Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2011

Truyện ngắn NHỮNG LÁ THƯ

           

Những lá thư  

            Truyện ngắn của Trọng Bảo

          Được tin dì Vân ốm, Hạnh vội xin nghỉ phép để về thăm. Hạnh đến lớp mẫu giáo đón con. Chỉ kịp gọi điện báo cho chồng biết rồi Hạnh dẫn con ra ga lấy vé tàu về quê. Hạnh mua vài thứ hoa quả để về thắp hương cho ông bà ngoại. Hai mẹ con về đến con đê làng thì trời đã xế chiều. Bờ đê trải nắng vàng óng ả. Bé Thương cứ chạy lon ton đuổi theo những con cào cào có đôi cánh xanh đỏ bay vù vù từ ruộng lúa đang gặt lên triền đê. Nó rất thích mỗi khi được mẹ cho về quê ngoại để được bà Vân dẫn ra vườn hái bưởi, bắt con bươm bướm.

          Dì Vân và mẹ Hạnh là hai chị em ruột. Ông bà ngoại chỉ có hai người con gái. Ngày xưa ở quê con gái thường lấy chồng sớm. Mẹ thường kể với Hạnh là khi mẹ đã là một thiếu nữ thì dì Vân mới mười ba tuổi. Dì thường mặc một chiếc quần cộc nâu cưỡi trâu ra đồng cùng đám con trai chơi đánh trận giả. Ông ngoại mắng: “Sao mày chả mọc ra một cái chim cho bố có người chống gậy!”.

