Thứ Tư, 7 tháng 12, 2011

Truyện ngắn CHỨNG TỪ SỐNG


Chứng từ sống
Truyện ngắn của Trọng Bảo

          Cuối năm đã bận tối mắt, tối mũi tôi lại nhận được quá nhiều giấy mời họp. Mà giấy nào cũng quan trọng cả. Chưa kể cấp trên lại ủy quyền đi họp thay nhiều cuộc nữa.

                
Họp hành
     

          Một hôm, tôi được lệnh thay sếp đi dự một cuộc họp quan trọng. Lên cơ quan trung ương họp thì phải chỉnh tề. Tôi đánh một bộ com-lê là thẳng nếp, xách một cái cặp khóa số phóng xe máy đến bấm thang máy lên tầng 10 bước vào phòng họp. Nhận tài liệu, ngồi yên vị, tôi giật nảy mình nhìn lên tấm bảng ghi "Hội thảo về quy trình số hóa quản lý vi mô, điều hành vĩ mô". Tôi hoảng hồn ghé tai anh bạn thân cùng dân làm báo ngồi bên cạnh thì thào:
          - Bỏ mẹ! Mình là dân văn chương, báo chí biết gì về "số hóa" đâu mà tham gia hội thảo?
          Anh bạn thân tặc lưỡi khẽ bảo:
          - Chúng mình chỉ là "quân xanh", là những "chứng từ sống" cho các vị ở cái ban nghiên cứu đề tài "số hóa..." ấy họ quyết toán cuối năm cho hết kinh phí được đầu tư thôi! Ông cứ yên tâm chén hết đĩa hoa quả và bánh kẹo để trước mặt rồi ta tìm cách chuồn...
          - Chuồn thế quái nào được! Phòng họp có mấy người, lại xếp theo kiểu bàn tròn, họ làm một cái biển to tổ bố ghi tên cơ quan mình đặt ở trước mặt thế này bỏ họp giữa chừng thì ngại quá!
          - Ờ nhỉ! Mà họ còn để sẵn cả một tờ lịch năm mới kính biếu các đại biểu ở trên bàn. Tự dưng mình bỏ cuộc họp thì cũng ngại thật. Thôi cứ cố ngồi một lúc xem sao.
          Tôi cố nghe diễn giả trình bày xem có hiểu được chút gì không nhưng chịu. Anh bạn thân lại quay sang nói nhỏ:
          - Mỗi ông kiếm được vài triệu tiền tham luận đấy!
         Nghe anh nói vậy tôi phấn khởi thò tay vào túi quần nắn nắn cái phong bì "ăn trưa" dán kín mà ban tổ chức đưa cho lúc nãy rồi thì thào:

         - Thế thì cánh ta cũng kha khá ông ạ, phong bì thấy dày dặn lắm!
         Anh bạn bữu môi:
         - Ăn thua mẹ gì! Lúc nãy tôi tranh thủ chui vào toa-lét kiểm tra rồi. Được có 50 nghìn đồng kèm theo một cái thiếp "Chúc mừng năm mới" nên nó mới dày cộp thế.
         - Thôi chết! Thế này đúng là mình làm "chứng từ sống" cho họ thật rồi! Giải lao giữa giờ là ta lập tức chuồn ngay ông nhé?
         - Làm gì có giải lao! Cái kiểu hội thảo thế này họ làm luôn một mạch cho đến tận quá trưa. Ai muốn ra ngoài đi vệ sinh thì cứ đi, đói khát thì đã có đồ ăn, nước uống ở ngay trên bàn rồi...
         Nghe anh bạn nói vậy, tôi chán quá. Thôi thì đành tranh thủ ăn mấy quả táo và miếng bánh cái đã. Vừa ăn tôi vừa quan sát xung quanh và nghĩ cách chuồn ra ngoài. Anh bạn lại ghé tai tôi thì thào:
         - Ông có thấy cái tay ngồi đối diện đầu hói bóng lộn chỉ có mấy sợi tóc lơ thơ vắt ngang trên đầu kia không?
         - Có, nhưng sao?
        - Tôi để ý thấy lão này cứ chằm chằm nhìn tụi mình mãi. Chắc lão ta là cán bộ cấp cao, thấy tụi mình thiếu tập trung nghe thuyết trình nên có vẻ khó chịu lắm.
         Tôi bực:
         - Kệ xác lão ta! Mình làm sao mà chuồn ra được bây giờ?
         - Thì cũng chỉ tại ông cả đấy!
         - Sao lại tại tôi?
         - Thì tôi bảo đi họp chỉ cần đem theo một cuốn sổ nhỏ. Lựa lúc không ai để ý thì tống luôn cuốn sổ vào trong ngực áo rồi đứng dậy giả vờ ra ngoài đi vệ sinh hoặc nghe điện thoại rồi chuồn luôn. Đằng này ông lại cứ bảo phải diện com-lê, ca vát, xách cặp khóa số cho oai. Bây giờ mà tự dưng mình đứng dậy xách cặp bỏ ra ngoài thì còn ra cái thể thống gì nữa...
         - Nhưng mà đi họp ở nơi quan trọng thế này mà chỉ cầm mỗi cuốn sổ thì...
         - Đấy, ông cứ hay sĩ diện hão thế nên mới khổ... Thôi cố mà ngồi cho đến hết giờ vậy!
         Tôi đành im lặng chén nốt quả táo cuối cùng.
         Giữa lúc một vị trong hội đồng khoa học đang thao thao bất tuyệt giải thích các mô hình bằng phim đèn chiếu thì điện vụt tắt. Mất điện. Phòng họp tối om om. Anh bạn lập tức đứng bật dậy vơ luôn hai cái biển ghi tên cơ quan tôi và cơ quan anh nhét sâu vào trong gầm bàn rồi kéo tay tôi khẽ nói: "Thời cơ có một không hai đây rồi! Chuồn thôi!". Tôi cũng nhanh như chớp vớ vội cái cặp khóa số theo anh lách qua cánh cửa bên phóng ra ngoài hành lang rồi tụt cầu thang bộ từ tầng 10 xuống tầng âm để lấy xe máy.

          Đang mở khóa xe máy thì điện bật sáng. Tôi giật mình thấy người đang lúi húi bên cạnh trong hầm xe chính là cái ông đầu hói bóng lộn ngồi đối diện trong phòng hội thảo lúc nãy. Ông ta một tay xách cặp, nách kẹp tờ lịch, một tay cầm cái biển tên cơ quan. Nhận ra hai chúng tôi ông ta cười hề hề:
          - Vội quá, tớ cầm luôn theo cả cái biển tên để phi tang, khi có điện ban tổ chức không biết là đại biểu cơ quan mình bỏ dở cuộc hội thảo. Mà tớ cũng còn kịp vớ luôn cả tờ lịch kính biếu họ để sẵn trên bàn đây này... He... he... he... Các cậu tay không chạy ra hả?
          Ba chúng tôi cùng phá lên cười. Hóa ra tất cả chúng tôi toàn là những người đi họp thay, "hình nhân thế mạng" cho thủ trưởng cơ quan và cũng đều là những "chứng từ sống" cả.
                                                         Hà Nội, cuối năm 2010              

   

Truyện ngắn LÀNG CẢ LÊN ĐỜI


Làng Cả lên đời
Truyện ngắn của Trọng Bảo


         Làng Cả đột nhiên vui như hội. Dân làng nô nức. Nhìn ai cũng thấy nụ cười thường trực trên môi. Họ vừa được biết là sẽ có một dự án công nghiệp rất lớn sẽ mở ra ở đây. Cánh đồng làng Cả rộng thẳng cánh cò bay hai vụ lúa chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành một khu công nghiệp, khu chế xuất lớn nhất tỉnh. Ông Nháo trưởng thôn hể hả thông báo tại buổi họp toàn thôn:
         - Theo như các nhà đầu tư đã cam kết thì tất cả những người còn độ tuổi lao động của làng Cả sẽ đều được bố trí công ăn, việc làm trong khu công nghiệp, khu chế xuất.
          Bà Chòe tai nghễnh ngãng, nghe tiếng được, tiếng mất. Bà lo lắng hỏi:
          - Dư... mà như tôi một chữ bẻ đôi chả biết, lại hơn bảy chục tuổi rồi vẫn phải lao động, sống nhờ vào hơn sào lúa, mất ruộng thì làm được việc gì trong cái "khu cay nghiệt, khu chết tất" ấy?

