuyết của Trọng Bảo

Trong hình ảnh có thể có: bầu trời, đêm, thiên nhiên và ngoài trời

Lễ ra mắt trung đội dân quân trực chiến được tổ chức rất trọng thể tại khu rừng cọ phía sau làng Hạ. Buổi sáng mùa thu trời quang quẻ, ấm áp. Nắng sớm mai bừng lên. Rừng cọ xanh thắm rì rào reo trong gió nhẹ.
Thành phần trung đội dân quân chủ yếu là các đoàn viên thanh niên trong chi đoàn làng Hạ. Trung đội trưởng chính là chị Tình, bí thư chi đoàn. Xã đội trường Phạm Bản là người trực tiếp chỉ đạo công việc hàng ngày của trung đội dân quân trực chiến. Tại buổi lễ ra mắt trung đội dân quân làng Hạ còn có ông chủ tịch xã Trần Khuông và một sĩ quan từ huyện đội về dự. Viên đại úy này có vóc dáng lùn tịt, đậm chắc với nước da đen chùi chũi nhưng khẩu lệnh của anh ta thì lại rất dõng dạc, dứt khoát. Đây đúng là một nhà quân sự chính quy.
Đội hình trung đội tập hợp thành ba hàng ngang. Phía trước đội hình của họ là một khẩu 12ly7 chĩa nòng lên trời trông rất uy nghiêm. Sau khi anh xã đội trưởng công bố quyết định thành lập trung đội dân quân trực chiến là phát biểu động viên của chủ tịch xã, cuối cùng là phần quán triệt phương án tác chiến, hướng dẫn sử dụng các loại súng bộ binh bắn máy bay tầm thấp của anh đại úy cơ quan huyện đội.
Hừng “thọt” được biên chế vào tiểu đội 3. Trong đội hình tập hợp hắn đứng ở hàng dưới ngay sau lưng cái Liên. Suốt buổi lễ hắn chẳng nghe, nhìn được điều gì rõ ràng ngoài việc dán mắt vào lưng cái Liên. Cái Liên mặc chiếc áo phin mỏng màu trắng ngà làm nổi rõ cả các thứ “phụ tùng” bên trong. Nó đang mang cái nịt vú màu đen. Hừng “thọt” nuốt nước bọt mấy lần. Trong đầu óc hắn lúc này thì mọi phương án tác chiến của anh đại úy lùn đang phổ biến chẳng có ý nghĩa gì ngoài những ý nghĩ trong đầu. Trong khi đó thì đứng ở hàng phía cái Liên cũng đang nghĩ đến chuyện khác. Nó chợt ghé tai chị Nhân nói nhỏ:
- Cái ông đại úy kia lùn tịt thế kia chắc là “súng ống” của ông ấy cũng ngắn tun tũn thôi chị ạ!
Chị Nhân ngạc nhiên:
- Ông ta đang đeo khẩu CKC dài ngoẵng, báng súng gần chạm đất thế kia mà mày bảo là ngắn à?
Cái Liên huých nhẹ vào vai chị Nhân cười khúc khích:
- Không phải là khẩu CKC ấy mà là khẩu súng của ông ta đang giấu trong… người ý.
- Súng gì? - Chị Nhân ngơ ngác hỏi lại. Cái Liên ậm ờ:
- Súng… ấy mà chị không hiểu à?
Chị Nhân chợt hiểu. Chị thò tay sang véo mạnh vào lườn cái Liên một cái. Cái Liên đau quá kêu “á” lên rõ to khiến trung đội trưởng Tình phải quay lại nghiêm giọng khẽ nhắc nhở:
- Các đồng chí trật tự để nghe cho rõ các phương án chiến đấu, hiểu chưa?
- Vâng ạ!
Cái Liên đáp và cố làm ra vẻ nghiêm túc nhưng trong đầu óc nó thì sự tập trung thì vẫn chưa thật tốt cho lắm. Ông đại úy thì vẫn thao thao nói về các phương án, kế hoạch bắn máy bay địch bay thấp bằng sũng bộ binh. Ông ta chĩa khẩu CKC lên trời xoay xoay như đang rê theo máy bay địch làm mẫu hướng dẫn dân quân. Giọng ông đại úy oang oang vang trong thung lũng. Trong khi đó thì từ phía cái lán tạm làm nơi nấu nướng của bộ phận hậu cần mùi thịt chó đã tỏa ra thơm ngào ngạt. Thằng Hừng “thọt” tiếp tục nuốt nước bọt. Nó đang thèm thịt sống và cả thịt chín đến dỏ dãi. Nhìn như hút mắt vào tấm lưng tròn thon thả của cái Liên thằng Hừng nghĩ thầm: “Ở cái làng Hạ này con gái vất vả mà sao đứa nào cũng xinh đẹp, nước da trắng nõn. Vậy mà mình ngu, tự dưng đi lấy con gái thiên hạ về làm vợ. Con vợ mình da thì đen chùi trũi, tính tình thì cáu cẳn, mặt mũi lấm lem cả ngày, chỉ được mỗi chuyện ấy là giỏi. Giá mà nó được một phần của con Liên này thôi thì tốt quá!”…
Cái Liên đứng im chưa được một lúc đã ngọ ngoạy. Nó lại nghiêng người sang ghé tai chị Nhân thì thầm:
- Em không việc gì đâu chị ạ!
- Chuyện gì thế?
- Thì… em không bị đâu chị ạ. Em chỉ bị… chậm mấy hôm thôi, may quá!
Chị Nhân thì thào:
- Thế thì may quá! Lần sau mày phải cẩn thận đấy!
- Em biết rồi. Em vẫn cẩn thận đấy chứ… nhưng lúc ấy có muốn cẩn thận cũng chả kịp được… hi… hi…
- Mày thì chỉ được mỗi cái chuyện ấy… là giỏi thôi!
Cái Liên cười khi khí bảo:
- Nhưng chuyện… ấy thích lắm chị ạ!
Chị Nhân chưa kịp phản ứng thì có tiếng của trung đội trưởng Tình hô to “giải tán”. Buổi lễ công bố thành lập và quán triệt nhiệm vụ của trung đội trực chiến đã xong. Mọi người tóe ra cười nói vui vẻ chuẩn bị cho bữa liên hoan làm lễ xuất quân.
Bữa liên hoan của trung đội dân quân trực chiến làng Hạ diễn ra ngay trong thung lũng rừng cọ. Bàn tiệc là những tấm lá cọ vừa chặt còn xanh ngăn ngắt trải xuống đất. Thịt chó vừa nấu chín còn bốc hơi ngào ngạt. Thịt luộc thì để ngay trên lá chuối tươi, thịt nấu nhựa mận, canh xáo thì đổ sẵn trong ăng-gô, trong chậu thau. Là bữa liên hoan nên cơm không phải độn sắn, độn ngô. Mùi cơm nấu bằng gạo kho lâu ngày có vị mốc hôi hôi. Đám dân quân trẻ ồn ào ăn uống. Có một ít rượu sắn trong mấy chiếc bi-đông được truyền tay nhau mỗi người nhấp một ngụm. Ông chủ tịch, anh xã đội trưởng và ông đại úy huyện đội ngồi ở phía cuối thung lũng. Họ vừa ăn vừa tranh thủ bàn thêm một số công việc chuẩn bị cho những ngày tiếp theo. Tình hình đã căng thẳng lắm rồi. Bọn Mỹ tăng cường bắn phá miền Bắc, trước sau gì thì cây cầu sắt bắc qua sông Phó Đáy trên quốc lộ 2C này cũng bị ném bom bắn phá.
Chưa tàn bữa liên hoan cái Liên đã bấm chị Nhân:
- Chiều nay được nghỉ hai chị em mình vào rừng chơi đi!
- Lỡ có chuyện gì đột xuất thì sao?
Thấy chị Nhân đắn đo, cái Liên xua xua tay:
- Không có việc gì đâu! Tụi mình chỉ là dân quân, khi có lệnh thì tập trung, lúc không có nhiệm vụ thì thành dân, vẫn phải ra đồng, lên nương cày cấy, cuốc đất chứ là vương tướng gì đâu.
- Nhưng bây giờ là thời chiến rồi, lơ mơ là bị kỷ luật đấy!
- Kỷ luật là cái gì. Mấy ông chỉ huy còn đang nhai thịt chó kia kìa… Đi thôi chị ơi.
Vừa nói cái Liên vừa lôi chị Nhân ra khỏi đám ăn uống. Hai người đi sâu vào trong rừng. Đến chỗ hẻm núi đá có khe nước chảy ra trong vắt cái Liên cởi áo ra bảo:
- Tắm tý cho mát chị ạ! Mùi mắm tôm, thịt chó nó quyện vào quần áo hôi quá. Với lại lúc nãy ngồi gần tay Hừng “thọt” hắn ta lợi dụng chúc rượu chạm tay vào lưng em mấy lần. Tay hắn bốc thịt chó, toàn mỡ thôi, kinh quá.
Chị Nhân bảo:
- Thế thì mày tắm đi, qua quýt thôi còn về nhé.
- Vâng! Chị canh chừng cho em tắm nhé! Cẩn thật kẻo có thằng nào nó nhòm trộm…
Cái Liên nói xong thì cũng tụt quần xong. Nó lao xuống nước nhanh như một con rắn. Dòng nước trong xanh càng nổi rõ cơ thể trắng trẻo của cái Liên. Sau một lát vùng vẫy thỏa thích trong dòng nước mát cái Liên trèo lên một mỏm đá giữa dòng suối nhìn chị Nhân rồi chụm chân đứng nghiêm giơ tay chào theo kiểu nhà binh. Chị Nhân trố mắt nhìn nó. Con bé đẹp quá. Một cơ thể con gái đã nảy nở đủ đầy, tròn trịa, sáng lên lung linh giữa núi rừng hoang vắng nhìn thật đấy mà như trong mơ…
Có tiếng máy bay ầm ì từ xa vọng đến. Chị Nhân vội giục cái Liên lên bờ mặc quần áo. Nó vội lội ào vào bờ. Gió mùa thu thổi qua thung lũng tràn vào từng khe núi. Gió mơn man trên đôi vai trên của người con gái. Cái Liên ép tay tay sát người so vai lại khiến bộ ngực vươn lên, căng mọng láng ướt nước suối rừng mát trong…
(còn nữa) Hà Nội, 10-2015