          Dì Vân vốn đã nghịch lại chẳng hề sợ sệt điều gì. Ngày ấy ở quê đất còn rộng, người thưa thớt, đường làng cây cối rậm rạp. Làng xóm đã ít nhà lại chưa có điện sáng như bây giờ. Những câu chuyện ma thường được người lớn kể lại làm bọn trẻ con sởn cả tóc gáy. Buổi tối đố đứa nào dám ra đường chơi đùa. Mỗi khi phải đi sinh hoạt đoàn, mẹ Hạnh vẫn phải rủ dì Vân đi cùng. Mẹ cũng đã kể cho Hạnh nghe cả chuyện đi gặp người yêu phải mất cái kẹp tóc mới mua để em gái chịu ngồi canh chừng ở gần đó đợi đưa về. Vì thế chuyện tình của chị, dì Vân đều biết hết. Ngày còn là thiếu nữ, mẹ yêu say đắm một người con trai làng bên. Hai người quen nhau trong một lần cùng đi làm thuỷ lợi. Mẹ Hạnh thường rủ dì Vân cùng đi sang làng bên. Con đường nối giữa hai làng phải qua một bãi tha ma lính Pháp tử trận ở Việt Nam. Dân làng vẫn bảo lũ lính lê dương chết trận không biết lối về quê hương bản quán nên thường hiện hình để tìm bắt con gái đẹp về làm vợ. Người ta nói đêm đêm vẫn thường gặp những bóng ma Tây cao lớn, mắt xanh lè đi đi lại lại vật vờ trên bờ đê. Mẹ rất sợ ma nhưng đến tối vẫn muốn sang làng bên. Dì Vân trở thành một người lính cận vệ tin cậy của chị gái. Dì hình như sinh ra đã cứng bóng vía. Trẻ con lúc mới đẻ mà tràng hoa quấn cổ ba vòng thì gan lỳ phải biết. Dì Vân là một người như thế. Hạnh cũng biết chuyện tình của mẹ ngày ấy bị gián đoạn bởi cuộc chiến tranh. Người yêu lên đường nhập ngũ vào miền Nam chiến đấu, mẹ đã đợi chờ qua mấy năm nhưng mãi chẳng có thư nào gửi về. Rồi lại có tin người ấy đã hy sinh. Lấy chồng, mẹ Hạnh rời quê lên thành phố. Bố Hạnh được điều động đi nhận công tác tại một cơ quan nghiên cứu khoa học ở Hà Nội.
          Hơn một năm sau thì có một lá thư từ mặt trận gửi về làng. Dì Vân cứ cầm mãi lá thư gửi cho chị gái trên tay. Dì biết là có bao sự nhớ nhung, mong đợi chứa đựng trong phong thư mong manh này. Dì Vân thấy giận chị vội tin vào những lời đồn nhảm mà quên những nguyện ước của một mối tình đẹp. Khi ấy dì vừa qua tuổi mười lăm, chưa hiểu hết thế nào là tình yêu, là sự chung thuỷ. Mặc dù dì đã nhiều lần nghe được những lời ngọt ngào của chị gái và người con trai làng bên khi làm “vệ sĩ” cho họ. Lá thư của người chiến binh như lửa cháy trên tay. Dì không dám đem thư đến cho chị gái. Chị đang mang thai và sống rất hạnh phúc. Rồi chẳng biết ma sui, quỷ khiến thế nào, dì đã bóc lá thư ra xem. Đọc lá thư của người lính mà lòng dì thổn thức. Dì thương người ngoài mặt trận vẫn một lòng với người ở hậu phương. Lá thư chan chứa tình yêu và niềm hy vọng. Người lính viết: “Bởi biết rằng có em ở hậu phương chờ đợi nên anh mãi vững vàng tay súng. Nhất định anh sẽ vượt qua được hòn tên, mũi đạn để trở về với em. Anh tin rằng mình sẽ sống sót qua cuộc chiến này vì trong đời anh đã có em…”.
          Đọc trộm thư của chị, dì Vân cứ suy nghĩ mãi là không thể để người lính ở nơi bom đạn ấy vô vọng. Thế là dì có thêm một quyết định nữa là sẽ thay chị viết một thư cho người ngoài mặt trận. Có lẽ tiền định cuộc đời dì bắt đầu từ đó. Lá thư gửi ra mặt trận của cô bé mười lăm tuổi ngờ đâu lại đến được với người lính. Rồi thêm một lá thư gửi về, một lá thư nữa gửi đi… Nét chữ con gái xiêu xiêu trong những lá thư ám khói đạn bom nơi chiến tuyến làm nao lòng người cầm súng. Anh quên đi cái chết đang ngày đêm cận kề để dành những phút bình yên nơi trận mạc thả lòng về với hậu phương xa xôi. Nét chữ của dì không giống lắm với nét chữ của chị gái nhưng có lẽ anh lính cũng chẳng hề hay biết. Bởi từ khi chia tay họ đã nhận được lá thư nào của nhau đâu. Người lính đã vô cùng sung sướng mỗi khi nhận được thư hậu phương.
          Sau hiệp định Pari năm 1973, liên lạc giữa hậu phương và mặt trận dễ dàng hơn. Dì Vân đã quen với việc thay thế chị gái viết thư tình cho người lính. Những lá thư của dì viết ngày càng tha thiết đằm thắm, ấm áp tình cảm hơn. Đã học lên cấp 3 nhưng vóc dáng dì Vân vẫn nhỏ thó. Một lần, cô bạn ngồi cùng bàn lục cặp của dì mượn vở chép bài đã tìm thấy một lá thư tình đang viết dở. Thế là chuyện dì có người yêu khi đang là học sinh lớp 9 đã nhanh chóng lan truyền khắp lớp. Dì phải làm kiểm điểm trước chi đoàn với lời hứa là phải chấm dứt ngay “mối tình bất chính” để chuyên tâm vào việc học tập. Sau lần ấy, dì cẩn thận hơn. Không bao giờ dì còn dám đem những lá thư viết dở đến trường nữa.
          Thư của người lính từ mặt trận xa xôi vẫn gửi về đều đặn. Dì Vân thấy lo lo khi bóc những lá thư ấy. Một bữa đọc thư, dì hốt hoảng khi người lính hẹn ngày về và nói về một đám cưới sau chiến thắng. Dì thấy ân hận đã lừa dối một người chiến sĩ suốt mấy năm ròng. Dì đã để anh nuôi hy vọng đi qua cuộc chiến tranh. Dì cảm thấy mình thật có lỗi. Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, trong niềm vui đại thắng, dì cứ canh cánh một nỗi lo âu. Dì không bao giờ quên cái ngày có một người lính xuất hiện trước ngõ. Cũng đúng hôm ấy mẹ đưa Hạnh về quê. Hạnh còn rất bé.
          Đang chơi tha thẩn ở sân, vừa nhìn thấy chú bộ đội, Hạnh đã nhanh nhảu:
          - Cháu chào chú bộ đội ạ!
          Người lính hỏi thăm cô bé:
          - Cho chú hỏi, có ai ở nhà không cháu?
          Hạnh khoanh tay:
          - Mẹ Vi đi chợ rồi! Chỉ có dì Vân ở nhà thôi chú ạ!
          Người lính giật mình thảng thốt. Sao lại thế. Người anh vẫn thương nhớ đã lấy chồng và có con lớn thế này rồi sao! Anh vừa mới nhận được một lá thư với bao lời ước hẹn thế mà. Anh lúng túng khi bé Hạnh gọi to:
          - Dì Vân ơi! Có chú bộ đội đến nhà ta…
          Dì Vân chạy ra. Nhìn thấy người lính dì đã hiểu tất cả. Mất hồi lâu trấn tĩnh lại, dì mời anh vào nhà. Dì lúng túng rót nước mời anh. Đôi mắt hoang mang của dì cứ nhìn cắm xuống đất. Dì rất sợ chị gái đi chợ bất chợt trở về. Dì đi vào trong buồng đem ra một cái hộp gỗ nhỏ. Dì mở hộp lấy ra một xấp thư ấp úng:
          - Em gửi lại anh. Anh tha lỗi cho em đã mạo nhận chị Vi viết thư cho anh suốt mấy năm qua…
          Nhìn những lá thư của mình được giữ gìn trân trọng, người lính hiểu mọi chuyện. Anh không thấy giận người đã lừa dối mình. Anh chỉ buồn. Một nỗi buồn dâng dâng lên lấp đầy trong lòng anh. Anh thấy hụt hẫng. Tiếng dì Vân vẻ cầu xin: “Anh Thuận cũng đừng giận chị Vi em nhé!”. Anh đứng dậy nói, giọng nhẹ bẫng: “Thôi! Anh về nhé!”. Dì Vân ngập ngừng hỏi: “Thế còn những lá thư?”. Anh bảo: “Em cứ giữ lấy!”. 
          Bé Hạnh chợt húng hắng ho. Cuối mùa thu trời đã chớm lạnh. Người lính sực nhớ. Anh mở ba lô lấy ra một múi dù hoa. Đó là món quà mặt trận anh nâng niu dành để đem về tặng người yêu. Anh đã suýt mất mạng khi bò vào tận sát hàng rào thép gai cứ điểm giặc để lấy cái dù. Anh quàng mảnh khăn dù cho bé Hạnh đỡ lạnh cổ rồi ra đi.