     
Khu công nghiệp
 

         Mọi người cười ồ lên. Ông trưởng thôn vội chữa lại:
         - Khu công nghiệp, khu chế xuất! Không phải là "khu cay nghiệt, khu chết tất" bà ơi... - Ông khoát tay: - Bà sẽ được biên chế vào bộ phận vệ sinh môi trường chuyên cắt cỏ, chăm sóc vườn hoa, cây cảnh.
          Bà Chòe có vẻ yên tâm ngồi xuống. Đến lượt lão Cốc đứng dậy thắc mắc:
          - Tôi cả đời chỉ biết mỗi nghề... đánh dậm! Bây giờ mất ruộng, không còn chỗ kiếm con tôm, con cua, vào khu công nghiệp thì biết làm việc gì để sống?
          Ông trưởng thôn lúng túng:
          - Đánh dậm thì... giống ngành công nghiệp gì nhỉ... À... à, phải rồi, nghề đánh dậm rất giống công việc đãi quặng. Vào khu công nghiệp ông sẽ ở bộ phận chuyên đãi quặng, luyện kim... 
          Mụ Lường mở quán nước ở gốc đa đầu làng. Mụ chuyên ghi số đề và bán thơ đề cho cả làng và các làng bên cạnh đứng dậy xin phát biểu ý kiến. Mụ gãi đầu, gãi tai ấp úng:
          - Nghề của em thì bác đã biết rồi! Tới đây vào khu công nghiệp thì em biết làm gì ạ?
          - Thì... thì... đúng rồi, mụ sẽ vào bộ phận makétting, chuyên dự báo tình hình sản xuất, dự báo giá cả, thị trường. Nhiều lần thơ số đề của mụ dự đoán số đầu, số đít cũng đúng đáo để còn gì!
          Mọi người lại cười ồ lên. Nhiều cánh tay nhao nhao giơ cao xin phát biểu, nêu ý kiến thắc mắc. Ý kiến, thắc mắc nào của bà con cũng đều được ông trưởng thôn giải đáp thỏa đáng cả. Ai làm nghề gì ông cũng nghĩ ra một việc tương tự trong khu công nghiệp, khu chế xuất. Mọi người đều thấy thỏa mãn, hể hả. Cũng chính nhờ vậy mà khi có quyết định thu hồi ruộng, cả làng đều vui vẻ nhận tiền đền bù, giao đất cho ban dự án đúng thời gian quy định. Cũng nhờ số tiền đền bù đất rất cao mà cả làng tự dưng giàu sụ lên. Nhà nhà mua sắm xe máy đắt tiền, xây nhà cao tầng nguy nga hoành tráng. Làng Cả bây giờ giống như một góc phố Hà Nội. Mà Hà Nội có chỗ cũng chả bằng. Vì làng Cả đất thổ cư rộng, nhiều nhà xây như những biệt thự giữa vườn cây xanh trông rất đẹp. Làng Cả lên đời thật rồi!
          Trong khi đó thì việc san lấp cánh đồng, xây lắp các tổ hợp công nghệ trong khu công nghiệp, khu chế xuất cũng được các chủ dự án tiến hành rất nhanh. Cánh đồng rộng mênh mông ngày nào bây giờ đã lô nhô những nhà máy mới mọc lên. Người làng Cả ngàn đời chân đất, mắt toét đột nhiên cũng thấy mình sang trọng hẳn lên. Họ luôn tự hào về khu công nghiệp quê mình...
          Đúng như đã cam kết, đại diện chủ dự án tổ chức điều tra lao động trong làng để bố trí cho họ vào làm việc tại khu công nghiệp, khu chế xuất. Ai cũng háo hức mong chờ. Bởi chỉ nay mai thôi họ sẽ cởi bỏ bộ áo nâu quê mùa để mặc bộ quần áo xanh, áo trắng của người công nhân của thế kỷ 21.
*
          Buổi họp giữa đại diện khu công nghiệp, khu chế xuất với bà con làng Cả được tổ chức không lâu sau cuộc họp do ông trưởng thôn chủ trì bàn việc giao đất hôm nào. Ông đại diện dự án cầm một bản danh sách dài dằng dặc bắt đầu đọc tên những người được nhận vào làm việc tại khu công nghiệp, khu chế xuất. Ông ta xướng to:
          - Các ông bà Mai Thị Chòe, Trần Công Cốc, Lâm Quang Củ, Đào Văn Sắn, Nguyễn Thị Khoai, Vũ Trọng Ngô, Lê Thị Mía... tuổi đã trên bảy mươi sẽ vào làm việc tại khu vực sản xuất số 1, lương 1000 đô-la một tháng. Sau một năm sẽ tăng lên 1500 đô-la một tháng...
           Mọi người ào lên nhốn nháo hỏi nhau:
           - 1000 đô quy đổi ra tiền Việt bằng bao nhiêu nhỉ?
           - Theo tỷ giá bây giờ là gần 18 triệu đồng...
           - Ôi trời ơi...
           Có nhiều tiếng rú lên mừng rỡ. Ông đại diện dự án đọc tiếp:
          - Các ông bà Hoàng Trung Nháo, Hoàng Trung Nhác, Chu Văn Núi, Nguyễn Bờ Sông, Phạm Thị Ao, Hà Quang Ruộng, Đồng Tiến Chuôm... tuổi dưới bảy mươi sẽ làm việc ở khu vực sản xuất số 2, lương khởi điểm là... 1500 đô-la một tháng. Sau một năm sẽ nâng lên 2000 đô-la.
          - Ôi... ôi... - Trưởng thôn Hoàng Trung Nháo giơ cả hai tay lên trời sau khi đã lẩm nhẩm quy đổi 1500 đô-la ra tiền Việt. Cuộc họp ồn ào như chợ vỡ. Ai cũng vui mừng vì sẽ có tiền lương cao ngất sau khi vào làm trong khu công nghiệp, khu chế xuất. Bà Chòe thấy lo lắng quá. Nhà cửa còn tuềnh toàng, khi lĩnh lương hơn chục triệu đồng về bà biết cất vào đâu cho an toàn bây giờ. Bà đứng dậy rụt rè nói:
          - Báo cáo ông đại tiện khu công... công...
          Một người vội giật giật tay bà khẽ nhắc: "Đấy là "ông đại diện" chứ không phải là "ông đại tiện"! Mà ông ấy ở khu công nghiệp chứ không phải ở "khu công công" của thái giám đâu bà ơi!".
          Ông đại diện đề nghị mọi người yên lặng và mời bà Chòe phát biểu ý kiến. Bà Chòe thấy tự tin, mạnh dạn hơn. Bà hỏi:
          - Tôi xin được hỏi ở khu sản xuất số 1, chúng tôi sẽ làm công việc gì ạ?
          - À! Cụ thể thế này! - Ông đại diện khu công nghiệp giải thích: - Ở khu vực sản xuất số 1, công việc của các bác là điều hành hệ thống máy vi tính lập trình các phần mềm, hoặc sử dụng máy móc công nghệ cao sản xuất các loại vi mạch và con chíp điện tử...
           Bà Chòe giẫy nảy lên hốt hoảng:
           - Chết... chết! Sao mà chúng tôi làm được các công việc ấy?
           - Không sao! Chúng tôi sẽ tổ chức các lớp học cấp tốc để đào tạo tay nghề và ngoại ngữ cho các vị đáp ứng yêu cầu cao ở các khu vực sản xuất trong khu chế xuất...
           Mấy người nữa nhao nhao lên hỏi:
           - Thế còn ở khu vực sản xuất số 2?
           - Khu vực này đòi hỏi trình độ cao hơn... - Ông đại diện ngừng lời đưa mắt nhìn mọi người một lượt rồi nói tiếp: - Đây là khu vực chuyên vận hành các lò phản ứng hạt nhân nguyên tử, các máy phóng xạ, máy gia tốc cao...
           Mọi người sững sờ trố mắt, há hốc miệng kinh hãi. Ông đại diện vẫn tỉnh như không nói tiếp:
           - Bây giờ đề nghị mọi người ký vào bản hợp đồng lao động!
           Dân làng Cả nhìn nhau. Chả ai dám cầm bút ký vào bản hợp đồng lao động. Họ sợ nếu không đảm nhiệm được những công việc như ông đại diện nói sẽ bị phạt vì vi phạm hợp đồng lao động. Ông đại diện khu công nghiệp, khu chế xuất sau khi mời mãi chẳng ai chịu ký hợp đồng lao động liền ôn tồn bảo:
           - Đấy nhé! Chúng tôi đã làm đúng cam kết, tạo điều kiện sắp xếp công việc cho tất cả mọi người sau khi giao ruộng đất cho ban dự án. Việc mọi người không chịu ký hợp đồng lao động là lỗi tại bà con chứ không phải tại chúng tôi đâu nhé!.
           Nói xong ông ta thu tất cả các bản cam kết hợp đồng lao động nhét vào cặp và chào mọi người ra về. Cuộc họp cũng giải tán.
*
 Một buổi sáng cuối năm. Mụ Lường vừa mở cửa quán thì gặp ông trưởng thôn Hoàng Trung Nháo và một tốp trung niên, thanh niên đang dắt xe đạp thồ ra khỏi cổng làng. Mụ đon đả hỏi:
         - Trưởng thôn và mọi người đi đâu đấy ạ?
         - Thì... còn đi đâu được nữa! Mất mẹ nó hết ruộng rồi, vào làm ở trong khu công nghiệp, khu chế xuất thì không có trình độ, chẳng có tay nghề. Chúng tôi lên Hà Nội làm cửu vạn, làm thuê, nhặt phế liệu kiếm tiền đây!
         - Thế ạ?
         Mụ Lường cười tít mắt:
         - Hi... hi... hi... ơn trời, riêng nhà em thì lại may quá bác ạ. Cái "nghề" số đề của em không ngờ từ khi có khu công nghiệp, khu chế xuất lại ăn nên, làm ra hơn. Đám công nhân nhiều tiền thoải mái ghi số đề, tiền đặt cũng lớn, không đánh cò con như các bác làng ta đâu!
         Ông trưởng thôn giơ tay cảnh cáo mụ Lường:
         - Mụ liệu hồn đấy! Tôi mới nghe công an xóm báo cáo là quán của mụ vừa mới có thêm cái khoản cà phê vườn, bia ôm phải không?
         - Dạ! Thì em cũng chỉ... phục vụ tận tình nhu cầu của anh em công nhân trong khu công nghiệp thôi ạ!
         - Mụ cẩn thận đấy! Đừng có rước tệ nạn về làng là không xong với tôi đâu!
         Mụ Lường hơi lùi lại. Chờ ông trưởng thôn và đám người làm thuê đạp xe đi được một đoạn mụ mới dám nói với theo:
         - Các bác cứ lên Hà Nội làm thuê kiếm nhiều tiền về đây em xin phục vụ thật chu đáo! Cây nhà lá vườn vừa rẻ, vừa an toàn hơn các bác ạ!
                                                                 Hà Nội, đầu Đông 2009