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2018

Tiểu thuyết TRĂNG QUÊ (phần 3)


TRĂNG QUÊ (phần 3)
Tiểu thuyết của Trọng Bảo

Ngay sau lễ truy điệu liệt sĩ, ông chủ tịch và anh xã đội trưởng chờ gặp ông Đạt, đội trưởng đội sản xuất làng Hạ để bàn công việc gấp. Hai ông cán bộ xã sốt ruột đứng đợi ở cổng nhà bà Thêm. Ông đội trưởng thì còn đang mải dài dòng kêu gọi bà con xã viên trong đội sản xuất nhanh chóng biến đau thương thành hành động cách mạng sau đó lại còn phân công người thì đi cày, kẻ đào mương, cuốc đất mãi mới xong.
Về đến nhà nhà ông Đạt, chủ tịch xã Trần Khuông vội vớ ngay cái điếu bát để trên bàn mồi liền hai điếu thuốc lào, hóp má rít òng sọc vẻ rất ngon lành. Suốt buổi lễ truy điệu liệt sĩ Hà Quang Nghĩa ông thèm thuốc lào quá nhưng không dám bỏ ra ngoài rít thuốc như đám thanh niên. Anh xã đội trưởng không hút thuốc lào. Anh nhón tay rút một điều thuốc là Tam Đảo trong túi áo ra châm lửa.
Sau khi thỏa mãn hơi thuốc lào ba người mới bắt đầu bàn công việc. Ông chủ tịch xã chợt nhớ ra liền bảo ông đội trưởng:
- Anh sang chỗ nhà đám mời thêm trưởng công an xóm và cô Tình, bí thư chi đoàn về dự họp luôn!
Ông Đạt lại lật đật đi ra cổng. Một lát sau ông cùng anh Kỉnh, trưởng công an, chị Tình bí thư chi đoàn làng Hạ cùng vào nhà. Họ ngồi xuống quanh chiếc bà trà cũ kỹ. Ông chủ tịch xã nhìn mọi người một lượt rồi trịnh trọng:
- Đây là một việc bí mật quân sự! Đề nghị các ông không ghi chép, không phổ biến… - Ngừng một lúc nhìn hai người đang chăm chú nghe, ông chủ tịch hắng giọng nói tiếp: - Thời gian tới có thể giặc Mỹ sẽ bắn phá miền Bắc ác liệt hơn, hủy diệt ghê gớm hơn. Chúng đang muốn biến miền Bắc nước ta trở về thời kỳ đồ đá… Khu vực xã ta sẽ trở thành trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ vì các xe vận tải quân sự sẽ lưu thông theo quốc lộ 2C lên Tuyên Quang, sang Yên Bái để tránh phải qua cầu Việt Trì là trọng điểm, túi bom của bọn chúng. Thêm nữa nay mai xưởng sửa chữa xe tăng của bộ đội cũng sẽ được sơ tán về khu vực núi Mồng thuộc xã ta. Trước sau gì thì bọn gián điệp cũng sẽ phát hiện ra và chỉ điểm báo cho máy bay địch đến bắn phá. Vì thế, cán bộ chúng ta phải chuẩn bị tư thế sẵn sàng, không được hoang mang, dao động…
Nghe ông chủ tịch xã phổ biến tình hình, ông Đạt rất ngạc nhiên, thắc mắc. Ông nghĩ: “Mình chỉ là cái thằng đội trưởng đội sản xuất cùng hai cán bộ cấp thấp nhất mà sao lại được dự một buổi họp quan trọng thế này nhỉ?”. Nhưng ông không dám hỏi tại sao, chỉ im lặng lắng nghe.
Sau khi phổ biến, quán triệt tình hình, chủ tịch xã Trần Khuông bảo:
- Bây giờ xã đội trưởng Phạm Bản sẽ bàn việc cụ thể cho đội sản xuất làng Hạ.
Xã đội trưởng Phạm Bản mở cái xà-cột may bằng vải bạt đeo kè kè bên hông lấy ra một cuốn sổ ghi chép. Không nhìn vào sổ nhưng xã đội trưởng Phạm Bản vẫn nói vanh vách:
- Xã ta nằm dưới đường bay của máy bay Mỹ từ trên dãy núi Tam Đảo lao xuống bắn phá thủ đô. Máy bay giặc Mỹ từ tàu sân bay bay vào đất liền thường tập kết trên bầu trời khu vực dãy núi Tam Đảo để tránh lưới lửa phòng không của ta trước khi lao xuống không kích Hà Nội. Những chiếc bị thương, bị cháy chúng cũng sẽ cố bay lên khu vực núi Tam Đảo phi công nhảy dù xuống rừng rậm dễ lẩn trốn, chờ cứu hộ… Vì thế, theo chỉ thị của cấp trên, xã ta sẽ thành lập một trung đội dân quân thường trực, sẽ được trang bị một khẩu đội 12ly7 xây dựng trận đia ở khu Đồi Ma đón lõng bắn máy bay địch bổ nhào từ Tam Đảo xuống đánh Hà Nội, đồng thời bảo vệ cây cầu sắt qua sông Phó Đáy khi con đường 2C này trở thành tuyến giao thông huyết mạch lên Tuyên quang, Yên Bái. Đơn vị dân quân cũng làm nhiệm vụ cảnh giớ, phát hiện máy bay địch từ xa và phát lệnh báo động phòng không để nhân dân kịp xuống hầm tránh trú bom đạn… - Nói một hồi dài đến đây, anh xã đội trưởng ngừng lại. Anh vớ chén nước chè nhấp một ngụm cho thanh giọng rồi trình bày tiếp: - Làng Hạ gần khu vực Đồi Ma và cây cầu sắt nhất nên lực lượng thanh niên làng Hạ sẽ là nòng cốt của trung đội dân quân thường trực vì thuận tiện việc sinh hoạt, đảm bảo hậu cần, hết giờ trực chiến là ra ruộng sản xuất được ngay, tay cày luôn bên tay súng. Làng Thượng, xóm Mới ở xa sẽ thành lập các đơn vị dân quân cơ động sẵn sàng chi viện cho các đơn vị bộ đội, vây bắt giặc lái Mỹ nhảy dù…
Nghe phổ biến đến đây ông Đạt chợt hiểu lý do tại sao mà ba cán bộ tép riu của làng Hạ lại được tham dự cuộc họp quan trọng thế này. Ông cảm thấy hơi sợ hãi. Nếu đúng như thế thì làng ông sẽ trở thành một nơi rất nguy hiểm. Máy bay phản lực của bọn Mỹ hiện đại, tốc độ âm thanh, mấy khẩu súng bộ binh bắn lên chỉ vuốt đuôi, phủi bụi cho nó, không khéo lại làm hiệu bảo nó quẳng bom xuống xóm làng.
Chủ tịch xã Trần Khuông rít thêm một điếu thuốc lào rồi hỏi:
- Lực lượng thanh niên làng Hạ hiện tại thế nào?
Chị Tình bí thư chi đoàn đáp ngay:
- Báo cáo chủ tịch! Thanh niên làng Hạ chủ yếu là nữ. Nam giới đi bộ đội hết cả rồi ạ.