          Đó là câu chuyện của gần ba mươi năm về trước. Giờ thì Hạnh đã nhiều tuổi hơn cả mẹ hồi ấy. Có chuyện Hạnh còn nhớ. Nhiều chuyện thì nghe dì Vân kể lại. Dì Vân giờ cũng đã gần năm mươi tuổi. Học hết cấp 3, dì thi đỗ vào trường trung cấp nông lâm của tỉnh. Tốt nghiệp dì về công tác ở phòng nông nghệp huyện đến nay. Không hiểu vì sao dì chẳng lấy chồng. Dì vẫn ở vậy trong ngôi nhà của ông bà ngoại. Hạnh còn nhớ đến tuổi đôi mươi dì bỗng đẹp lên một cách đầy quyến rũ. Nhiều chàng trai tìm đến tán tỉnh. Họ đã nói bao lời yêu thương, tốt đẹp. Nhưng dì Vân cứ thấy tình cảm của mình đối với họ trườn trượt đi như nước mưa trôi trên sườn đồi dốc đứng. Hình như bao nhiêu tình cảm, lời lẽ yêu thương dì đã dồn hết vào những lá thư tình viết thời chiến tranh mất rồi. Ông bà ngoại cứ như lửa cháy trong lòng khi mỗi năm qua đi mà dì vẫn như con thuyền không có bến. Đến tận khi họ theo nhau về với tiên tổ cũng chẳng được thấy người con gái út hạnh phúc.
          Người lính trở về năm xưa cũng lẻ bóng. Anh chưa lấy vợ. Có lẽ mối tình đầu và những lá thư tình trong chiến tranh còn ám ảnh mãi trong anh. Căn nhà nhỏ của anh trên bãi sông. Một chiếc vó bè kẽo kẹt ngày đêm. Mấy lần Hạnh giở trò mối lái, tìm cách kéo hai người lại gần nhau. Lần nào dắt con về thăm dì Hạnh cũng làm cơm mời chú Thuận đến cùng ăn. Nhìn hai người lớn tuổi ấy ngồi cùng một mâm sao mà ấm áp thế. Vậy mà câu chuyện giữa họ sao cứ rời rạc và xa cách quá. Hạnh không lý giải nổi tại sao. Hôm nay trên đường về nhà dì, Hạnh cứ nghĩ, họ đã viết cho nhau những lá thư nồng nàn như vậy mà lại không thể nói với nhau lấy một lời yêu thương, không thể đến với nhau giữa đời thường. Hay những lá thư có thật ấy chỉ là ảo ảnh. Phải chăng nó giúp hai người đi qua năm tháng chiến tranh khốc liệt, đi qua tuổi trẻ nhưng lại chẳng giúp được gì cho họ trong thời bình, khi đã định tâm.
  *
          Hạnh và con gái về đến ngõ nhà dì Vân thì trời đã nhá nhem tối. Căn nhà vắng lạnh. Dưới bếp, chú Thuận đang lúi húi nấu cháo cho người ốm. Dì Vân bị sốt li bì đã mấy ngày. Thấy Hạnh về chú Thuận mừng lắm. Chú vội nói ngay:
          - Cháu chăm sóc dì, chú ra vó bè đây!
          Hạnh níu kéo mãi, chú Thuận mới chịu ở lại ăn cơm cùng hai mẹ con. Dì Vân cố gượng dậy húp lưng bát cháo. Trông dì có vẻ mệt mỏi, Hạnh thương lắm. Lại thấy chú Thuận vừa buông bát đã định đi, không đừng được, Hạnh buột miệng:
          - Cháu thấy hai người nên về sống với nhau mới phải…
          Chú Thuận bị bất ngờ. Chú lúng túng đặt chén nước xuống chõng. Dì Vân chống tay ngồi bật dậy mắng:
          - Chuyện người lớn, trẻ con không được xen vào!
          - Cháu cũng là người lớn rồi chứ bộ!
          Hạnh cãi. Chú Thuận bật cười:
          - Con gái nó cũng lớn tướng rồi đấy!
          Mọi người cùng cười. Bé Thương sà đến túm tay bà ỏn ẻn nói:
           - Bà đừng mắng mẹ cháu nữa nhé!
          Hạnh được thể cứ nói luôn một mạch, hết chuyện này đến chuyện khác, néo vào cả chuyện về những lá thư hai người đã viết cho nhau ngày trước. Dì Vân và chú Thuận tuy hơi gượng gập nhưng có vẻ vui khiến Hạnh lại nuôi hy vọng.      
          Ở chơi nhà dì Vân mấy hôm Hạnh và con trở về  thành phố. Dì Vân đã đỡ bệnh. Dì tiễn hai mẹ con ra tận bến sông. Hạnh bảo “con phải ra chào chú Thuận” và kéo cả dì Vân cùng đi. Dì Vân biết thóp cô cháu gái nhưng cũng đi theo. Chú Thuận đang kéo vó bè vội về nhà định làm cơm nhưng Hạnh nói vừa ăn ở nhà dì xong nên lại thôi. Chú đã chuẩn bị quà cho hai mẹ con Hạnh. Đó là mấy cân gạo nếp và vài ống đỗ xanh. Hạnh từ chối mãi không được. Sợ không nhận chú sẽ giận Hạnh đành đem theo. Hạnh đeo lủng củng mấy thứ quà quê của dì và của chú Thuận. Hạnh dặn dì cứ ở chơi với chú Thuận rồi đưa con xuống đò sang sông. Ngoái lại nhìn hai người đứng trước cửa căn nhà nhỏ Hạnh cứ thấy nao cả lòng.
          Hạnh cứ nghĩ mãi, họ đã đi qua quá nửa cuộc đời, gian nan, ác liệt đều trải thế mà lại không thể vượt qua được chút mặc cảm để đến với nhau. Sao mỗi người cứ cố giữ cho mình một mảnh trời riêng như thế. Hạnh thầm trách chú Thuận cố chấp, trách dì Vân vô tình. Sau này Hạnh mới biết là mình nhầm. Chú Thuận đã đem từ mặt trận về một căn bệnh quái ác của chiến tranh. Cơ thể chú đã nhiễm chất độc da cam của Mỹ rải xuống chiến trường. Khi phát hiện ra điều  ấy, chú không muốn kéo thêm một người nữa vào chịu chung bất hạnh. Nhất là người con gái ấy đã từng đem lại cho chú niềm vui, nguồn sống, hy vọng để vượt qua những ngày máu lửa. Còn dì Vân thì đã dành hết tình cảm cho một người. Vì thế dì cứ chờ đợi mãi ở nơi ấy…   
          Một hôm, hết giờ làm việc, Hạnh đón con về đến nhà, đã thấy dì Vân đang đứng đợi ở cửa. Nhìn nét mặt bơ phờ của dì, Hạnh lo lắng chào bằng một câu hỏi: 
          - Dì lên thăm cháu ạ?     
           Dì lên với các cháu vài hôm! Chú Thuận mất rồi…
          - Ôi… sao… sao… lại thế ạ?
          Hạnh lập cập hỏi. Chẳng kịp chờ dì trả lời, nước mắt Hạnh đã trào ra, cô oà khóc. Bé Thương đang hớn hở, thấy mẹ và bà khóc nó cũng bật khóc theo. Hạnh lúng túng mãi mới mở nổi cánh cửa. Dì Vân đặt cái túi ngồi xuống ghế. Nghe dì kể, Hạnh thấy thương chú Thuận quá. Mấy hôm trước, chú Thuận bị sốt cao. Chất độc trong cơ thể phát tác khiến chú rất mệt mỏi phải nghỉ ở nhà. Đang nằm chợt nghe phía ngoài sông có tiếng kêu cứu, chú vội tung chăn chạy ra. Có hai đứa trẻ ra sông tắm gặp chỗ dòng chảy xiết bị nước cuốn đi. Chú Thuận lao ngay xuống dòng sông đang cuồn cuộn. Chú vật lộn với dòng nước xiết đến kiệt sức mới cứu được hai đứa bé. Sau lần ấy chú Thuận càng ốm nặng thêm. Chú đã không vượt qua được.
          Người ta chôn cất chú trên một cái gò đất gần bến sông. Hạnh trách dì Vân chuyện như thế mà không điện báo cho biết. Dì bảo chuyện buồn quá báo tin làm gì. Với lại lúc ấy bối rối chẳng nhớ được gì cả. Hạnh định sẽ về quê ngay để thắp hương cho chú Thuận nhưng lại thương dì vừa lên còn đang buồn, không muốn để dì ở lại một mình. Dì Vân ở chơi nhà Hạnh vài hôm thì đòi về. Hạnh xin nghỉ một buổi để về cùng.
          Hai dì cháu đi trên con đường đê qua bãi tha ma mả Tây ra phía gò đất bãi sông. Hạnh bày hoa quả ra đĩa rồi đốt một thẻ hương thơm cắm lên ngôi mộ mới. Dì Vân lấy trong túi sách ra tập thư đã cũ, nét chữ trên phong bì đã nhạt màu. Đó là những lá thư dì đã viết cho chú Thuận trong chiến tranh, chú vẫn còn giữ. Sau ngày chú mất, người em họ tìm thấy khi dọn dẹp nhà cửa đã trao lại cho dì. Dì Vân châm lửa đốt những lá thư. Hạnh hỏi thì dì bảo: “Để chú ấy đem theo!”.
          Một cơn gió nhẹ chợt thoảng qua, tàn lửa bùng lên như những chùm hoa cải đang nở rộ trên bờ bãi. Bến sông chiều nắng thu vàng loang trên mặt nước.    
                                                                                          Mùa thu 2005    