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2011

Truyện thiếu nhi THI LẠI


            Thỏ và rùa chạy thi

Thi lại
Truyện thiếu nhi của Trọng Bảo

        Cuộc thi bơi của cá trong khu đầm lầy kết thúc bằng một vụ thảm sát (*). Mụ cá sấu được bữa chén no bụng các vận động viên. Lươn và chạch phải chui xuống tận bùn đen để trốn tránh sự tức giận của loài cá. Lão rùa già làm trưởng ban giám khảo cũng bị cả làng cá trong đầm nguyền rủa thậm tệ vì công tác tổ chức quá kém, lại tự ý đưa cả mụ cá sấu vào bộ phận giám sát để mụ ấy có cơ hội tiếp cận, chén thịt hết các vận động viên. Các loài thuỷ sản còn dè bửu lão rùa gian lận nên mới giành được chiến thắng trong cuộc thi chạy với thỏ năm xưa.
 Lão rùa già tức lắm. Lão quyết tâm bò lên bờ đi tìm loài thỏ để thách đấu thi lại. Đi mãi, đi mãi, lão rùa mới gặp được hai anh em nhà thỏ đang ngồi gặm cà-rốt ở góc ruộng. Vừa nhìn thấy lão, anh em nhà thỏ đã ngọt nhạt:
        - Chào bác rùa! Bác lại chiến thắng ở cuộc thi nào mà có vẻ vui thế?
        - Lâu nay tao có thi thố gì đâu mà chiến thắng!
        - Ồ... đúng vậy! Cuộc thi chạy với ông nội chúng cháu năm xưa bác quá thừa thãi sự vinh quang rồi còn gì!
        - Sau cuộc thi chạy với ông chúng mày năm ấy các loài đều chê bai tao gian lận, bố trí họ hàng nằm ém sẵn dọc đường đánh lừa loài thỏ nên mới chiến thắng. Bây giờ tao muốn thi lại để chứng minh loài rùa vẫn luôn luôn chiến thắng.
        Anh em nhà thỏ phá lên cười ngặt nghẽo:
        - Bác ơi! Bác già cả lú lẫn, lẩm cẩm quá mất rồi! Bây giờ cây cối rừng rú bị con người chặt phá hết sạch, đường xá trống trơn, họ hàng bác làm gì còn chỗ ẩn nấp trong các bụi rậm ven đường để lừa chúng cháu được nữa mà đòi thi lại? Hi... hi...
        - Thế chúng mày có dám thi chạy lại với tao không?
        - Thi thì thi... lần này bác thua là chắc chắn rồi!
        Hai anh em nhà thỏ vênh vang chủ quan. Lão rùa liền đưa bản thể lệ cuộc thi ra. Hai anh em nhà thỏ chẳng thèm xem kỹ đã ký đồng ý ngay. Chúng không chú ý ngón tay lão rùa che lấp mất một chữ trong văn bản.
        Giao kèo với anh em nhà thỏ xong, lão rùa bò ra bãi đất trống nằm im chờ đợi. Một mụ diều hâu đậu tít trên đỉnh núi cao trừng trừng ngó xuống quan sát. Tưởng là một con rùa chết, mụ ta liền sà xuống định rỉa thịt ăn. Lão rùa tóm ngay được chân mụ diều hâu. Mụ ta hốt hoảng cuống cuồng đập cánh bay lên nhưng không được. Lão rùa gìm giữ chặt chân mụ ta. Mụ cuống quýt van xin:
- Bác... bác tha cho em... em còn con nhỏ ở nhà...
        - Đừng sợ... đừng sợ... Ta không đớp gãy chân của chị đâu! Ta đang muốn nhờ chị một việc đây!
        - Việc gì ạ? 
- Ngày mai ta sẽ lại thi chạy với bọn thỏ nên nhờ chị đến giúp sức!
        - Em bay trên trời thì được, chạy trên mặt đất thì chậm chạp lắm, làm sao mà giúp bác được ạ?
        - Không cần chị thi hộ. Chỉ cần chị đậu ngay trên ngọn cây gần vạch xuất phát, khi có hiệu lệnh của ta thì lao xuống sát đầu hai thằng thỏ làm như sẽ chộp quắp bọn chúng bay đi hiểu không!
        - Thế em sẽ chén thịt bọn chúng luôn chứ ạ?
        - Không được làm bậy! Chỉ cần dọa cho hai thằng thỏ hoảng sợ là được!
        - Vâng... vâng... em nhớ rồi.
        Lão rùa thả cho mụ diều hâu bay đi.
        Hôm sau cuộc thi bắt đầu. Nhiều loài kéo đến xem rùa và thỏ thi chạy. Anh hổ ở tít tận trong rừng sâu cũng mò ra bìa rừng chứng kiến. Lão rùa và hai anh em nhà thỏ vào vạch xuất phát. Khi thằng trâu rừng được giao làm giám khảo mở bản điều lệ cuộc thi ra đọc anh em nhà thỏ mới ngớ người ra. Đây là một cuộc thi chạy... chậm. Thì ra hôm qua lúc đưa bản điều lệ ra cho anh em nhà thỏ xem lão rùa cố ý dùng ngón tay che kín chữ "chậm" nên anh em thỏ không biết.
- Cũng chả sao! - Anh em nhà thỏ bảo nhau: - Không phải cố chạy càng đỡ mỏi mệt...
Thế là hai anh em thỏ nằm lăn ra vạch xuất phát nghỉ ngơi và tranh thủ gặm cà-rốt. Lão rùa già cũng nằm im không nhúc nhích. Đây là cuộc thi chạy chậm nên ai rời khỏi vạch xuất phát trước tức là thua. Lão rùa khẽ quay đầu lại ngước mắt lên nhìn. Mụ diều hâu đã đậu sẵn trên cành cây. Lão ngoắc tay một cái, mụ ta liền rít lên, ngoác to cái mỏ, xòe bộ móng vuốt nhọn hoắt ra lao xuống. Hai anh em nhà thỏ hốt hoảng phóng vọt ngay lên phía trước. Muôn loài thấy thế reo ầm lên:
        - Thỏ thua rồi... thỏ thua rồi... th...u...a... r...ồ...i...
        Thế là dù thi chạy nhanh hay thi chạy chậm thì thỏ vẫn cứ bị thua rùa.
                                  Hà Nội, ngày 1/6/2010
______________________
(*) Xem truyện Đời lươn chạch.