- Nam nữ thì cũng như nhau. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Cô báo cáo cụ thể xem nào?
- Chi đoàn có ba mươi nữ, bốn nam. Chủ yếu là học sinh mới học xong phổ thông về sinh hoạt đoàn tại địa phương.
- Tốt! Cô lập danh sách rồi cùng với xã đội trưởng thống nhất biên chế thành một trung đội dân quân có ba tiểu đội trực chiến. Sau khi có quyết định chính thức của xã và cơ quan quân sự ta sẽ tổ chức lễ ra mắt và thực hiện nhiệm vụ ngay, tình hình cấp bách lắm rồi!
Trưởng công an làng Hạ vội lên tiếng:
- Cần phải loại bỏ những thanh niên chậm tiến, những đứa hèn nhát ra khỏi danh sách…
- Đúng… cần những đoàn viên thanh niên ưu tú vào trong đội hình chiến đấu. Đây là một vinh dự và thiêng liêng. Nếu làng Hạ không đủ người thì ta huy động làng Thượng và xóm Mới! - Chủ tịch Khuông nói thêm.
- Không cần đâu ạ! Làng Hạ vẫn đảm bảo quân số đủ thành lập trung đội dân quân trực chiến. Chỉ có điều là cần có ba nam giới, biên chế vào ba tiêu đội để họ canh gác ban đêm ở khu Đồi Ma. Đám con gái hay sợ ma lắm ạ.
Ông chủ tịch phì cười:
- Thời đại nào rồi mà còn sợ ma?
Ông trưởng thôn giờ mới lên tiếng hỏi:
- Làng ta thanh niên nam đi hết rồi làm gì còn ba người để vào dân quân?
- Thưa bác! - Chị Tình giải thích: - Một là anh Hừng thọt chân không phải đi bộ đội, hai là thằng Nam đang học lớp tám thì bỏ học, ba là thằng Biên cháu bà Thêm mới sơ tán từ tỉnh về ở với bà ấy ạ! Thằng Nam rất gan lỳ, không sợ cái gì. Có lần đi đơm đó bắt cá đêm nó nằm trên cái mộ xây xi-măng giữa đồng ngủ cả đêm để giữ lờ cá. Đêm hôm mà bảo nó chuyển công văn qua bãi tha ma cũng được…
Ông đội trưởng nhăn mặt:
- Hai thằng thanh niên mới lớn thì chả nói làm gì. Còn thằng Hừng thọt thì không ổn.
- Tại sao ạ?
- Thằng này thọt chân không phải đi bộ đội nhưng nó nổi tiếng là trai gái, máu dê, vợ nó mấy lần không chịu nổi phải bỏ về bên ngoại. Cho nó vào bộ phận trực chiến cùng đám con gái tơ hơ hớ thế không khéo sau mấy tháng nó chả biến một trung đội thành hai trung đội đấy!
Chị Tình vung tay lên quả quyết:
- Bác khỏi lo, cháu sẽ quản chặt không cho anh ta làm bậy! Nếu dám thò ra là… cắt ngay…
Xã đội trưởng Phạm Bản xua tay:
- Thôi việc biên chế trung đội dân quân thường trực sẽ bàn thêm cho kỹ sau. Việc cuối cùng tôi xin nhắc cán bộ ở làng Hạ là phải hết sức cảnh giác. Làng Hạ bây giờ là trọng điểm của xã rồi, cần chú ý việc phòng gian, bảo mật. Vừa rồi ở chỗ đám truy điệu liệt sĩ tôi thấy có rất nhiều người lạ thế mà đám thanh niên trong làng cứ bô nói chuyện lấy được bao nhiêu bó lá ngụy trang cho đoàn xe quân sự qua làng, đào được bao nhiêu hầm hào tránh trú máy bay rồi ghê nhất là chúng kháo nhau tận mắt thấy những chiếc xe tăng trong của bộ đội to như thế nào khi đến giúp xưởng sửa chữa xe thiết giáp đào hầm, xây dựng lán trại…
Chủ tịch xã Trần Khuông nghe vậy liền đập mạnh tay xuống bàn làm mấy cái chén nảy lên ngã lăn, nước đổ tung tóe:
- Thế thì nguy hiểm, mất cảnh giác quá! Tại sao các cán bộ đội đội sản xuất, công an xóm không nhắc nhở họ?
- Vẫn có nhắc nhở, quán triệt thường xuyên đấy nhưng khi vui chuyện thì bọn thanh niên chúng nó rất hay quên.
- Công tác phòng gian bảo mật ở làng Hạ thế nào rồi?
Nghe chủ tịch xã truy vấn, anh công an xóm liền lấy từ trong túi áo ngực ra một cuốn sổ bìa đen nhỏ bằng bàn tay. Anh mở sổ ra rồi đọc:
- Những nhân vật khả nghi cần xác minh là… mụ Chuyên, người bên kia sông thường hay đem các loại hàng hóa vào làng bán như mắm tôm, cá khô, muối ăn. Mụ này rất hay la cà hỏi han đủ thứ chuyện xảy ra trong làng. Người đáng khả nghi thứ hai là lão Vận. Lão này nhà ở bên bờ sông Phó Đáy, làm nghề quét chợ. Nhiều lần người ta trông thấy lão này chôn giấu vật gì đó ngoài bãi sông, đã đào lên kiểm tra chỉ toàn là những hạt nhãn, hạt vải. Rất có thể lão chôn giấu tài liệu, vũ khí bí mật… người đáng nghi nữa là một người đàn bà tên là Nhu. Chị này nhiều lần đang trưa nắng, giờ cao điểm vẫn mặc áo trắng đi lên cây cầu sắt. Nghi ngờ là để báo hiệu mục tiêu cho máy bay Mỹ ném bom xuống cầu. Đã theo dõi, kiểm tra, nhiều người nói chị này phát bệnh tâm thần do bị chồng bỏ…
Chủ tịch xã Trần Khuông kết luận:
- Chuyện thành lập trung đội dân quân làng Hạ, chuyện nhân sự và chuyện phòng gian, bảo mật bàn đến đây thôi. Bây giờ tôi phải về trụ sở để báo cáo đồng chí bí thư. Xã đội trưởng Bản sẽ bàn thêm với cô Tình về tổ chức biên chế đơn vị dân quân. Khi nào có quyết định thành lập chính thức, chúng ta sẽ tổ chức buổi ra mắt thật trọng thể, hiểu chưa?
Nói xong, chủ tịch xã Trần Khuông xốc lại chiếc xà-cột làm bằng da, đeo chiếc đài Xiêng-mao qua vai rồi bước ra cửa. Ông Đạt và anh công an xóm cũng bước ra ngoài sân để cho anh xã đội trưởng và cô bí thư chi đoàn bàn thêm. Ông Đạt dặn anh công an xóm chú tâm tìm sẵn lấy một con chó. Buổi ra mắt thành lập trung đội dân quân trực chiến thế nào cũng cần đến nó…
(còn nữa) Hà Nội, tháng 10-2015