Thứ Tư, 14 tháng 12, 2011

Truyện ngắn THUYẾT KHÁCH

Gái và hoa                   

Thuyết khách
 Truyện ngắn của Trọng Bảo  

      Nhận được thông báo nghỉ hưu, ông Đạt đùng đùng quyết định về quê ở. Bà vợ ông mắt chữ A, mồm chữ O quát:
         - Ông hâm à! Ở quê còn cái gì nữa đâu mà về. Một căn nhà sắp sập, một mảnh vườn chó ỉa, tôi đang rao bán mãi chả thấy ai hỏi mua. Ông về đó để làm gì?
         Ông sửa lại cái quai ba lô, buộc lại một tập giấy tờ bản thảo. Xong xuôi, ông mới bảo:
         - Bà cứ ở thành phố mà bồng bế con cái, lo cơm nước cho chúng nó. Tôi về quê. Ở đây suốt ngày ngồi chót vót trên tầng 25 xem ti vi từ sáng đến tối tôi không chịu nổi.
         - Hay là ông cứ thư thư, để cuối tuần chúng nó về trước xem xét sửa sang, quét tước lại nhà cửa sạch sẽ rồi ông hẵng về!
                    Cây đa

         Bà vợ tìm kế hoãn binh. Ông xua xua tay:
         - Không cần! Tôi sẽ tự làm lấy.
         - Đúng là đồ gàn dở...
         Bà vợ ông lẩm bẩm. Con bé cháu gái từ nãy đến giờ vẫn đứng nhìn ông bà tranh luận với nhau giờ mới đến bên ông thỏ thẻ:
         - Bố cháu bảo ông sắp "về vườn" rồi. Ông cho cháu về vườn với ông nhé! Cháu thích ra vườn bắt con bươm bướm ông ạ!
         Ông Đạt bật cười xoa đầu con bé:
         - Ông về vườn đây. Nhưng cháu phải ở Hà Nội để còn đi mẫu giáo tập múa với các bạn chứ. Khi nào ông làm xong khu vườn cổ tích ở quê ông sẽ đón cháu về xem nhé!
         - Vâng ạ!
         Con bé ngoan ngoãn gật đầu.
         Thế là ông Đạt khoác ba lô về quê. Hơn bốn mươi năm trước, ông khoác ba lô rời làng ra đi. Bây giờ ông lại khoác ba lô trở về. Cái cổng làng rêu phủ ngày xưa nay chỉ còn là dấu tích. Cây đa đầu làng đã già lắm rồi. Cây đa ấy có hai rễ tạo thành hai cái gốc của cây. Khi mở rộng con đường quốc lộ, người ta đã cắt mất một cái rễ to. Thành thử cái cây trông như một người bị cụt một chân đang đứng lom khom nhìn con đường xe chạy suốt ngày đêm như mắc cửi.
          Ông Đạt dọn dẹp lại nhà cửa, vườn tược. Thằng cháu họ biết tin ông về sang thăm. Nó ngó nghiêng một lủc rồi đi mất. Một lát nó quay lại xách theo một xô vôi ướt giúp ông quét lại tường nhà. Ngôi nhà bớt mùi ẩm mốc. Thấy ông dọn cây cỏ ở vườn, một ông bạn đồng niên ngó vào hỏi:
         - Ông về làm trang trại để nghỉ dưỡng cuối tuần ở quê hả?
         - Trang trại gì. Tôi về làng ở hẳn đấy!
         Thế là tin ông về làng loang ra rất nhanh. Bạn bè đồng ngũ, đồng môn kéo đến. Ngôi nhà của ông rôm rả hẳn lên. Mỗi người giúp một tay. Khu vườn hoang phong quang hẳn lên.
         Ông Đạt về quê được mấy hôm thì có một vị khách quan trọng tìm đến. Đó là anh chủ tịch xã. Sau vài lời thăm hỏi xã giao, anh chủ tịch xã đề nghị:
         - Chúng cháu muốn bác giúp cho một việc ạ.
         - Việc gì thế! Giúp được việc gì cho làng, cho xã nhất định tôi sẽ cố...
         - Chả là xã ta chuẩn bị đón nhận huân chương kháng chiến hạng nhất. Các khâu đã chuẩn bị đầy đủ rồi. Chỉ còn khoản diễn văn là viết mấy lần đều không thông qua được. Chúng cháu là lớp con cháu, lịch sử xã thì ghi chép không đầy đủ nên viết không hay. Muốn nhờ bác giúp vì nghe nói khi còn ở bộ đội bác từng làm nghề viết sử...
         - Việc này thì được! Tôi sẽ viết giúp. Vài bữa là xong thôi.
         Anh chủ tịch xã phấn khởi mở cặp rút ra một tập bản thảo đánh máy đã cũ nói tiếp:
          - Đây là sơ thảo lịch sử xã ta. Bác cứ đọc trước đi, mai cháu sẽ cho cậu thư ký uỷ ban đem đến các bản báo cáo thành tích những năm gần đây để bác tham khảo thêm.
          Ông Đạt cũng cảm thấy phấn khởi vì được chính quyền địa phương tin cậy. Ông bắt đầu đọc những trang bản thảo cuốn lịch sử của xã. Càng đọc, ông càng thấy lịch sử của quê hương mình cũng thật hào hùng. Những chuyện từ thời tiền khởi nghĩa, trong kháng chiến chống Pháp và trong kháng chiến chống Mỹ bây giờ ông mới hiểu hết. Ông chỉ hơi ngạc nhiên là bản thảo cuốn lịch sử viết khá đầy đủ, văn phong cũng hay tại sao xã không cho in thành sách để lớp lớp con em mãi ghi nhớ, làm theo. Ông thấy lòng mình lâng lâng, hứng khởi. Ông vừa lôi giấy bút ra định bắt tay vào viết diễn văn thì ngoài cổng có tiếng ồn ào. Toán người kéo vào, có cả mấy cụ già tóc bạc phơ được đám thanh niên dìu đi. Ông Đạt ngạc nhiên:
         - Các cụ, các bác đến có việc gì đấy ạ?
         - Chúng tôi đến để kiến nghị với chú đây!
         Một người nói. Ông Đạt ngạc nhiên:
         - Kiến nghị về việc gì ạ! Có gì kiến nghị thì các cụ, các ông, các bác phải lên gặp chính quyền xã chứ ạ?
         - Kiến nghị về bài diễn văn chú đang viết đấy!
         Ông Đạt càng không hiểu. Một ông sau khi đã ngồi xuống ghế nói:
         - Trong diễn văn, chú phải viết rõ là ông Nguyễn Thoảng là người đã treo cờ đỏ ở cây đa đầu làng ta kêu gọi nhân dân nổi dậy khởi nghĩa nhé!
         Ông Đạt ớ người:
         - Nhưng trong bản thảo lịch sử của xã thì có hai người treo cờ là ông Vũ Văn Huân và ông Nguyễn Thoảng cơ mà?
         - Đúng thế! Nhưng người trực tiếp trèo lên cây đa treo cờ phải là ông Nguyễn Thoảng ở xóm Nội...
         Thì ra họ đều là người thuộc dòng họ Nguyễn với ông. Các cụ, các ông ra sức giải thích, chứng minh lời họ nói là đúng. Ông Đạt lúng túng không biết xử lý ra sao. Đám người đứng dậy ra về. Trước khi đi, một ông còn bảo: "Bác viết thế nào thì viết. Bác là người xóm này, bác phải luôn luôn ghi nhớ chiến công của người xóm ta đấy nhé!".
Đám người ra về lâu rồi, ông Đạt vẫn ngồi thừ trên chõng không viết được thêm chữ nào. Ông đang định lên uỷ ban xã tìm anh chủ tịch để trao đổi thêm thì lại có một tốp người từ ngoài cổng kéo vào. Họ là những người thuộc dòng họ Vũ ở xóm Ngoại. Họ đến cũng vì bài diễn văn sẽ đọc trong buổi xã tổ chức đón huân chương. Họ cũng lại nói về việc treo cờ kêu gọi nhân dân vùng lên khởi nghĩa trên cây đa đầu làng. Sau một hồi giải thích, đưa ra chứng cứ chứng minh, một ông có vẻ là trưởng đoàn kết luận:
- Chắc chắn người trèo lên treo cờ trên ngọn cây đa là ông Vũ Văn Huân, người xóm Ngoại. Bác là người xóm Nội, họ Nguyễn. Nhưng nếu bác thiên vị, viết sai lịch sử là không được đâu!
Tốp dân xóm Ngoại ra về. Ông Đạt thấy hoang mang quá. Không ngờ một chuyện tưởng như rất đơn giản mà lại thành phức tạp quá. Ngày đón huân chương theo ấn định đã đến gần mà bài diễn văn vẫn chưa biết viết thế nào. Chả lẽ một sự kiện quan trọng nhất của xã lại không viết vào diễn văn. Sau khi nghe ông Đạt kể lại chuyện hai xóm cử người đến nhà, anh chủ tịch xã đành thú thật:
- Cuốn lịch sử của xã chính vì thế không xuất bản được mặc dù đã viết đi, viết lại nhiều lần. Trước đây giao cho ông Tứ xóm Nội dự thảo thì mọi thành tích của xã đều là của dòng họ Nguyễn cả. Giao cho anh Quân ở xóm Ngoại hiệu đính, sửa chữa lại thì dòng họ Vũ mới chính là những người có công lao nhất xã. Đem ra hội thảo trước thì tranh luận, sau thì cãi nhau ỏm tỏi, chẳng bên nào chịu bên nào. Sau phải nhờ đến các anh ở trên sở văn hoá tỉnh về viết lại và hiệu đính cho nhưng cũng chưa dám in vì sợ in ra sẽ phức tạp lắm.
Ông Đạt trầm ngâm suy nghĩ. Một lát sau ông bảo:
- Mai tôi sẽ mời đại diện cả hai xóm đến nói là để trao đổi về bài diễn văn. Anh cứ làm việc ở trụ sở ủy ban xã, đừng đi đâu xa, lúc nào tôi cho thằng cháu gọi thì đến ngay nhé!
- Bác có giải pháp gì hay ạ?
- Bí mật! Chủ tịch cứ yên tâm. Nhất định tôi sẽ hoàn thành nhiệm vụ là "đại sứ", là thuyết khách để hoà giải, đoàn kết giữa hai xóm.
Chả cần ông Đạt phải mời lần thứ hai. Hôm sau đại diện cả hai xóm đều có mặt đầy đủ. Họ ngồi thành hai phía trong nhà ông Đạt. Đã có tiếng tranh cãi lẻ tẻ. Ông Đạt bảo thằng cháu rót nước mời mọi người. Chờ mọi người yên vị, ông Đạt mới đứng dậy. Sau mấy câu thưa gửi trịnh trọng, ông hỏi:
- Phần mộ của ông Thoảng bây giờ đặt đâu ạ?
- Ở nghĩa trang liệt sĩ của xã, ngay dưới chân đài tưởng niệm.
- Thế còn ông Huân?
- Cũng ở nghĩa trang liệt sĩ xã ta. Hai người hy sinh trong cùng một trận càn của giặc Pháp.
Mọi người nhao nhao nói. Ông Đạt giờ mới kể:
- Tôi đã đọc rất kỹ bản thảo về lịch sử của xã ta, lại tìm hiểu cả lịch sử của huyện, của tỉnh và nghe các cụ cao niên kể lại. Trong trận càn ấy ông Thoảng bị thương rất nặng, ông Huân đã cõng ông Thoảng rút lui. Khi bọn địch ập đến, ông Thoảng bảo ông Huân cứ để mình nằm lại trong làng rồi chạy thoát ra ngoài rừng nhưng ông Huân dứt khoát không chịu. Ông vừa bắn chặn địch vừa tìm cách đưa ông Thoảng cùng rút lui. Bọn địch khép chặt vòng vây. Biết không thể thoát được, hai người đã sát cánh bên nhau chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Khi bọn địch xông đến định bắt sống, họ đã ôm lấy nhau cho nổ một quả lựu đạn chết cùng mấy tên giặc. Máu xương của họ đã trộn với nhau, thấm sâu xuống mảnh đất quê ta. Họ đều là những người vô cùng dũng cảm đúng không!
- Đúng... đúng... đúng thế!
Nhiều người tỏ vẻ đồng tình. Ông Đạt nói tiếp:
 - Việc treo cờ trên ngọn cây đa đầu làng kêu gọi nhân dân đứng lên khởi nghĩa trong cách mạng tháng Tám cũng vậy. Ông Huân là người đã trèo lên ngọn đa để treo cờ, ông Thoảng là người đứng dưới gốc cây cảnh giới bảo vệ. Họ đều có chung một chiến công. Không phải ông Thoảng đứng dưới gốc cây là kém nguy hiểm hơn người treo cờ trên ngọn cây. Chính ông Thoảng đã chủ động nổ súng đánh lạc hướng kéo bọn giặc đuổi theo mình để ông Huân có thời gian từ ngọn đa tụt xuống rồi rút lui an toàn. Bận ấy, ông Thoảng bị đạn bắn sượt tai, suýt chết. Ông ấy đã nhận phần nguy hiểm nhất về mình rồi còn gì.
Mọi người gật gù. Ông Đạt tiếp tục nói:
- Trong chuyện treo cờ này còn phải ghi nhớ công lao của bố con ông lão ăn mày nằm ở cái quán đầu làng nữa. Chính bố con lão ăn mày là người đầu tiên phát hiện bọn giặc đang bí mật tiến vào làng mà gào to báo động cho dân làng biết. Cái chết của bố con ông lão ăn mày ở đầu làng ta đáng để ghi vào lịch sử của xã lắm chứ. Tại sao chúng ta lại không hề một lần nhắc đến họ? - Ngừng một lát nhìn mọi người, ông nói tiếp: - Chúng tôi sau này trong chiến đấu cũng vậy. Để có một người cắm được lá cờ chiến thắng lên sở chỉ huy bốt đồn địch là công lao, mồ hôi, nước mắt, sự hy sinh đổ máu của biết bao nhiêu người đấy. Nhiều người đã ngã xuống trước cửa mở khi dẫn đầu đội hình xung kích, có người trúng đạn, thi thể nằm vắt trên hàng rào dây thép gai, có người lấy thân mình lấp lỗ châu mai che đạn cho đồng đội xung phong. Vậy có phải chiến công là chiến công chung chứ đâu chỉ là thành tích riêng của mỗi một người cắm cờ...
Mọi người lặng im. Giọng ông Đạt trầm hẳn đi:
- Ông Thoảng và ông Huân đang nằm yên nghỉ bên nhau trong nghĩa trang liệt sĩ. Họ mãi mãi sẽ là đồng đội, là những người bạn chiến đấu thân thiết nhất của nhau. Họ dám chia sẻ cả cái sống, cái chết cho nhau. Họ sẽ đau buồn nhường nào khi biết chúng ta, những người còn sống, những lớp con cháu hôm nay đem họ ra so sánh với nhau xem ai hơn ai...
Có nhiều tiếng thở dài. Anh chủ tịch xã cũng đã đến. Anh ngồi giữa những người dân của hai xóm. Lúc nãy ông Đạt đã nháy thằng cháu chạy đi gọi anh đến. Ông Đạt bất ngờ hỏi:
- Tuy mới về làng nhưng tôi nghe bà con nói hai xóm ta thường xuyên xảy ra xích mích. Có nhiều chuyện không đâu vào đâu cũng cãi nhau, thậm chí xô xát đánh, chém nhau gây đổ máu, thù hận. Ruộng gần nhau mà không cho dẫn nước qua, trâu bò xóm này lạc sang xóm khác là bị đánh gãy chân, rồi chặt, nhổ phá hoại cả hoa màu của nhau nữa... Có đúng thế không?
Nhiều người ấp úng lúng túng. Nhưng không ai trả lời. Ông Đạt nói như kết luận:
- Viết xong bài diễn văn này tôi đề nghị anh chủ tịch xã gửi cho cả hai xóm xem, cùng góp ý kiến cùng bổ sung, sửa chữa. Chỉ có một điều tôi cần nói ngay là chúng ta phải viết cho trung thực, đúng sự thật lịch sử của làng, của xã ta, không được tranh công, đổ lỗi cho nhau.
Mọi người ồn ào tán đồng. Không khí trong ngôi nhà nhỏ của ông Đạt vui vẻ hẳn lên. Một lúc sau thì chả còn ai nhắc đến chuyện bài diễn văn nữa. Họ bàn sang chuyện làm ăn, chuyện giúp nhau giống vốn, mời nhau ăn giỗ, sang cát. Có người bận việc ra về trước, có mấy người kéo đến thêm ngồi chật ba gian nhà nhỏ, chẳng còn phân biệt ai là người xóm Nội, xóm Ngoại nữa.
Câu chuyện viết diễn văn và là "thuyết khách" của ông Đạt là thế. Hôm đón huân chương hai xóm tổ chức mổ một lợn làm một bữa cỗ chung ăn uống rất vui vẻ. Đã từ lâu rồi mới lại có chuyện như vậy. Tiếng trống rộn rã hai xóm. Trên ngọn cây đa già đầu làng một lá cờ đỏ rất to tung bay phần phật trong gió mùa Xuân.
*
Một buổi sáng ông Đạt đang xới cây trong vườn thì có một đôi trai gái đến. Cô gái bẽn lẽn:
- Chúng cháu đến để cảm ơn bác ạ!
Ông Đạt ngạc nhiên:
- Cảm ơn về việc gì nhỉ?
- Dạ! - Chàng trai giờ mới lên tiếng: - Nhờ có bác mà chúng cháu mới lấy được nhau đấy! Hôm nay chúng cháu đến để cảm ơn và mời bác dự đám cưới của chúng cháu ạ!
Ông Đạt càng không hiểu. Chàng trai giải thích:
- Chúng cháu yêu nhau đã lâu rồi nhưng bố mẹ cả hai bên đều không đồng ý. Sau bài diễn văn đón huân chương của bác mà hai xóm đã đoàn kết, hoà thuận, chúng cháu mới đến được với nhau đấy ạ!
Ông Đạt chợt hiểu. Thì ra hai cô cậu này người ở xóm Nội, người ở xóm Ngoại. Vì mâu thuẫn bấy lâu mà gia đình ngăn cấm không cho yêu đương. Có lần chàng trai xóm Nội sang nhà cô gái chơi bị đám thanh niên xóm Ngoại đuổi đánh phải nhày xuống sông suýt chết đuối. Họ đã tính đến chuyện đưa nhau bỏ đi khỏi làng. Nay thì mọi chuyện đã tốt đẹp.
Đôi trai gái đi rồi ông Đạt vẫn đứng lặng đi. Tay cầm tấm thiếp hồng mà lòng ông thấy vui vui. Mùa Xuân đang đến. Có tiếng chim líu lo hót trên cành tre trước cổng.