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2011

Truyện thiếu nhi ĐỜI LƯƠN CHẠCH


                Mụ cá sấu 

Đời lươn chạch
Truyện thiếu nhi của Trọng Bảo

          Tại khu đầm lầy ngập nước có rất nhiều loại cá hoang. Nổi tiếng ngang tàng hay quậy phá là hai anh em nhà lươn chạch. Bọn chúng cậy có thân hình dài và nhẵn như một mũi tên nên bơi nhanh vun vút. Trong đầm có việc gì xảy ra bao giờ chúng cũng có mặt trước tiên. Phát hiện ra nơi nào có thức ăn là chúng liền lao ngay đến xí phần trước. Do nhiều lần đoạt giải nhất các cuộc thi bơi nên chúng lên mặt coi thường các loại cá khác. Lúc nào chúng cũng khoe khoang tự phụ, cho mình là thông minh, tài giỏi nhất.
          Một hôm trong khu đầm lầy xuất hiện một mụ cá sấu. Mụ này bị con người săn lùng lấy da làm ví đựng tiền đâm trượt nên chột mất một mắt. Mụ ta phải đeo một mảnh lá sen che bên mắt chột nên trông như một tên cướp biển. Mọi loài cá trong đầm lầy đều cảnh giác vì mụ cá sấu rất thâm hiểm, gian giảo. Mụ ta đi đến đâu các loài đều lảng tránh, đề phòng. Một bữa mụ đang lừ lừ bơi giữa đầm thì gặp anh em nhà lươn chạch. Mụ ta khích:
          - Chúng mày cứ khoe là bơi nhanh nhưng tao thấy bọn cá trôi, cá chép, cá chuối còn bơi nhanh hơn rất nhiều!
          Hai anh em lươn chạch sửng cồ:
          - Chúng cháu bơi nhanh nhất... nhanh nhất...
          - Chưa chắc! Tao không tin!
          - Bà không tin thì xem chúng cháu bơi nhé!
          - Tao sẽ tin nếu chúng mày dám thi bơi với các bọn cá khác đủ tám vòng quanh hồ.
          - Thi thì thi... chúng cháu sợ gì? Chúng cháu sẽ chấp các loài cá khác một vòng đầm.
          Lươn và chạch nói và đi tìm các loại cá khác để thách đấu thi bơi. Chúng lên giọng chê bai, dè bửu khiến nhiều loài cá thấy rất tự ái vì bị xúc phạm. Họ đều ghét lươn và chạch nên gọi nhau đi thi rất đông quyết làm cho hai thằng này một phen bẽ mặt. Lão rùa có kinh nghiệm sau lần thi chạy với thỏ nên hăng hái nhận làm trọng tài.
          Bọn cá sẽ thi bơi việt dã tám vòng quanh đầm lầy. Toàn những con cá béo khoẻ dự thi. Lão rùa phất cờ lệnh. Bọn cá ào ào lao vào đường bơi trong khi lươn chạch thì đủng đỉnh. Bởi với thân hình nhọn như mũi tên chúng chỉ cần co người bắn một phát là vượt tất cả bọn cá khác. Khi bọn cá đã bơi được một vòng lươn chạch mới bắt đầu xuất phát. Sau ba vòng đầm lầy lươn và chạch đã bơi kịp bọn kia rồi vượt lên dẫn đầu. Đến vòng thứ bảy thì bọn cá đã thấm mệt. Nhiều con bơi lờ đờ miệng thở ra toàn bong bóng. Ở khu vực đích rất nhiều bố mẹ bọn cá đang háo hức chờ để đón đoàn thi bơi về đích. Không ai để ý mụ cá sấu lặng lẽ lùi lại phía sau và bơi lảng đi. Mụ ta vòng sang bên kia bờ đầm đón đoàn cá thi bơi về vòng cuối cùng. Mụ nấp sau một bụi cỏ rậm. Mỗi khi có con cá nào bơi qua chỉ cần ngoác mồm ra đớp một cái mụ đã nuốt gọn vào bụng. Gần như cả đoàn cá thi bơi đến vòng cuối cùng đều lọt vào cái miệng há ngoác to của mụ cá sấu chột mắt.
          Chờ mãi không thấy con cá nào bơi cán đích ngoài hai thằng lươn chạch đoạt giải nhất và giải nhì bố mẹ bọn cá tham dự thi mới đổ đi tìm. Lũ cá hốt hoảng khi gặp những cái vây, cái vảy cá trôi rải rác dọc đường bơi. Nhưng tiếng gọi con thảng thốt sủi bong bóng lên khắp đầm lầy. Mụ cá sấu chột mắt bụng no tròn đang nằm phơi nắng trên bờ cười sằng sặc bảo:
          - Đừng gọi nữa, lũ nó đã nằm trong bụng tao cả rồi. Hãy nhớ lấy hôm nay chính là ngày giỗ của bọn chúng... hi... hi... hi...
          Mụ cá sấu nói thêm:
          - Cám ơn hai thằng lươn chạch đã tổ chức cuộc thi này giúp tao có một bữa ngon. Tao công nhận là chúng mày bơi nhanh nhất... he... he... he...
          Đám cá bố mẹ kêu khóc rồi quay lại đuổi đánh lươn và chạch. Lươn chạch lao về nhà gọi bố mẹ chạy trốn. Nhưng biết chạy đi đâu. Cả nhà lươn chạch vội chui sâu xuống bùn để trốn tránh. Sau vụ thảm sát kinh hoàng ở đầm lầy ấy, bọn cá quyết định khai trừ lươn chạch ra khỏi cộng đồng.
  Kể từ đó loài lươn chạch phải sống chui rúc dưới bùn. Thi thoảng khi các loài cá khác không để ý chúng mới dám nhoáng nhoàng ngoi lên đớp vội một chút không khí rồi lại chui ngay xuống lớp bùn bẩn thỉu ẩn náu. Sống chui lủi mãi dưới bùn đen thiếu ánh sáng nên đôi mắt của lươn và chạch trở nên ti hí lờ đờ. Chuyện đời lươn chạch là như vậy. Và đến nay thì chúng không thể bơi nhanh được nữa.