Thứ Tư, 30 tháng 5, 2018

Tiểu thuyết TRĂNG QUÊ (phần 2)

Trong hình ảnh có thể có: bầu trời, thiên nhiên và ngoài trời
TRĂNG QUÊ (phần 2)
Tiểu thuyết của Trọng Bảo

Khi chị Nhân đến nhà anh Nghĩa thì gần như cả làng Hạ đã có mặt tại đấy. Chị lách qua đám trẻ con đứng lố nhố ngoài cổng đi vào trong sân. Trong ngôi nhà tre lợp lá cọ cũ kỹ đám họ hàng thân thích của liệt sĩ đang gào khóc. Bà Thêm, mẹ anh Nghĩa đang lăn lộn giữa nhà. Tóc tai bà rũ rượi. Bà quỳ dưới đất, vừa đập hai bàn tay xuống nền nhà vừa gào khóc:
- Ông trời ơi là ông trời! Cảnh nhà tôi đã mẹ góa, con côi thế này sao ông còn nỡ bắt nốt thằng con của tôi đi trời ơi là trời! Sao ông lại ăn ở bất công như thế?
Ông Đạt, đội trưởng đội sản xuất làng Hạ an ủi:
- Bà ơi! Anh Nghĩa đi chiến đấu, hy sinh vì nước, vì dân, không phải là do ông trời bắt bớ gì đâu bà ạ!
Bà Thêm không nghe lời ông đội trưởng. Bà vẫn cứ gào khóc oán trời, hận đất. Tiếng khóc của bà mỗi lúc một thêm thê thảm. Ông Đạt đành mặc kệ bà Thêm quay ra ngoài sân. Nhìn thấy chị Nhân ông hỏi ngay:
- Chi đoàn thanh niên đi đâu hết rồi?
- Chúng cháu đây ạ! - Chị Tình, bí thư chi đoàn làng Hạ đang đứng ở tận góc sân vội lên tiếng. Ông Đạt ra lệnh:
- Chi đoàn tổ chức làm rạp, mượn bàn ghế để chuẩn bị đón các đoàn đại biểu đến viếng liệt sĩ. Cử ngay mấy cô cậu làm nhiệm vụ lễ tân, đun nước, đón khách rõ chưa?
- Vâng ạ!
Chị Tình đáp và lập tức gọi đám thanh niên làng Hạ đến phân công đi đẵn tre, chặt lá cọ để làm rạp. Hai thằng thanh niên choai choai ôm hai gốc cau ở góc sân nhoài người lên. Một loáng chúng đã néo được hai cây tre lên hai thân cây cau gác qua sân sang mái nhà. Đoạn, chúng lao cây que lên để làm rạp. Đám con gái nẹp các cặp lá cọ đưa lên làm mái che. Cái rạp dựng xong làm căn nhà đã tối lại thêm tối, chỉ nghe tiếng kêu khóc vọng ra mà chẳng thấy rõ mặt người. Nhà bà Thêm chỉ có hai mẹ con. Anh Nghĩa là con duy nhất thuộc diện tạm hoãn đi bộ đội. Bố anh là du kích bị Tây bắn chết trong trận càn “chim giẽ giun” lên vùng trung du. Khi bố chết anh vẫn còn đỏ hỏn mẹ địu đi tản cư chạy giặc mãi tận vùng Yên Sơn, Tuyên Quang. Học hết cấp ba, anh Nghĩa viết đơn bằng máu xung phong nhập ngũ. Bà Thêm khóc hết nước mắt can ngăn nhưng ý chí của anh không lay chuyển. Anh giấu mẹ cái giấy báo đi du học tại Liên-xô vì được ưu tiên là con liệt sĩ. Hôm anh lên đường đột nhiên có con chim lợn kêu eng éc ngay phía sau nhà khiến bà Thêm càng thêm lo lắng. Ngày nào bà cũng thắp hương nhang cầu trời khấn phật, gọi vong linh ông bà tổ tiên và chồng phù hộ cho con tránh được hòn tên, mũi đạn nơi sa trường. Vậy mà những lời khẩn cầu thành kính của bà đã không linh nghiệm, anh Nghĩa vẫn chết như bao đồng đội khác. Anh chết vì trúng bom ở khu bốn khi đang trên đường hành quân vào mặt trận. Nếu tính đúng ra thì anh chưa đủ một tuổi quân đã đủ tuổi liệt sĩ rồi.
Tiếng khóc và tiếng kể lể thê thảm của bà Thêm khiến dân làng Hạ ai cũng bùi ngùi xúc động.
Ông Đạt vẫn oang oang giữa nhà đám. Ông quát đuổi lũ trẻ con về bảo chúng đưa nhau đi sơ tán lên rừng đề phòng máy bay Mỹ vì sắp đến giờ cao điểm. Ông giục bọn thanh niên đun nước, đón khách, khênh vòng hoa. Những vòng hoa đem viếng tự làm bằng đủ các loại hoa rừng, hoa dâm bụt, hoa cúc dại mọc ở các bờ rào trong làng, bờ mương, ven đồi.
Chị Nhân và cái Liên chịu trách nhiệm đun nước uống ở phía sau nhà. Trời lạnh nên ít người uống nước. Các đại biểu ban ngành đoàn thể đến viếng, chia buồn rất nhanh rồi đi ngay. Họ còn lắm việc và cũng ngại ở lâu chỗ đám tang đông người khi tiếng tàu bay của giặc Mỹ đã ầm ì từ xa vọng đến. Chỉ có người làng Hạ là luôn có mặt bên tang chủ. Làng Hạ bao đời nay vẫn thế. Những lúc hoạn nạn, khó khăn vẫn xúm quanh, nhẫn nại chia xẻ với nhau. Họ sẽ còn ở nhà bà Thêm cho đến khi làm xong lễ truy điệu cho liệt sĩ Hà Quang Nghĩa dù máy bay Mỹ gầm gào, lởn vởn trên đầu.
Khi các phích nước sôi đã được đổ đầy, nồi nước vối đã khênh để ở góc sân cho nguội, cái Liên liền kéo chị Nhân ra mé đồi phía sau nhà ngồi nói chuyện. Nó bảo có một chuyện rất quan trọng. Chị Nhân và cái Liên rất thân nhau. Nhà chị và nhà Liên sát vách, chỉ cách một rặng rào cây dâm bụt. Hầu như tối nào cái Liên cũng sang nhà chị Nhân ngủ chung. Đêm trăng sáng hai chị em ngồi ở cầu ao cùng tán gẫu, ngắm chị hằng, nghe hết chương trình “đọc truyện đêm khuya” từ chiếc loa truyền thanh trên ngọn cây gạo cổng nhà ông đội trưởng rồi mới đi ngủ. Cái Liên cùng lớp với thằng Thứ. Hai đứa vừa mới kết thúc năm học cuối cấp ba xong.