                                                                       Vĩnh Phúc, 17/2/2008

 

Thứ Tư, 7 tháng 12, 2011

Truyện ngắn CHỨNG TỪ SỐNG


Chứng từ sống
Truyện ngắn của Trọng Bảo

          Cuối năm đã bận tối mắt, tối mũi tôi lại nhận được quá nhiều giấy mời họp. Mà giấy nào cũng quan trọng cả. Chưa kể cấp trên lại ủy quyền đi họp thay nhiều cuộc nữa.

                
Họp hành
     

          Một hôm, tôi được lệnh thay sếp đi dự một cuộc họp quan trọng. Lên cơ quan trung ương họp thì phải chỉnh tề. Tôi đánh một bộ com-lê là thẳng nếp, xách một cái cặp khóa số phóng xe máy đến bấm thang máy lên tầng 10 bước vào phòng họp. Nhận tài liệu, ngồi yên vị, tôi giật nảy mình nhìn lên tấm bảng ghi "Hội thảo về quy trình số hóa quản lý vi mô, điều hành vĩ mô". Tôi hoảng hồn ghé tai anh bạn thân cùng dân làm báo ngồi bên cạnh thì thào:
          - Bỏ mẹ! Mình là dân văn chương, báo chí biết gì về "số hóa" đâu mà tham gia hội thảo?
          Anh bạn thân tặc lưỡi khẽ bảo:
          - Chúng mình chỉ là "quân xanh", là những "chứng từ sống" cho các vị ở cái ban nghiên cứu đề tài "số hóa..." ấy họ quyết toán cuối năm cho hết kinh phí được đầu tư thôi! Ông cứ yên tâm chén hết đĩa hoa quả và bánh kẹo để trước mặt rồi ta tìm cách chuồn...
          - Chuồn thế quái nào được! Phòng họp có mấy người, lại xếp theo kiểu bàn tròn, họ làm một cái biển to tổ bố ghi tên cơ quan mình đặt ở trước mặt thế này bỏ họp giữa chừng thì ngại quá!
          - Ờ nhỉ! Mà họ còn để sẵn cả một tờ lịch năm mới kính biếu các đại biểu ở trên bàn. Tự dưng mình bỏ cuộc họp thì cũng ngại thật. Thôi cứ cố ngồi một lúc xem sao.
          Tôi cố nghe diễn giả trình bày xem có hiểu được chút gì không nhưng chịu. Anh bạn thân lại quay sang nói nhỏ:
          - Mỗi ông kiếm được vài triệu tiền tham luận đấy!
         Nghe anh nói vậy tôi phấn khởi thò tay vào túi quần nắn nắn cái phong bì "ăn trưa" dán kín mà ban tổ chức đưa cho lúc nãy rồi thì thào:

         - Thế thì cánh ta cũng kha khá ông ạ, phong bì thấy dày dặn lắm!
         Anh bạn bữu môi:
         - Ăn thua mẹ gì! Lúc nãy tôi tranh thủ chui vào toa-lét kiểm tra rồi. Được có 50 nghìn đồng kèm theo một cái thiếp "Chúc mừng năm mới" nên nó mới dày cộp thế.
         - Thôi chết! Thế này đúng là mình làm "chứng từ sống" cho họ thật rồi! Giải lao giữa giờ là ta lập tức chuồn ngay ông nhé?
         - Làm gì có giải lao! Cái kiểu hội thảo thế này họ làm luôn một mạch cho đến tận quá trưa. Ai muốn ra ngoài đi vệ sinh thì cứ đi, đói khát thì đã có đồ ăn, nước uống ở ngay trên bàn rồi...
         Nghe anh bạn nói vậy, tôi chán quá. Thôi thì đành tranh thủ ăn mấy quả táo và miếng bánh cái đã. Vừa ăn tôi vừa quan sát xung quanh và nghĩ cách chuồn ra ngoài. Anh bạn lại ghé tai tôi thì thào:
         - Ông có thấy cái tay ngồi đối diện đầu hói bóng lộn chỉ có mấy sợi tóc lơ thơ vắt ngang trên đầu kia không?
         - Có, nhưng sao?
        - Tôi để ý thấy lão này cứ chằm chằm nhìn tụi mình mãi. Chắc lão ta là cán bộ cấp cao, thấy tụi mình thiếu tập trung nghe thuyết trình nên có vẻ khó chịu lắm.
         Tôi bực:
         - Kệ xác lão ta! Mình làm sao mà chuồn ra được bây giờ?
         - Thì cũng chỉ tại ông cả đấy!
         - Sao lại tại tôi?
         - Thì tôi bảo đi họp chỉ cần đem theo một cuốn sổ nhỏ. Lựa lúc không ai để ý thì tống luôn cuốn sổ vào trong ngực áo rồi đứng dậy giả vờ ra ngoài đi vệ sinh hoặc nghe điện thoại rồi chuồn luôn. Đằng này ông lại cứ bảo phải diện com-lê, ca vát, xách cặp khóa số cho oai. Bây giờ mà tự dưng mình đứng dậy xách cặp bỏ ra ngoài thì còn ra cái thể thống gì nữa...
         - Nhưng mà đi họp ở nơi quan trọng thế này mà chỉ cầm mỗi cuốn sổ thì...
         - Đấy, ông cứ hay sĩ diện hão thế nên mới khổ... Thôi cố mà ngồi cho đến hết giờ vậy!
         Tôi đành im lặng chén nốt quả táo cuối cùng.
         Giữa lúc một vị trong hội đồng khoa học đang thao thao bất tuyệt giải thích các mô hình bằng phim đèn chiếu thì điện vụt tắt. Mất điện. Phòng họp tối om om. Anh bạn lập tức đứng bật dậy vơ luôn hai cái biển ghi tên cơ quan tôi và cơ quan anh nhét sâu vào trong gầm bàn rồi kéo tay tôi khẽ nói: "Thời cơ có một không hai đây rồi! Chuồn thôi!". Tôi cũng nhanh như chớp vớ vội cái cặp khóa số theo anh lách qua cánh cửa bên phóng ra ngoài hành lang rồi tụt cầu thang bộ từ tầng 10 xuống tầng âm để lấy xe máy.

          Đang mở khóa xe máy thì điện bật sáng. Tôi giật mình thấy người đang lúi húi bên cạnh trong hầm xe chính là cái ông đầu hói bóng lộn ngồi đối diện trong phòng hội thảo lúc nãy. Ông ta một tay xách cặp, nách kẹp tờ lịch, một tay cầm cái biển tên cơ quan. Nhận ra hai chúng tôi ông ta cười hề hề:
          - Vội quá, tớ cầm luôn theo cả cái biển tên để phi tang, khi có điện ban tổ chức không biết là đại biểu cơ quan mình bỏ dở cuộc hội thảo. Mà tớ cũng còn kịp vớ luôn cả tờ lịch kính biếu họ để sẵn trên bàn đây này... He... he... he... Các cậu tay không chạy ra hả?
          Ba chúng tôi cùng phá lên cười. Hóa ra tất cả chúng tôi toàn là những người đi họp thay, "hình nhân thế mạng" cho thủ trưởng cơ quan và cũng đều là những "chứng từ sống" cả.
                                                         Hà Nội, cuối năm 2010              

   

Truyện ngắn LÀNG CẢ LÊN ĐỜI


Làng Cả lên đời
Truyện ngắn của Trọng Bảo


         Làng Cả đột nhiên vui như hội. Dân làng nô nức. Nhìn ai cũng thấy nụ cười thường trực trên môi. Họ vừa được biết là sẽ có một dự án công nghiệp rất lớn sẽ mở ra ở đây. Cánh đồng làng Cả rộng thẳng cánh cò bay hai vụ lúa chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành một khu công nghiệp, khu chế xuất lớn nhất tỉnh. Ông Nháo trưởng thôn hể hả thông báo tại buổi họp toàn thôn:
         - Theo như các nhà đầu tư đã cam kết thì tất cả những người còn độ tuổi lao động của làng Cả sẽ đều được bố trí công ăn, việc làm trong khu công nghiệp, khu chế xuất.
          Bà Chòe tai nghễnh ngãng, nghe tiếng được, tiếng mất. Bà lo lắng hỏi:
          - Dư... mà như tôi một chữ bẻ đôi chả biết, lại hơn bảy chục tuổi rồi vẫn phải lao động, sống nhờ vào hơn sào lúa, mất ruộng thì làm được việc gì trong cái "khu cay nghiệt, khu chết tất" ấy?