                                                                                       Ngày 12/5/2010

 

Truyện ngắn Người đầu gỗ

Người đầu gỗ
 Truyện ngắn của Trọng Bảo
 
           Trẻ con hát:
                Người là người
                Là xương là thịt
                Là mắt là môi
                Người là hổ
                Sao đầu người bằng gỗ
                Tiếng gầm thét rung trời
                Máu chảy tơi bời
                Lửa rừng rực lửa...
Người lớn than:
                Thủ lĩnh Bách Bung
                Lực kiệt, thế cùng
                Núi Sáng thành tăm tối
                Trận cuối cùng dữ dội
                Xác giặc đầy khe
                Khói phủ mây che
                Lòng người vẫn tỏ
                Chết dù mang đầu gỗ
                Giặc vẫn mãi kinh hoàng.
          Nghe tiếng hát, tiếng than của nhân thế các bậc cao niên bàng hoàng. Họ hướng về phía Bắc vái lạy. Họ hiểu thế là hết. Vị thủ lĩnh áo nâu, con hùm xám Yên Thế đã không còn. Hơn ba năm rồi họ chờ đợi một sự trỗi dậy của nghĩa quân với khí thế chẻ tre thuở nào. Nhưng đường trời hình như đã tận.
Còn nhớ chuyện từ hơn ba năm trước. Vào một buổi chiều, trời bỗng kéo mây đen, một tiếng sét nổ vang giữa rừng. Tiếng cây đổ ầm ầm trên núi Sáng. Mưa. Gió lốc mịt mù. Cơn mưa sầm sập đổ xuống trắng cả non ngàn. Mưa như gào, như thét. Mưa như đảo đất hất lên trời như ghìm mây trên trời xuống đất.
Dân làng Đồng Quế rụng rời chân tay khi nghe từ hướng núi tiếng súng cứ thưa dần. Nghĩa quân đang đánh trận huyết chiến cuối cùng. Trận đánh sinh tử giữa những người nông dân áo vải với bọn thực dân và lũ tay sai. Cụ Cả Nhân từ rừng về gọi con cháu đến giọng run rẩy bảo:
- Mang hết số ván canh ra bào nhẵn đi...
- Làm gì hả bố?
Anh con cả ngạc nhiên hỏi. Cụ vừa mở kho ván gỗ vừa chùi mắt:
- Đóng quan tài...
Tiếng cụ nghẹn ngào. Đám con cháu mặt mũi tái nhợt đi vì sợ. Cụ lại bảo:
- Gọi vài kíp thợ đóng mới kịp, nhanh lên đi...
Nghe cụ giục, anh con cả cố trấn tĩnh hỏi lại:
- Bố còn khoẻ thế mà sao sao đã vội...
- Không phải đóng quan tài cho tao... - Cụ gắt: - Tao còn lâu mới chết... mà là đóng quan tài để lên rừng nhặt xác anh em nghĩa quân...
Nói đến đây cụ không nén nổi nữa mà bật thành tiếng khóc. Tiếng khóc não nùng. Nước mắt cụ ròng ròng trong nước mưa:
- Các con ơi! Anh em nghĩa quân chết hết cả rồi!
Con cháu của cụ Cả và dân làng giờ mới tin là đã hết. Họ khóc. Tiếng khóc lan từ làng này sang làng khác. Nỗi đau nối dài từ tổng này sang tổng nọ. Niềm hy vọng vụt tắt trên những khuôn mặt dân quê hiền lành, lam lũ.
Mưa vẫn mưa. Tiếng súng trên núi cứ thưa thớt dần rồi tắt hẳn. Tiếng đục đẽo dưới các làng dày thêm. Nghĩa quân Yên Thế đã bị đánh tan. Trận chiến cuối cùng bi hùng tại núi Sáng những người nghĩa binh lần lượt ngã xuống. Khu đại bản doanh Bách Bung trên núi tan hoang. Nhưng vị thủ lĩnh không chết. Những cận vệ võ nghệ song toàn đã đưa được thủ lĩnh của mình vượt thoát khỏi vòng vây, khỏi cái chết trong gang tấc. Toán tinh binh của nghĩa quân quần áo tả tơi đỏ máu và bùn đất mở một con đường huyết hướng lên phía bắc bỏ lại phía sau chiến địa khói lửa ngút trời cùng bao đồng chí từng nếm mật nằm gai thân xác rải đầy chiến luỹ. Họ mong sẽ có ngày trở về báo thù trả hận cho anh em.
Xác của những nghĩa quân đã được dân các làng xung quanh núi Sáng tìm kiếm mai táng.
Bọn lê dương, khố xanh, khố đỏ ngó nhìn, kiểm tra từng cái xác. Nhưng chúng không thấy điều chúng mong muốn.
*
          Hắn tên là Kỳ, họ Lương, một tay chuyên buôn bán thuốc phiện. Con đường thuốc phiện của hắn là tuyến Bắc Giang - Quảng Đông, Trung Quốc. Hắn phải tập hợp một đoàn quân đảm bảo cho công việc khó khăn và nguy hiểm này. Đoàn tuỳ tùng, vệ sĩ của hắn vừa là người vừa là ma. Bọn chúng xây dựng và đảm bảo con đường thuốc phiện an toàn, hoạt động thông suốt. Người ta gọi hắn và đồng bọn là lũ "song tử". Chữ tử ở đây mang nghĩa xấu đó là cái chết. Cái chết bằng đao kiếm và cái chết bằng thuốc phiện. Bọn chúng đi đến đâu đem theo cái chết tới những hai lần.
          Hắn là một đứa con lạc loài. Chả ai biết hắn sinh ra từ đâu, chỉ biết hắn từ đâu đến và mang theo cái gì. Con đường thuốc phiện của hắn xuyên rừng, vượt qua vách núi cao theo lối đi của loài sói. Tuy vậy do làm nghề bất hợp pháp nên hắn hiểu muốn tồn tại phải biết làm người hai mặt. Hắn kết thân với nghĩa quân Đề Thám, ủng hộ tiền bạc, lương thực, thuốc phiện để có lối đi giữa rừng. Hắn bí mật đầu hàng câu kết làm tay sai cho bọn thực dân làm kế bảo toàn và thị trường cho việc buôn bán hàng quốc cấm.
          Một bữa hắn vừa từ Chợ Chu về tới Bắc Giang thì có xe của phủ toàn quyền lên đón. Chiếc xe hòm kín mít chạy qua cầu Long Biên đưa hắn vào nội thành Hà Nội. Toàn quyền Đu-me tiếp hắn trong trong một căn phòng nhỏ kín đáo trong dinh.