Hai chị em ra đến bờ con mương nước mé đồi. Cái Liên cứ ấp úng mãi mới dám nói:
- Có lẽ… em… bị… rồi chị ạ!
- Bị cái gì?
- Thì… - Cái Liên cúi mặt nhìn vội xuống bụng mình. Chị Nhân giật mình hỏi lại:
- Thế là thế nào?
- Thì em bị… chậm mấy ngày rồi…
- Nhưng… làm sao lại thế hả?
- Là tại em cả…
- Thế với thằng nào?
- Thì còn ai vào đấy nữa! Hắn còn là em họ xa đằng nhà chị đấy…
Cái Liên cứ ậm ừ lúng búng trong miệng. Chị Nhân biết ngay cái Liên đang nhắc đến ai. Đó chính là thằng Xuyên cùng học một lớp với cái Liên và cả thằng Thứ nữa. Chị Nhân ngơ ngác:
- Thằng Xuyên cũng đã lên đường nhập ngũ từ hôm kia rồi còn gì?
- Thì đúng vậy! Đêm trước khi lên đường hắn còn năn nỉ em “kỷ niệm” cho hắn thêm một lần nữa nhưng em không cho. Em nghe nói người sắp đi xa mà làm chuyện ấy là thường hay gặp điều sui rủi lắm.
Con ranh này mà biết nhiều chuyện ghê. Nghe nó nói chị chợt nhớ tới chuyện thằng Thứ sáng sớm nay ngoài ruộng bèo hoa dâu. Chị hơi đỏ mặt và chợt thấy rân rân trên ngực. Cái Liên lại hỏi:
- Hắn đi xa rồi! Em biết làm sao bây giờ?
- Mày liều quá em ạ! Nhỡ mà vác bụng lên thì chết với chi đoàn, với đội sản xuất đấy!
Cái Liên ngơ ngác nhìn chị Nhân:
- Của… em, em muốn làm gì thì làm, có liên quan gì đến chi đoàn, đến đội sản xuất chứ?
Chị Nhân cốc nhẹ vào đầu cái Liên:
- Mày còn nhớ chuyện bà Quỳnh ngày xưa chửa hoang không! Hồi ấy tao với mày còn bé tối nào chả kéo nhau ra sân kho hợp tác nghe đội sản xuất, công an xã, công an xóm họp kiểm điểm, tra hỏi bà ấy vì sao chồng chết hai năm rồi mà lại đẻ ra một thằng con út. Họ truy vấn bà ấy ngủ với ai để bắt đi cải tạo lao động đấy.
- Nhưng bây giờ khác rồi chị ạ!
- Khác là khác thế nào! Nhưng bí thư chi đoàn quán triệt mãi về lẽ sống cao đẹp, thuyết trình về “tình yêu trong sáng” tại sao mày vẫn còn dám làm bậy như thế hả?
- Thì em cũng nhớ lời của bí thư chi đoàn chúng ta đấy chứ! Nhưng hắn ta thì cứ không chịu nhớ chị ạ!
Cái Liên im lặng một lát rồi kể tiếp:
- Nguyên nhân tại là cái hôm bộ đội về chiếu phục vụ dân làng Hạ bộ phim “Những kẻ báo thù không bao giờ bị bắt” đấy chị ạ. Hôm ấy, đang xem phim thì trời đổ mưa. Bãi chiếu phim trong rừng lá cọ nên tiếng mưa rơi trên lá ào ào. Mọi người vội vàng lấy áo mưa ra che, trùm kín đầu để xem phim. Mấy tháng mới có một tối chiếu bóng, phim lại hay đến thế. Không ai bỏ về, cũng chẳng ai biết người ngồi bên cạnh mình làm gì nữa vì ai cũng trùm ni-lông kín người. Em và hắn che chung một miếng ni-lông đen. Hai đứa ngồi sát vào nhau. Mỗi đứa dùng một tay giữ một góc ni-lông nâng cao lên cho khỏi ướt. Đang xem phim hay tự dưng hắn đặt tay lên đùi em. Em gạt tay hắn ra được một lúc hắn lại làm thế. Khi hắn luồn được tay vào bụng thì em ngồi im, người cứng hết lại vì sợ, không phản ứng được nữa… Thế là hắn được đà càng lấn tới. Suốt buổi chiếu phim hôm ấy em không còn biết trên màn ảnh chuyện gì đang diễn ra nữa chị ạ!
Cái Liên thôi không kể tiếp nữa. Chị Nhân lén nuốt khan một cái. Chị rất muốn nghe tiếp câu chuyện của nó nhưng không dám đề nghị. Mãi sau cái Liên mới kể tiếp là ngay sau buổi chiếu phim ấy hai đứa đã đưa nhau lên đồi sim đến gần sáng mới lén về nhà… Thảo nào sau buổi chiếu bộ phim “Những kẻ báo thù không bao giờ bị bắt” ấy cứ chờ mãi không thấy nó về ngủ chung? - Chị Nhân nghĩ thầm. Hôm ấy chị bị mệt nên không đi xem phim.
Cái Liên đang định kể tiếp câu chuyện thì trong nhà bà Thêm có tiếng ông đội trưởng oang oang kêu gọi toàn thể xã viên đội sản xuất làng Hạ hãy biến đau thương thành hành động cách mạng, ra sức thi đua tăng gia sản xuất, xây dựng hậu phương lớn vững mạnh chi viện cho tiền truyến lớn đánh giặc. Vậy là lễ viếng và truy điệu liệt sĩ đã xong rồi. Chị Nhân vội kéo cái Liên chạy vào nhà bà Thêm để cùng chi đoàn dỡ rạp, thu dọn nhà cửa.
Đến đầu nhà bà Thêm, cái Liên níu chị lại nói nhỏ:
- Em không sợ gì cả nhưng nếu có thế nào thì chị cũng phải bảo vệ em nhé!
Chị Nhân gật đầu. Cái Liên khẽ mỉm cười rồi ghé tai chị thì thầm: “Lúc nào em kể tiếp chuyện của chúng em cho chị nghe!”. Chị Nhân làm bộ nghiêm nét mặt. Hai người cùng lấy lại dáng vẻ nghiêm trang trước khi bước vào sân nhà bà Thêm...
(còn nữa) Hà Nội, 10-2015