     
Khu công nghiệp
 

         Mọi người cười ồ lên. Ông trưởng thôn vội chữa lại:
         - Khu công nghiệp, khu chế xuất! Không phải là "khu cay nghiệt, khu chết tất" bà ơi... - Ông khoát tay: - Bà sẽ được biên chế vào bộ phận vệ sinh môi trường chuyên cắt cỏ, chăm sóc vườn hoa, cây cảnh.
          Bà Chòe có vẻ yên tâm ngồi xuống. Đến lượt lão Cốc đứng dậy thắc mắc:
          - Tôi cả đời chỉ biết mỗi nghề... đánh dậm! Bây giờ mất ruộng, không còn chỗ kiếm con tôm, con cua, vào khu công nghiệp thì biết làm việc gì để sống?
          Ông trưởng thôn lúng túng:
          - Đánh dậm thì... giống ngành công nghiệp gì nhỉ... À... à, phải rồi, nghề đánh dậm rất giống công việc đãi quặng. Vào khu công nghiệp ông sẽ ở bộ phận chuyên đãi quặng, luyện kim... 
          Mụ Lường mở quán nước ở gốc đa đầu làng. Mụ chuyên ghi số đề và bán thơ đề cho cả làng và các làng bên cạnh đứng dậy xin phát biểu ý kiến. Mụ gãi đầu, gãi tai ấp úng:
          - Nghề của em thì bác đã biết rồi! Tới đây vào khu công nghiệp thì em biết làm gì ạ?
          - Thì... thì... đúng rồi, mụ sẽ vào bộ phận makétting, chuyên dự báo tình hình sản xuất, dự báo giá cả, thị trường. Nhiều lần thơ số đề của mụ dự đoán số đầu, số đít cũng đúng đáo để còn gì!
          Mọi người lại cười ồ lên. Nhiều cánh tay nhao nhao giơ cao xin phát biểu, nêu ý kiến thắc mắc. Ý kiến, thắc mắc nào của bà con cũng đều được ông trưởng thôn giải đáp thỏa đáng cả. Ai làm nghề gì ông cũng nghĩ ra một việc tương tự trong khu công nghiệp, khu chế xuất. Mọi người đều thấy thỏa mãn, hể hả. Cũng chính nhờ vậy mà khi có quyết định thu hồi ruộng, cả làng đều vui vẻ nhận tiền đền bù, giao đất cho ban dự án đúng thời gian quy định. Cũng nhờ số tiền đền bù đất rất cao mà cả làng tự dưng giàu sụ lên. Nhà nhà mua sắm xe máy đắt tiền, xây nhà cao tầng nguy nga hoành tráng. Làng Cả bây giờ giống như một góc phố Hà Nội. Mà Hà Nội có chỗ cũng chả bằng. Vì làng Cả đất thổ cư rộng, nhiều nhà xây như những biệt thự giữa vườn cây xanh trông rất đẹp. Làng Cả lên đời thật rồi!
          Trong khi đó thì việc san lấp cánh đồng, xây lắp các tổ hợp công nghệ trong khu công nghiệp, khu chế xuất cũng được các chủ dự án tiến hành rất nhanh. Cánh đồng rộng mênh mông ngày nào bây giờ đã lô nhô những nhà máy mới mọc lên. Người làng Cả ngàn đời chân đất, mắt toét đột nhiên cũng thấy mình sang trọng hẳn lên. Họ luôn tự hào về khu công nghiệp quê mình...
          Đúng như đã cam kết, đại diện chủ dự án tổ chức điều tra lao động trong làng để bố trí cho họ vào làm việc tại khu công nghiệp, khu chế xuất. Ai cũng háo hức mong chờ. Bởi chỉ nay mai thôi họ sẽ cởi bỏ bộ áo nâu quê mùa để mặc bộ quần áo xanh, áo trắng của người công nhân của thế kỷ 21.
*
          Buổi họp giữa đại diện khu công nghiệp, khu chế xuất với bà con làng Cả được tổ chức không lâu sau cuộc họp do ông trưởng thôn chủ trì bàn việc giao đất hôm nào. Ông đại diện dự án cầm một bản danh sách dài dằng dặc bắt đầu đọc tên những người được nhận vào làm việc tại khu công nghiệp, khu chế xuất. Ông ta xướng to:
          - Các ông bà Mai Thị Chòe, Trần Công Cốc, Lâm Quang Củ, Đào Văn Sắn, Nguyễn Thị Khoai, Vũ Trọng Ngô, Lê Thị Mía... tuổi đã trên bảy mươi sẽ vào làm việc tại khu vực sản xuất số 1, lương 1000 đô-la một tháng. Sau một năm sẽ tăng lên 1500 đô-la một tháng...
           Mọi người ào lên nhốn nháo hỏi nhau:
           - 1000 đô quy đổi ra tiền Việt bằng bao nhiêu nhỉ?
           - Theo tỷ giá bây giờ là gần 18 triệu đồng...
           - Ôi trời ơi...
           Có nhiều tiếng rú lên mừng rỡ. Ông đại diện dự án đọc tiếp:
          - Các ông bà Hoàng Trung Nháo, Hoàng Trung Nhác, Chu Văn Núi, Nguyễn Bờ Sông, Phạm Thị Ao, Hà Quang Ruộng, Đồng Tiến Chuôm... tuổi dưới bảy mươi sẽ làm việc ở khu vực sản xuất số 2, lương khởi điểm là... 1500 đô-la một tháng. Sau một năm sẽ nâng lên 2000 đô-la.
          - Ôi... ôi... - Trưởng thôn Hoàng Trung Nháo giơ cả hai tay lên trời sau khi đã lẩm nhẩm quy đổi 1500 đô-la ra tiền Việt. Cuộc họp ồn ào như chợ vỡ. Ai cũng vui mừng vì sẽ có tiền lương cao ngất sau khi vào làm trong khu công nghiệp, khu chế xuất. Bà Chòe thấy lo lắng quá. Nhà cửa còn tuềnh toàng, khi lĩnh lương hơn chục triệu đồng về bà biết cất vào đâu cho an toàn bây giờ. Bà đứng dậy rụt rè nói:
          - Báo cáo ông đại tiện khu công... công...
          Một người vội giật giật tay bà khẽ nhắc: "Đấy là "ông đại diện" chứ không phải là "ông đại tiện"! Mà ông ấy ở khu công nghiệp chứ không phải ở "khu công công" của thái giám đâu bà ơi!".
          Ông đại diện đề nghị mọi người yên lặng và mời bà Chòe phát biểu ý kiến. Bà Chòe thấy tự tin, mạnh dạn hơn. Bà hỏi:
          - Tôi xin được hỏi ở khu sản xuất số 1, chúng tôi sẽ làm công việc gì ạ?
          - À! Cụ thể thế này! - Ông đại diện khu công nghiệp giải thích: - Ở khu vực sản xuất số 1, công việc của các bác là điều hành hệ thống máy vi tính lập trình các phần mềm, hoặc sử dụng máy móc công nghệ cao sản xuất các loại vi mạch và con chíp điện tử...
           Bà Chòe giẫy nảy lên hốt hoảng:
           - Chết... chết! Sao mà chúng tôi làm được các công việc ấy?
           - Không sao! Chúng tôi sẽ tổ chức các lớp học cấp tốc để đào tạo tay nghề và ngoại ngữ cho các vị đáp ứng yêu cầu cao ở các khu vực sản xuất trong khu chế xuất...
           Mấy người nữa nhao nhao lên hỏi:
           - Thế còn ở khu vực sản xuất số 2?
           - Khu vực này đòi hỏi trình độ cao hơn... - Ông đại diện ngừng lời đưa mắt nhìn mọi người một lượt rồi nói tiếp: - Đây là khu vực chuyên vận hành các lò phản ứng hạt nhân nguyên tử, các máy phóng xạ, máy gia tốc cao...
           Mọi người sững sờ trố mắt, há hốc miệng kinh hãi. Ông đại diện vẫn tỉnh như không nói tiếp:
           - Bây giờ đề nghị mọi người ký vào bản hợp đồng lao động!
           Dân làng Cả nhìn nhau. Chả ai dám cầm bút ký vào bản hợp đồng lao động. Họ sợ nếu không đảm nhiệm được những công việc như ông đại diện nói sẽ bị phạt vì vi phạm hợp đồng lao động. Ông đại diện khu công nghiệp, khu chế xuất sau khi mời mãi chẳng ai chịu ký hợp đồng lao động liền ôn tồn bảo:
           - Đấy nhé! Chúng tôi đã làm đúng cam kết, tạo điều kiện sắp xếp công việc cho tất cả mọi người sau khi giao ruộng đất cho ban dự án. Việc mọi người không chịu ký hợp đồng lao động là lỗi tại bà con chứ không phải tại chúng tôi đâu nhé!.
           Nói xong ông ta thu tất cả các bản cam kết hợp đồng lao động nhét vào cặp và chào mọi người ra về. Cuộc họp cũng giải tán.
*
 Một buổi sáng cuối năm. Mụ Lường vừa mở cửa quán thì gặp ông trưởng thôn Hoàng Trung Nháo và một tốp trung niên, thanh niên đang dắt xe đạp thồ ra khỏi cổng làng. Mụ đon đả hỏi:
         - Trưởng thôn và mọi người đi đâu đấy ạ?
         - Thì... còn đi đâu được nữa! Mất mẹ nó hết ruộng rồi, vào làm ở trong khu công nghiệp, khu chế xuất thì không có trình độ, chẳng có tay nghề. Chúng tôi lên Hà Nội làm cửu vạn, làm thuê, nhặt phế liệu kiếm tiền đây!
         - Thế ạ?
         Mụ Lường cười tít mắt:
         - Hi... hi... hi... ơn trời, riêng nhà em thì lại may quá bác ạ. Cái "nghề" số đề của em không ngờ từ khi có khu công nghiệp, khu chế xuất lại ăn nên, làm ra hơn. Đám công nhân nhiều tiền thoải mái ghi số đề, tiền đặt cũng lớn, không đánh cò con như các bác làng ta đâu!
         Ông trưởng thôn giơ tay cảnh cáo mụ Lường:
         - Mụ liệu hồn đấy! Tôi mới nghe công an xóm báo cáo là quán của mụ vừa mới có thêm cái khoản cà phê vườn, bia ôm phải không?
         - Dạ! Thì em cũng chỉ... phục vụ tận tình nhu cầu của anh em công nhân trong khu công nghiệp thôi ạ!
         - Mụ cẩn thận đấy! Đừng có rước tệ nạn về làng là không xong với tôi đâu!
         Mụ Lường hơi lùi lại. Chờ ông trưởng thôn và đám người làm thuê đạp xe đi được một đoạn mụ mới dám nói với theo:
         - Các bác cứ lên Hà Nội làm thuê kiếm nhiều tiền về đây em xin phục vụ thật chu đáo! Cây nhà lá vườn vừa rẻ, vừa an toàn hơn các bác ạ!
                                                                 Hà Nội, đầu Đông 2009