          Đu-me hỏi thăm về gia cảnh của hắn cố tạo không khí cho có vẻ thân mật. Thực ra tên thực dân cáo già này đâu có quan tâm gì đến lũ tay sai bản xứ ngoài sự lợi dụng. Mọi sự xã giao cuối cùng cũng quay về chủ đề chính. Đu-me thăm dò:
- Ông Hoàng đã bị giết ở khu rừng cách chợ Gồ hai cây số. Một tên đem nộp thủ cấp lấy hai vạn đồng tiền thưởng rồi.
Lương Kỳ không biểu lộ thái độ gì trước tin ấy. Đu-me đành ngửa bài:
- Nhưng lại có tin đấy là đầu ông sư chùa Leo ở gần đó. Vị sư này có khuôn mặt rất giống Hoàng Hoa Thám, chưa phân biệt được. Vậy theo ông thì thế nào?
          Lúc này Lương Kỳ mới tỏ thái độ. Hắn biết rằng mình sẽ có vai trò quan trọng trong việc này nên đắc chí cười:
          - Thưa quan lớn! Ngộ biết đó không phải là đầu của Hoàng Hoa Thám. Nếu đúng thì ngộ đã đến vuốt mắt cho ông ta. Đằng nào chả là bạn hữu...
          Đu-me dấn thêm:
          - Tôi biết là hai vị đã có một thời bằng hữu mật thiết với nhau. Nhưng ngài thì sớm quay đầu, tỉnh ngộ, còn ông Hoàng thì cứ kiêu dũng mãi. Kể từ khi ông ta trốn khỏi núi Sáng tới nay là ba năm rưỡi, chúng tôi đã nhiều lần kêu gọi chiêu hồi. Chúng tôi bắt được bà vợ ông ta là Ba Cẩn và con gái út sáu tuổi Nước Hai, Cao Bằng. Nhưng trên đường đưa sang Pháp bà ấy đã nhảy xuống biển tự tử. Cô con gái út ông ấy được đưa về Pa-ri nuôi nấng cho học hành tử tế thế mà ông ấy vẫn không hề thay đổi ý chí. Chúng tôi phải tiêu diệt ông ta thôi.
Lương Kỳ nói:
- Thưa quan toàn quyền, ngộ biết Hoàng Hoa Thám còn sống. Ông ấy vẫn nhờ vào nguồn tiếp tế tiền bạc, thuốc phiện của ngộ mà.
- Ngài có thể giúp người Pháp chấm dứt mối lo ngại lâu dài được không?
- Ồ không... không! - Lương Kỳ làm bộ chối đây đẩy: -  Ngộ và ông ấy là bạn hữu hảo mà...
          Đu-me đã nhìn thấu tâm địa của tên con buôn tham lam này. Vì lợi lộc thì mả cha nó cũng dám đào chứ bạn bè kết nghĩa đã là gì. Cái chính là mở cho nó một lối để giữ cái danh dự hão là được.
          - Tôi biết người Á đông các ngài vốn coi trọng tín nghĩa, danh dự. Nhưng chữ tín cũng có nhiều cách viết phải không thưa ngài?
          Lương Kỳ thấy yên lòng hơn. Một chút nhân tâm sắp tàn lụi hết được xoa dịu. Đu-me gợi ý hắn mượn tay người khác giúp việc sát hại Đề Thám để tránh cho mình cái điều còn phân vân, do dự. Tuy nhiên trong lòng Lương Kỳ vẫn thấy hơi hổ thẹn khi nhận hai vạn đồng tiền thưởng để giết Hoàng Hoa Thám. Hắn nói lí nhí trong mồm câu gì đó làm cho tên thông ngôn phải ghé sát tai mà không nghe thấy gì để dịch.
          Toàn quyền Đu-me cười nhạt, hắn biết Lương Kỳ còn định vòi vĩnh thêm. Y nói thêm:
          - Tôi đặt niềm tin cậy vào ngài. Vì vậy xin giao trước cho ngài một vạn đồng. Các việc khác sau này khi mọi sự đã thành ngài cứ yên tâm...
          Lương Kỳ trở về bàn việc với một người tin cẩn là Ma Văn Sang. Sang là con nuôi của Kỳ. Sang đang làm bang tá đồn lính dõng châu Sơn Dương. Sang có sức khoẻ và võ nghệ rất cao, tay không dám vật nhau quật chết được cả gấu. Lương Kỳ yêu quý nhận Sang làm con nuôi để bảo vệ cho con đường thuộc phiện của mình. Kỳ đầu hàng Pháp được cho làm chủ vùng chợ Chu, Bắc Cạn, vừa cai trị, bóc lột dân bản địa vừa độc quyền chuyện buôn bán thuốc phiện. Hắn giầu có, sống sa hoa nhất vùng. Tuy vậy, Kỳ vẫn giữ quan hệ với Đề Thám, cung cấp hậu cần cho nghĩa quân ở núi Sáng. Sang là người đảm nhận đường dây liên lạc giữa Lương Kỳ và Hoàng Hoa Thám. Số phận của vị thủ lĩnh áo nâu đã được hai cha con tên bội phản bàn bạc với nhau ngay bên bàn đèn thuốc phiện. Chúng tính toán kín kẽ mọi nhẽ để tiếp cận và hạ sát được Đề Thám.
          Có tài liệu ghi chép lại rằng:
          Đề Thám và hơn chục thủ hạ ẩn náu bí mật trong các hang đá tại khu rừng thông Thanh La Kim Trận, thượng lưu sông Đáy thuộc châu Sơn Dương. Họ mong có cơ hội phục binh lấy lại cơ đồ, quyết không hàng phục, chiêu hồi. Lối vào hang của cụ Đề Thám được bố trí ba chặng gác. Bất kỳ ai muốn vào cũng phải được cụ cho phép và phải bỏ hết vũ khí ở bên ngoài.
          Ma Văn Sang và một tên tuỳ tùng dắt theo hai con ngựa thồ. Như mọi lần, họ đem muối, thuốc lào, thuốc phiện và bạc trắng tiếp tế cho tàn quân của Đề Thám.
          Khi họ xuất hiện ở khu rừng được canh phòng cẩn mật, người gác chặng thứ nhất vào báo trạm thứ hai, trạm thứ hai báo vào trạm thứ ba, trạm thứ ba báo vào để cụ Đề Thám biết. Nghe tin có Ma Văn Sang đến, Đề Thám cho lệnh đón vào ngay. Bọn Sang cởi súng để lại, chỉ mang theo túi đựng bạc trắng và hai hộp thuốc phiện. Tên tuỳ tùng cởi thồ hàng lấy các bao muối, thuốc lào giao cho nghĩa quân và ở lại đợi ở trạm ngoài.
          Đề Thám đón Sang từ cửa hang, ra hiệu cho người nghĩa binh dẫn đường quay lại. Hai bên tay bắt mặt mừng. Sang đặt túi bạc cái xuống cái sạp làm bằng phên nứa. Tiếp theo móc túi lấy ra hai hộp thuốc phiện kính cẩn đưa biếu Đề Thám.
          Sang thưa:
          - Cha nuôi sai tôi mang đến cho thúc phụ năm trăm đồng bạc trắng, bốn lạng tây thuốc, hai chục cân muối và năm chục bánh thuốc lào Vĩnh Bảo.