Thứ Tư, 23 tháng 5, 2018

Tiểu thuyết TRĂNG QUÊ (phần 1)

TRĂNG QUÊ (phần 1)
Tiểu thuyết của Trọng Bảo

Đã cuối mùa thu. Trăng cuối tháng vẹt lõm như một chiếc liềm cùn qua bao mùa gặt hái. 
Cánh đồng làng Hạ đẫm ướt sương đêm. Sắp sáng rồi. Tiếng gã gáy đổ dồn trong xóm nhỏ. Phía đông chân trời đã hừng lên màu sáng nhạt. Một cơn gió lạnh ùa về trên cánh đồng làng. Sương mù ẩm ướt bay tạt qua mặt người.
Chị Nhân quấn lại chiếc khăn voan mỏng quanh cổ. Đoạn, chị cúi xuống sắn cao hai ống quần. Có tiếng chân người bước nhẹ phía sau. Không ngoảnh lại nhưng chị biết chắc đó là thằng Thứ. Sáng nay, theo sự phân công của bí thư chi đoàn nó và chị sẽ cùng đi chăm sóc mấy ruộng thả bèo hoa dâu. Chiều hôm trước những ruộng bèo hoa dâu được bón bằng một lớp tro bếp. Sáng hôm sau phải dùng sào nứa dập cho tro bếp trên cánh bèo rơi xuống nước thì bèo mới sống được. Chị Nhân đang định quặc thằng Thứ về việc ra ruộng muộn thì nó đã đến sát ngay sau lưng. Khi chị Nhân chưa kịp đứng thẳng người lên thì thằng Thứ đã áp sát vào người. Hơi thở nó gấp gáp, hổn hển. Chị Nhân vừa định hỏi thì thằng Thứ đã vòng tay qua lưng ôm lấy hai bầu vú của chị bóp chặt. Chị Nhân giật mình hoảng hốt đứng thẳng người dậy. Thằng Thứ vẫn ôm chặt lấy ngực chị. Chị Nhân lúng túng vừa gỡ bàn tay chắc khỏe của thằng Thứ vừa hét lên:
- Đồ khốn nạn! Mày làm cái trò gì thế?
- Chị ơi… em… em…
- Mày… mày…
Chị Nhân thấy tức nghẹn ở cổ. Chị không dám lớn tiếng quát mắng thằng Thứ ầm ĩ nữa vì phía trên con đường ra cánh đồng thấp thoáng có bóng mấy người đang dắt trâu, vác cày bừa đi làm sớm. Chuyện tày đình thế này mà lỡ có ai nhìn thấy, nghe thấy thì chết. Chị bức bối vớ cái sào nứa rồi lội ào ào xuống ruộng bèo hoa dâu. Thằng Thứ cũng vội vàng nhặt một cây sào bước xuống ruộng để dập bèo. Vừa làm nó vừa ấp úng nói:
- Em.. em xin lỗi chị… Sáng nay em phải lên đường nhập ngũ rồi… Chị… chị đừng báo cáo với chi đoàn chuyện lúc nãy nhé. Em cầu xin chị đấy!
Chị Nhân vẫn chưa hết cơn bàng hoàng thảng thốt vì hành động táo tợn, bất ngờ của thằng Thứ. Chị càng thêm bất ngờ vì tin thằng Thứ đi bộ đội gấp thế. Hóa ra nó được gọi bổ sung nhập ngũ. Đợt giao quân hôm qua xã Hòa Sơn có một thằng trốn đi lính và hai thằng khi lên đến huyện đội tập trung khám lại sức khỏe thì bị loại. Miền Nam đang chuẩn bị cho đợt tổng tiến công vào đầu mùa Xuân năm tới cho nên cần thêm nhiều binh lực. Vì thế, các địa phương miền Bắc ra sức thi đua “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Xã nào thiếu người khi giao quân hoặc có ai bị loại thì lập tức gọi người khác thay thế ngay. Những thanh niên gọi nhập ngũ bổ sung thường là gấp gáp như thế, gia đình nhiều khi chẳng kịp liên hoan, chi đoàn chẳng kịp trao tặng phẩm cho họ trước lúc lên đường. Thằng Thứ là người cùng làng, sinh hoạt cùng chi đoàn với chị Nhân. Nó kém chị gần hai tuổi và học sau một lớp. Tối hôm qua, nó mới được ông xã đội trưởng đem lệnh gọi hỏa tốc đến thông báo hôm nay lên đường nhập ngũ. Vậy mà nó vẫn đi làm bèo hoa dâu với chị Nhân sáng nay.
Hai người dập hết mấy sào bèo hoa dâu thì trời sáng hẳn. Chị Nhân và thằng Thứ rửa chân rồi bước lên bờ ruộng. Thằng Thứ len lén nhìn chị Nhân rồi ấp úng nói:
- Em về để chuẩn bị lên huyện tập trung…
- Ừ… - Chị Nhân gượng gạo trả lời. Thằng Thứ lại nói:
- Chị tha lỗi… bỏ qua cho em nhé!
- Ừ…
Chị Nhân cũng lúng túng. Mặt chị nóng phừng phừng khi nhớ lại chuyện lúc nãy. Thằng Thứ vẫn chưa yên lòng. Nó ngắc ngứ mãi rồi mới nói tiếp:
- Chị ơi! Em ra đi lần này là có đi mà không có về nữa đâu chị ạ!
Chị Nhân giật mình:
- Tại sao lại như thế?
- Vì… vì… hôm nọ dì em đi xem bói. Họ nói số em rồi sẽ… sẽ… “sinh bắc-tử nam”…
- Chỉ mê tín vớ vẩn…
- Có lẽ đúng như thế chị ạ! Em cũng có linh cảm như thế... - Thằng Thứ nói. Mặt nó buồn rười rượi. Ánh mắt nó nhìn xa xăm về phía chân trời. Mãi sau nó lại nói, giọng vẻ bùi ngùi: - Bọn bạn cùng làng chúng nó bảo đời em rồi sẽ không… không… biết… biết đàn bà là thế nào… nên lúc nãy em mới liều lĩnh như thế… Em biết lỗi rồi, chị tha cho em nhé!