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2011

Truyện thiếu nhi THI LẠI


            Thỏ và rùa chạy thi

Thi lại
Truyện thiếu nhi của Trọng Bảo

        Cuộc thi bơi của cá trong khu đầm lầy kết thúc bằng một vụ thảm sát (*). Mụ cá sấu được bữa chén no bụng các vận động viên. Lươn và chạch phải chui xuống tận bùn đen để trốn tránh sự tức giận của loài cá. Lão rùa già làm trưởng ban giám khảo cũng bị cả làng cá trong đầm nguyền rủa thậm tệ vì công tác tổ chức quá kém, lại tự ý đưa cả mụ cá sấu vào bộ phận giám sát để mụ ấy có cơ hội tiếp cận, chén thịt hết các vận động viên. Các loài thuỷ sản còn dè bửu lão rùa gian lận nên mới giành được chiến thắng trong cuộc thi chạy với thỏ năm xưa.
 Lão rùa già tức lắm. Lão quyết tâm bò lên bờ đi tìm loài thỏ để thách đấu thi lại. Đi mãi, đi mãi, lão rùa mới gặp được hai anh em nhà thỏ đang ngồi gặm cà-rốt ở góc ruộng. Vừa nhìn thấy lão, anh em nhà thỏ đã ngọt nhạt:
        - Chào bác rùa! Bác lại chiến thắng ở cuộc thi nào mà có vẻ vui thế?
        - Lâu nay tao có thi thố gì đâu mà chiến thắng!
        - Ồ... đúng vậy! Cuộc thi chạy với ông nội chúng cháu năm xưa bác quá thừa thãi sự vinh quang rồi còn gì!
        - Sau cuộc thi chạy với ông chúng mày năm ấy các loài đều chê bai tao gian lận, bố trí họ hàng nằm ém sẵn dọc đường đánh lừa loài thỏ nên mới chiến thắng. Bây giờ tao muốn thi lại để chứng minh loài rùa vẫn luôn luôn chiến thắng.
        Anh em nhà thỏ phá lên cười ngặt nghẽo:
        - Bác ơi! Bác già cả lú lẫn, lẩm cẩm quá mất rồi! Bây giờ cây cối rừng rú bị con người chặt phá hết sạch, đường xá trống trơn, họ hàng bác làm gì còn chỗ ẩn nấp trong các bụi rậm ven đường để lừa chúng cháu được nữa mà đòi thi lại? Hi... hi...
        - Thế chúng mày có dám thi chạy lại với tao không?
        - Thi thì thi... lần này bác thua là chắc chắn rồi!
        Hai anh em nhà thỏ vênh vang chủ quan. Lão rùa liền đưa bản thể lệ cuộc thi ra. Hai anh em nhà thỏ chẳng thèm xem kỹ đã ký đồng ý ngay. Chúng không chú ý ngón tay lão rùa che lấp mất một chữ trong văn bản.
        Giao kèo với anh em nhà thỏ xong, lão rùa bò ra bãi đất trống nằm im chờ đợi. Một mụ diều hâu đậu tít trên đỉnh núi cao trừng trừng ngó xuống quan sát. Tưởng là một con rùa chết, mụ ta liền sà xuống định rỉa thịt ăn. Lão rùa tóm ngay được chân mụ diều hâu. Mụ ta hốt hoảng cuống cuồng đập cánh bay lên nhưng không được. Lão rùa gìm giữ chặt chân mụ ta. Mụ cuống quýt van xin:
- Bác... bác tha cho em... em còn con nhỏ ở nhà...
        - Đừng sợ... đừng sợ... Ta không đớp gãy chân của chị đâu! Ta đang muốn nhờ chị một việc đây!
        - Việc gì ạ? 
- Ngày mai ta sẽ lại thi chạy với bọn thỏ nên nhờ chị đến giúp sức!
        - Em bay trên trời thì được, chạy trên mặt đất thì chậm chạp lắm, làm sao mà giúp bác được ạ?
        - Không cần chị thi hộ. Chỉ cần chị đậu ngay trên ngọn cây gần vạch xuất phát, khi có hiệu lệnh của ta thì lao xuống sát đầu hai thằng thỏ làm như sẽ chộp quắp bọn chúng bay đi hiểu không!
        - Thế em sẽ chén thịt bọn chúng luôn chứ ạ?
        - Không được làm bậy! Chỉ cần dọa cho hai thằng thỏ hoảng sợ là được!
        - Vâng... vâng... em nhớ rồi.
        Lão rùa thả cho mụ diều hâu bay đi.
        Hôm sau cuộc thi bắt đầu. Nhiều loài kéo đến xem rùa và thỏ thi chạy. Anh hổ ở tít tận trong rừng sâu cũng mò ra bìa rừng chứng kiến. Lão rùa và hai anh em nhà thỏ vào vạch xuất phát. Khi thằng trâu rừng được giao làm giám khảo mở bản điều lệ cuộc thi ra đọc anh em nhà thỏ mới ngớ người ra. Đây là một cuộc thi chạy... chậm. Thì ra hôm qua lúc đưa bản điều lệ ra cho anh em nhà thỏ xem lão rùa cố ý dùng ngón tay che kín chữ "chậm" nên anh em thỏ không biết.
- Cũng chả sao! - Anh em nhà thỏ bảo nhau: - Không phải cố chạy càng đỡ mỏi mệt...
Thế là hai anh em thỏ nằm lăn ra vạch xuất phát nghỉ ngơi và tranh thủ gặm cà-rốt. Lão rùa già cũng nằm im không nhúc nhích. Đây là cuộc thi chạy chậm nên ai rời khỏi vạch xuất phát trước tức là thua. Lão rùa khẽ quay đầu lại ngước mắt lên nhìn. Mụ diều hâu đã đậu sẵn trên cành cây. Lão ngoắc tay một cái, mụ ta liền rít lên, ngoác to cái mỏ, xòe bộ móng vuốt nhọn hoắt ra lao xuống. Hai anh em nhà thỏ hốt hoảng phóng vọt ngay lên phía trước. Muôn loài thấy thế reo ầm lên:
        - Thỏ thua rồi... thỏ thua rồi... th...u...a... r...ồ...i...
        Thế là dù thi chạy nhanh hay thi chạy chậm thì thỏ vẫn cứ bị thua rùa.
                                  Hà Nội, ngày 1/6/2010
______________________
(*) Xem truyện Đời lươn chạch.