Nói xong, thằng Thứ bật khóc. Nói giơ bàn tay còn lấm bùn lên chùi mắt. Mặt nó càng thêm nhem nhuốc. Chị Nhân phát hoảng. Chị chỉ còn thấy ái ngại mà không còn giận thằng Thứ nữa. Nhưng chị cũng không biết nói thế nào để an ủi thằng Thứ. Tâm trí chị vẫn chưa thể quên được chuyện vừa xảy ra lúc nãy. Đây là lần đầu xảy ra đối với chị. Giữa lúc ấy thì phía trên con đường ra đồng có tiếng người quát rất to:
- Những đứa nào kia! Giữa đồng trống hơ trống hoác mà ăn mặc quần áo trắng toát lại không đeo vòng lá ngụy trang như thế hả. Máy bay Mỹ nó trông thấy quẳng xuống cho vài quả bom thì chết hết cả nút bây giờ?
Đó là tiếng ông đội trưởng sản xuất làng Hạ. Thằng Thứ vội bảo chị Nhân:
- Thôi em về trước để kịp lên trên huyện tập trung đây! Chị ở lại mạnh khỏe nhé…
Nói xong nó liền ném cái sào nứa rồi co giò chạy về phía làng. Chị Nhân vội gọi với theo:
- Thứ ơi! Nếu có vào trong Nam chiến đấu mà gặp anh Luận nhớ nói là chị vẫn…
- Vâng! Em nhớ rồi ạ.
Tiếng thằng Thứ từ trên đường vọng xuống cánh đồng. Nghe giọng nó vang lảnh lói nhưng có vẻ phấn chấn hơn. Mặt nước ruộng rung rinh. Chị Nhân bước dọc bờ con mương nước nhỏ. Chị chợt rùng mình vì những cơn gió lạnh đầu mùa. Chị nhìn xuống ngực mình và giật mình khi thấy dấu bàn tay của thằng Thứ còn hằn trên màu áo trắng. Chị vội lội xuống mương vốc bùi quệt lên áo. Đi làm ruộng quần áo vấy bẩn bùn là bình thường còn để thế này mà về làng ai nhìn thấy thì dễ sinh lắm chuyện. Chị Nhân là một người con gái đẹp vào loại nhất nhì của làng Hạ. Gần hai mươi tuổi rồi chị chưa một lần đụng chạm với đàn ông. Khi anh Luận người yêu của chị lên đường nhập ngũ hai người cũng chỉ dám cầm tay nhau thôi. Vậy mà lúc nãy thằng Thứ dám bóp ngực chị thật chặt, thật mạnh. Nó liều lĩnh quá, bậy quá. Nghĩ vậy nhưng giờ thì chị không còn thấy ghét nó nữa. Chị thấy thương nó. Biết đâu lời nó nói đúng. Nó sẽ không trở về và chị cũng không còn gặp lại nó nữa. Chị chợt nhớ tới anh Luận. Năm ngoái, cũng vào một đêm về sáng cuối mùa thu như hôm nay chị và anh Luận cùng ra đồng chăm sóc ruộng bèo hoa dâu của chi đoàn. Chị cố tình đi sát bên anh, chạm vào vai anh. Khi cúi xuống dùng sào dập lên mặt ruộng bèo hoa dâu chị nhiều lần quay sang phía anh cố ý để ngực áo trễ xuống, thấp thoáng phô khuôn ngực trắng hồng tròn trịa nở nang. Vậy mà anh không dám một lần liều lĩnh, mạnh mẽ như thằng Thứ hôm nay. Đêm trước khi anh Luận lên đường nhập ngũ, hai người đã ngồi bên nhau trên đồi sim sau nhà. Trăng cuối tháng sáng xanh và lạnh. Chị ngả đầu vào vai anh, nghe được cả tiếng hơi thở của anh dồn dập. Vậy mà anh cũng chỉ dám cầm tay chị. Hôm sau anh lên đường rồi, chị mong chờ một điều gì đó xa xôi. Chiến tranh chẳng biết thế nào, người ra đi thì nhiều, người trở về thì ít. Mà người về thì cụt què, tàn tạ. Có anh thương binh trở về làng đám con gái vây quanh nhưng cứ thờ ơ không màng đến. Hình như bom đạn chiến trường đã cướp mất chức năng đàn ông của anh ấy rồi. Nhiều người làng rỉ tai nhau nói thế. Năm tháng chiến tranh, làng vắng bóng đàn ông. Đám con gái, đàn bà phây phây, tràn đầy sinh lực suốt ngày đi cày, đi cấy, gánh phân, đổ ải, tối đến lại túm tụm ngồi ở sân kho hợp tác xã hò hát, ngắm trăng suông, khuya trật mới chịu về ngủ, sáng mai lại ra đồng. Làm lụng vất vả, ăn uống kham khổ nhưng họ vẫn cứ nảy nở, tròn đầy căng ứ. Trong những câu chuyện của họ giữa đêm trăng lạnh có bao nỗi khát khao, bao điều thèm muốn, mong chờ những điều xa xôi, bí ẩn.
Chị Nhân vừa về đến nhà thì nghe tiếng kêu trời, gọi đất thất thanh, tiếng kêu khóc ời ời ở phía cuối làng. Chị chạy vào buồng thay vội cái áo trắng có dấu bàn tay của thằng Thứ. Chị tìm miếng xà phòng 702 xát qua quýt đoạn cho cái áo vào chậu thau ngâm rồi chạy ra cổng. Tiếng người làng nháo nhác bảo nhau: “Xã vừa xuống báo tử anh Nghĩa đấy!”. Đúng là tiếng kêu khóc là từ phía nhà anh Nghĩa ở cuối làng. Chị Nhân thấy hơi run run. Anh Nghĩa cùng đi bộ đội với anh Luận, người yêu của chị. Mới tròn một năm đi xa vậy mà anh ấy đã thành liệt sĩ rồi.
Chị Nhân bước thập thõm trên con đường làng đầy những vết chân trâu.
Chị đi về phía cuối làng Hạ. Người làng cũng đang vội vã kéo nhau đi về phía ấy. Mọi người đến để an ủi, xẻ chia nỗi đau mất mát với người thân của anh Nghĩa. Đó là một việc vẫn thường diễn ra trong làng những năm tháng chiến tranh.
Gió lạnh tiếp tục tràn về xóa nốt những ngày ấm áp cuối mùa thu…
(còn nữa) Hà Nội, tháng 10-2015


Thứ Hai, 25 tháng 12, 2017

Tản văn NHỚ TÂY BẮC

         NHỚ TÂY BẮC
         Tản văn của Trọng Bảo

         Lâu lắm mới trở về Yên Bái
         Qua bến Âu Lâu nhớ một người...
         Câu thơ khiến lòng tôi cứ nao nao. Ô! Lâu quá rồi không về Yên Bái, không lên Tây Bắc. Thế mà cũng đã bốn mươi năm rồi tôi không có điều kiện trở lại nơi đã từng có một khoảng thời gian sống và gắn bó. Đó là cái thời trai trẻ, vô tư. Ngày ấy, sau chiến tranh, chúng tôi lên Yên Bái chặt cây, dụng nhà. Những người lính trẻ sống giữa đại ngàn rừng già, thác lũ. Rời tay súng, cầm tay dao, tay cuốc. Trung đoàn Tân Trào chúng tôi đóng quân ở nông trường chè Trần Phú (huyện Văn Chấn-Yên Bái).
         Chúng tôi ở trong nhà các công nhân nông trường. Tôi và anh bạn cùng tên, người Việt gốc Hoa - Hiên Giang Bảo ở nhà chị Tuyết. Ngày ngày chúng tôi vào rừng chặt gỗ, khai thác tre nứa để làm lán trại. Thực ra đó là trại giam để đưa số ngụy binh từ miền Nam ra cải tạo, học tập. Cuộc sống lao động vất vả, khó khăn nhưng cánh lính trẻ chúng tôi lúc nào cũng vui nhộn. Cái dư âm Đại thắng mùa Xuân 1975 vẫn còn lâng lâng trong tâm trí của những người lính.
          Cả một đoàn quân trai trẻ đóng quân giữa một nông trường có đến ngót một ngàn cô gái trẻ chưa chồng thật là vui và cũng xảy ra nhiều chuyện. Tôi nhớ ngày ấy có cô Luyến là công nhân đội 1 hay sang nhà chúng tôi chơi. Luyến xinh gái mà ngót ba mươi tuổi vẫn chưa lấy được chồng. Cái nông trường giữa vùng núi sâu có đến chín mươi phần trăm là nữ này kiếm được một tấm chồng không phải là dễ. Luyến có vẻ thân với Hiên Giang Bảo. Nhưng Hiên Giang Bảo cũng đã có người yêu ở quê nhà rồi. Nhìn cô gái dáng cân đối, khuôn ngực tròn vo, luôn vui tươi, nhanh nhẹn, có một nét gì đó rất đặc biệt, luôn khắc vào trí nhớ tôi đến bây giờ vẫn không quên.
          Tôi nhớ những lần đi bè trên ngòi Lao nước trong xanh. Qua những đơn vị sản xuất của nông trường gặp những tốp con gái khoả thân tắm suối. Giữa dòng nước trong veo những bộ ngực thanh xuân căng tròn, dập rờn thấp thoáng. Tôi cũng không bao giờ quên một lần gặp lũ lớn, chiếc bè nứa của tôi xuống thác vỡ tung. Tôi chỉ còn bám vào được một bó nứa to. Nếu không có Hiên Giang Bảo ném cho cây sào chống bè dự bị để chèo chống thì có lẽ cả tôi và bó nứa sẽ bị dìm xuống đáy vực sâu.
           Ngày ấy Tây Bắc toàn rừng già, chỗ nào cũng có hoa phong lan. Dọc hai bên bờ suối nhiều loại hoa phong lan nở rất đẹp, hương rất thơm. Là người rất thích phong lan (Đến bây giờ vẫn thế. Ngày nghỉ nào tôi cũng lang thang ở chợ phong lan, chả có tiền mua thì ngắm ké vậy). Hôm nào đi rừng, tôi cũng đem về một cụm phong lan đang nở hoa rất đẹp. Tôi và Hiên Giang Bảo còn có nhiều kỷ niệm như những lần cùng nhau đi trèo cây lấy hoa phong lan. Hôm ấy, tôi và Hiên Giang Bảo trèo lên một cây gỗ khô. Lúc gỡ được chùm hoa phong lan thì cái cây khô long gốc nghiêng ngả. Hiên Giang Bảo trèo phía trên ngọn cây, tôi phía dưới. Hai thằng toát mồ hôi, không dám nói to, thì thào bảo nhau cố thật nhẹ nhàng tụt xuống. Vừa xuống tới gốc thì cái cây khô gãy nhào. Thật hú vía. Sau này tôi và Hiên Giang Bảo mỗi người chuyển đi một đơn vị khác nhau. Trước khi chiến tranh biên giới xảy ra Hiên Giang Bảo được cho ra quân. Nó vẫn ở lại Việt Nam sinh sống không chạy về Trung Quốc như số người Hoa khác. Vì thế khi cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc (2-1979) xảy ra tôi và Hiên Giang Bảo không lâm vào tình huống chĩa súng vào nhau.
           Tôi cũng không bao giờ quên những gian khổ ngày ấy. Câu nói truyền miệng của cánh lính "Muỗi Tà De, ve Khe Hiền" đến bây giờ tôi vẫn nhớ. Tôi cũng nhớ mãi tấm lòng của bà con, anh chị em công nhân nông trường chè Trần Phú và các làng bản khu vực này. Những năm trước, nghe tin lũ quét cuốn trôi hàng chục ngôi nhà, làm hàng chục người dân thị trấn Ba Khe bị chết và mất tích, tôi thấy nhói trong tim. Thị trấn Ba Khe nằm bên bờ suối. Ngày ở Tây Bắc chúng tôi hay ra thị trấn này chơi. Thị trấn ngày trước lèo tèo chỉ có vài chục nóc nhà, một cái của hàng mậu dịch, một hiệu ăn uống quốc doanh. Sau này có một lần đi qua, thấy san sát những nhà cửa, hàng quán.
          Nhớ kỷ niệm những ngày ở Tây Bắc. Đồng đội tôi ngày ấy bây giờ, người còn, người mất, chả gặp được nhau, nhiều cái tên người bây giờ cũng không nhớ hết. Những cô gái công nhân nông trường bây giờ cũng không còn trẻ nữa. Nhưng trong tôi và trong họ thì kỷ niệm về ngày ấy chắc chắn sẽ còn xanh mãi...
            Hà Nội, 12-2017

Trong hình ảnh có thể có: bầu trời, ngoài trời và nước

ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Bình luận