Đề Thám cảm động nói:
          - Ông về chuyển giúp tôi lời đa tạ tấm lòng của Lương huynh.
          Hai người ngả bàn đèn. Sang bảo:
          - Mời thúc phụ cứ hút cho thoả thích, để tôi tiêm hầu cho.
          Đề Thám sắp hết thuốc phải hút dè đã mấy hôm nay. Được lời mời của Sang, cụ bằng lòng ngay. Đề Thám duỗi hai chân nằm nghiêng gối đầu lên chiếc gối gỗ vuông, ngậm tẩu rít thuốc. Ống nhĩ kêu ro ro, khói thuốc phả ra thơm lựng. Mấy con tắc kè trên nóc hang quen ngửi khói bò từ trong kẽ đá bò ra.
          Đề Thám say thuốc, mắt lờ đờ rồi nhằm nghiền, buông rơi cán tẩu.
          Ma Văn Sang gọi thăm dò:
          - Thưa thúc phụ! Thưa thủ lĩnh...
          Không có tiếng trả lời, chỉ có tiếng ngáy khò khò của người say phê thuốc. Sang lấm lét quan sát xung quanh. Không có ai. Hắn rút chiếc búa đinh giấu trong túi bạc trắng, nhằm thái dương Đề Thám nện thật mạnh. Đề Thám ngất xỉu ngay không kêu được tiếng nào, chân tay giẫy giụa bành bạch. Hắn nện tiếp mấy nhát búa nữa vào đầu Đề Thám. Sau một lát giẫy giụa, Đề Thám nằm yên tắt thở. Sang nhanh chóng lấy dao cắt lấy thủ cấp giấu trong áo đi ra.
          Theo mưu kế đã định, Lương Văn Phê - tên tuỳ tùng cùng đi - gửi lại cả hai khẩu súng, xin phép đem ngựa vào đợi ở trạm trong cùng để kịp về. Anh em nghĩa binh vui vẻ cho đi. Tên Phê ngồi ở trạm ngoài chuyện vãn với người lính gác. Hán biếu anh ta mười đồng bạc trắng và một bánh thuốc lào để làm thân. Nhác thấy Sang đã ra gần tới nơi, tên Phê bèn xin phép người gác cho dẫn ngựa vào đón chủ. Người lính gác bằng lòng. Con ngựa trông thấy chủ chạy xộc ngay tới. Sang nhảy ngay lên ngựa giục đi nhanh. Qua chỗ người gác hắn còn vẫy chào. Sang và tên tuỳ tùng qua khỏi ba chặng gác, bỏ lại luôn hai khẩu súng, thúc ngựa phi nước đại.
          Thấy hai người của Lương Kỳ bỏ cả súng đạn để đi vẻ hốt hoảng vội vã như chạy trốn, các nghĩa quân nghi ngờ. Họ vội đổ xô vào hang của thủ lĩnh. Thì hỡi ôi mọi việc đã hỏng cả. Xác vị thủ lĩnh của họ nằm trên sạp nứa không đầu, máu chảy đỏ loang cả nền hang.
          Hơn chục nghĩa sĩ can trường chỉ còn biết nghiến răng trợn mắt. Họ đánh chịu bất lực vì không có ngựa để đuổi theo hai tên sát thủ. Họ ngồi khóc thủ lĩnh của mình mà lòng đau đớn, căm hận. Họ bàn bạc việc mai táng cho vị thủ lĩnh của mình. Họ hạ một cây gỗ hương đẽo một cái đầu bằng gỗ rồi tiến hành khâm niệm. Cái đầu gỗ vừa đặt vào thân xác của Đề Thám thì lạ thay máu ở cổ ngừng chảy. Chỗ hốc mắt của cái đầu gỗ ứa ra một dòng nước như là lệ. Các nghĩa binh đào nền hang đặt thi hài Đề Thám xuống lấp lại, khoả bằng để không ai phát hiện ra nơi chôn cất vị thủ lĩnh.
          Nghe nói sau khi cúng bái đủ ba ngày cho thủ lĩnh, họ lấy đá lấp kín cửa hang. Rồi họ chia tay nhau mỗi người đi một ngả, biệt tăm tích.
          Sự tích về người đầu gỗ được ghi chép lại là như vậy.
            Vĩ thanh
               1- Sau khi hạ sát được Đề Thám, Lương Kỳ được người Pháp hết sức trọng dụng. Hắn được cai quản, làm chủ một vùng. Hắn đi đến đâu có thổ ti, bang tá phục dịch, bảo vệ đến đấy. Hắn vẫn nghĩ mình sẽ an toàn tuyệt đối, dù những nghĩa binh của Đề Thám còn sống sót trong dân gian muốn báo thù cũng không thể có cơ hội.
           Nhưng chuyện kể lại rằng, một hôm hắn cưỡi ngựa qua sông. Sông Đáy mùa cạn trơ cả sỏi đá. Hắn lỏng chân cương giong ngựa qua sông. Toán tuỳ tùng lũ lượt đi trước đi sau và kèm hai bên hộ vệ. Con ngựa quý của hắn đang đi bỗng hí lên hoảng hốt chồm dựng ngược lên. Do không phòng bị nên Lương Kỳ bị hất tung lên lao cắm đầu xuống dòng sông cạn. Đám tuỳ tùng vội xô đến cứu. Bọn chúng vô cùng kinh hãi thấy đầu của Luơng Kỳ vỡ toác khi đập vào một gốc cây khô cưa cắt nham nhở chìm dưới dòng nước nông. Đó là một gốc cây bị nước lũ cuốn từ đâu về. Có người sau này biết chuyện thì dứt khoát bảo đó chính là gốc cây gù hương mà các nghĩa binh đã chặt để đẽo cái đầu gỗ cho Đề Thám. Chuyện thật giả chả biết thế nào...
           2- Đã từ lâu tôi nghe kể về một trận đánh kinh hoàng trên núi Sáng. Với tài trí của mình, cụ Đề Thám đã khéo léo chỉ huy nghĩa quân lừa cho bọn địch bắn nhau một trận chí tử, bị thiệt hại rất lớn. Tôi rất muốn viết về vị thủ lĩnh áo nâu, con hùm xám Yên Thế, người đã chọn núi Sáng quê tôi làm căn cứ địa thứ hai cho cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược.
           Cuối tháng hai vừa qua, tôi bất ngờ nhận được điện của ông Đỗ Văn Tường, nguyên bí thư huyện uỷ Lập Thạch nói có một tài liệu về Hoàng Hoa Thám ở núi Sáng. Ông đã cung cấp để tôi viết truyện ngắn này. Đây chỉ là một truyện dã sử, có thể nhiều tư liệu còn phải nghiên cứu, hiệu chuẩn lại. Với truyện ngắn này tôi xin làm một nén nhang để tưởng nhớ vị thủ lĩnh và những nghĩa quân trên núi Sáng.
                                                                             Hà Nội, tháng 3-2009               
                  

Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2011

Truyện ngắn BẾN SÔNG XƯA


        
Bến sông xưa
    Truyện ngắn của Trọng Bảo     
                    
      1- Buổi sáng mùa đông ảm đạm. Kinh thành còn chìm lẫn trong sương sớm. Sau biến cố thất triều, phố phường chưa trở lại được cái nếp sinh hoạt cũ. Hàng quán mở cửa muộn hơn. Thi thoảng có một tiếng hú và tiếng vó ngựa rầm rập vút qua. Đó là đám lính chạy chiếu thư của tân triều truyền lệnh cho các bộ. Đã bao đời nay việc thay ngôi, đổi chủ thường diễn ra trong loạn ly, máu chảy. Cũng có lúc là sự chuyển giao ôn hoà. Nhưng dù là hình thức chuyển giao chế độ như thế nào thì đám vương gia cựu triều cũng lâm vào thế thất sủng, hoảng loạn, ly tán. Thiếu gì chuyện kẻ mới lên ngôi lo việc diệt trừ tận gốc rễ để phòng hậu họa. Vậy nên việc họ Hồ tiếm ngôi nhà Trần khiến đám quan lại, họ hàng thân, sơ triều cũ bàng hoàng, kinh hãi. Nhiều người phải bỏ kinh trôi dạt tứ phương.
          Lại nói về một buổi sáng mùa đông ảm đạm. Dòng Nhị Hà sóng lặng. Thuyền bè hai bờ tả hữu còn gác mái chờ sáng. Trong cái khoảng tĩnh không ấy có một con thuyền nhỏ lặng lẽ rời bến Chương Dương. Con thuyền cố tránh va chạm với những thuyền bè khác gây nên tiếng động lớn. 
          Chiếc thuyền nhỏ ra đến giữa sông thì quay mũi ngược phía thượng nguồn. Nước sông chảy xuôi miết vào mũi thuyền tạo nên tiếng rào rào như xé. Chủ nhân con thuyền ấy là đôi vợ chồng trẻ. Họ rời kinh thành không hẳn vì sợ loạn ly, có lẽ là cám cảnh suy tàn của một vương triều đem lại bao nhiêu đau thương cho lương dân. Hoặc là họ chưa thích ứng được với tân triều. Tuy nghe chuyện Hồ Quý Ly tuy là một võ tướng nhưng có tư tưởng canh tân, mưu vãn hồi tình cảnh đất nước, song vốn dĩ là người cầu an nên Trần Án(1) vẫn quyết định cùng vợ rời bỏ kinh đô lên miền sơn cước tá túc. Họ đem theo một vài gia nhân, những tay chèo khoẻ mạnh. Mái chèo chém vào sóng nước tạo nên những âm thanh gọn gàng, chắc khoẻ. Con thuyền lướt đi trong màn sương sớm lạnh lẽo và ẩm ướt. Trần Án ngồi ở mũi thuyền, mắt đăm đăm nhìn về phía trước ước lượng từng đoạn đường sông. Chàng có vẻ suy tư, lo cho những điều bất định của ngày sau, không biết đoạn trường phía trước rồi sẽ ra sao. Nhưng rồi Trần Án lấy lại sự bình tâm, tin ở tuổi trẻ và lời dặn của cố nhân “hữu siêng, tất phú”. 
          Chợt có hơi ấm toả ra ở phía sau lưng, Trần Án quay lại. Đặng Thị Hoàn(2) - vợ Trần Án nhẹ nhàng khoác cho chồng tấm áo choàng. Nàng hỏi chồng:   
          - Chàng có điều gì phải lo nghĩ? Có phải chàng ngại nơi thâm sơn, cùng cốc khó bề kiếm kế sinh nhai?    
          - Ta không lo sự tồn tại bởi siêng năng thì chẳng sợ gì khó nghèo!  
          - Thế chàng còn lo nỗi gì nữa?
          - Ta lo tại sự tồn sinh!
          - Trần Án nói giọng buồn buồn. ánh mắt nhìn vô định. Đặng Thị Hoàn hiểu chồng. Hai người lấy nhau đã lâu, đều trẻ trung mà mãi chưa sinh được mụn con nào. Chồng nàng lo lên vùng rừng sâu, nước độc, lao động vất vả, thiếu người nối dõi tông đường, ít nhân lực để khai sơn, phá thạch. Đặng Thị Hoàn lây nỗi buồn của chồng. Nàng lặng lẽ ngồi xuống bên Trần Án. Một cơn gió lạnh lùa sương sớm tạt lên mặt người khiến đôi vợ chồng trẻ rùng mình. Họ càng hiểu sự tha hương và những nỗi chuân chuyên đang chờ ở phía trước.    
          Con thuyền đến ngã ba Hạc Trì thì mặt trời đã lên độ một con sào. Mặt nước quang quẻ. Sóng dồi lớp lớp từ nguồn Lô, nguồn Thao tạo nên sự mênh mông của dòng sông đổ về phía hạ lưu. Một đàn hạc trắng chợt bay ngang sông, tiếng kêu thảng thốt vọng lan mặt nước. Hai vợ chồng sững sờ trước cảnh non nước thần tiên. Ngước lên phía thượng nguồn là núi Nghĩa Lĩnh thờ Tổ uy phong, bên tả, bên hữu là hai dãy Ba Vì và Tam Đảo trấn vững. Trần Án thốt lên: “Quả là một nơi ẩn cư, dụng chí”.   
           Trần Án bảo đám gia nhân tìm bến neo thuyền, dò phong thuỷ định nơi dựng trại. Thấy địa trang Sơn Đông vốn là miền gò đồi rừng rậm bao phủ, sinh cảnh nghèo nàn chưa ai khai phá lại có vượng khí lan toả nên Trần Án bàn với vợ dừng chân định cư. Họ chặt cây rừng dựng buộc thành kèo cột, đắp tranh cỏ làm mái toan tính việc khai hoang, lập ấp. Nhưng buổi đầu ở chốn thâm sơn việc cấy lúa, trồng ngô khoai đâu dễ. Lúa cấy không quen thuỷ thổ nên lay lắt chẳng chịu làm đòng, hạt ngô vùi xuống đất chim chuột moi lên ăn hết. Cái đói, cái lạnh rập rình vây bủa. Nhưng bao giờ cũng vậy, bức bí cùng đường tất sinh sáng kiến. Một bữa vào rừng bẫy thú, lúc ngồi nướng thịt dưới gốc cây dọc, vun lá khô nuôi mồi lửa Trần Án chợt thấy những cái hạt cây bằng ngón tay khô đen cháy rần rật như nến. Đó là hạt quả dọc. Trần Án nảy ra ý nghĩ ép hạt dọc lấy dầu đốt thay cho mỡ lợn vốn là loại thực phẩm rất quý. Ép dầu dọc là một việc công phu. Hạt quả dọc được nhặt về đạp trầy vỏ, phơi ưởi cho ngót bớt nước, giã dập vỡ, đem đồ lên như đồ xôi. Khi mùi thơm nồng ngậy bốc lên là hạt dọc đã chín có thể đem ép lấy dầu. Dụng cụ để ép dầu dọc là một khung gỗ lim. Một đầu khung gỗ được chôn xuống đất thật chắc. Phía thanh xà sát đất đục một lỗ nhỏ để khóa đầu hai tấm ván ép. Thanh xà phía trên đục một rãnh dài để lắp phần trên của hai tấm ván. Hai tấm ván ép dầu dọc như một cái kẹp lớn. Hạt quả dọc đồ chín còn nóng bỏng được đổ vào bao gai gói lại gài vào giữa hai tấm ván ép. Đoạn dùng nêm chêm vào hai đầu rãnh làm hai tấm ván ép chặt vào nhau. Hạt quả dọc nóng bị ép chặt, tinh dầu thoát ra chảy xuống chậu sành. Dầu dọc sánh như mật ong nhưng sẫm hơn, toả ra mùi thơm dìu dịu. Dầu dọc cháy sáng hơn, không khét, nổ lép bép như mỡ lợn lại rất thơm, xua được âm khí. 
           Nhờ học được nghề ép dầu dọc mà cuộc sống của gia đình họ Trần Án ở Sơn Đông đỡ vất vả hơn. Việc ép dầu dọc thường làm vào buổi đêm để tránh nắng làm dầu hao. Ban ngày Trần Án gánh dầu đi bán rong khắp chốn. Một bữa, đi qua đền thờ Tây Thiên quốc mẫu(3) nổi tiếng linh thiêng Trần Án bèn đem dầu dọc vào cung tiến cho đền chùa. Sư cụ trụ trì bảo chàng thắp một nén nhang và lạy tạ Quốc mẫu cầu đảo. Lúc ra đến cửa thì trời đất mù mịt mưa gió, Trần Án xin nghỉ lại tại chùa. Đêm ấy, Trần Án ngủ mơ thấy có người đến bên giường bảo: “Tiên đồng giáng thế ắt sinh anh kiệt”. Trần Án bừng tỉnh nghĩ mãi mà vẫn chưa hiểu sự thể là thế nào. 
     
          2- Khi chồng đi bán dầu Đặng Thị Hoàn ở nhà quản bọn gia nhân ép dầu, làm ruộng. Nàng còn son rỗi nên phóng túng. Một hôm trời nắng, đi cấy ở ruộng về, nàng ra sông Lô tắm. Nước sông trong xanh, nhìn như thấu đáy. Cá tôm lao xao, có con nhảy vút lên khỏi mặt nước khi nàng dìm mình xuống nước. Một toà bảo tháp thiên nhiên ẩn hiện. Dòng nước mát tràn ứ dập dềnh. Thít chặt dải yếm, nàng thoả sức vẫy vùng. Sau khi lặn ngụp đã thích, Đặng Thị Hoàn bơi về phía bờ. Chợt nàng thấy dòng sông như nghiêng đi. Những cuộn sóng cuộn tròn từ phía giữa sông lăn về phía bến. Đặng Thị Hoàn ngỡ ngàng nhìn ra. Một con giao long trồi hẳn lên mặt nước quẫy đảo, vảy rồng lấp lánh, sắc khí, hương thơm lan toả khắp mặt sông. Thoạt đầu Đặng Thị Hoàn hoảng sợ. Sau nàng thấy bình tĩnh lại. Con giao long tạo nên những làn nước như búi dây vô hình quấn riết quanh người nàng. Ngực nàng như bị xiết chặt, dải yếm đứt tung. Nàng cảm nhận được sự mơn man khắp da thịt, có một sự xâm nhập kỳ lạ vào cơ thể. Nàng thấy đê mê, bồng bềnh không trọng lượng tưởng sắp tan biến vào dòng nước. 
           Hồi lâu dòng sông Lô lặng sóng. Con giao long biến mất. Lạ quá, trời sập tối. Bóng tối như tấm lụa đen che chở cho nàng về sơn trại tránh mọi con mắt tò mò của sinh linh trên bến, dưới thuyền.   
           Sau bận ấy Đặng Thị Hoàn thụ thai. Trần Án mừng lắm. Đặng Thị Hoàn sinh hạ được một cậu con trai khôi ngô. Trần nhớ chuyện gặp mộng ở đền Mẫu quốc bèn đặt tên con là Hãn, lót thêm chữ Nguyên. Trần Nguyên Hãn(4) lớn lên có sức khoẻ hơn người, lại thông minh sáng dạ, vợ chồng Trần Án, Đặng Thị Hoàn mừng lắm. Nguyên Hãn giúp bố mẹ chăn trâu, kiếm cá và phụ gánh dầu dọc đi bán. Từ bé Nguyên Hãn đã thích tập kiếm cung, võ thuật lại giỏi bơi lội, đi dưới nước như đi trên cạn. Một hôm ngồi trên bến Đông Hồ câu cá, Nguyên Hãn chợt trông thấy giữa dòng nước xiết một xác người trôi dạt lập lờ. Không do dự, Nguyên Hãn ném cần câu lao xuống nước kéo cái xác vào bờ. Đó là một người con gái trẻ bị chết trôi. Nguyên Hãn đưa cái xác lên chôn cất cẩn thận trên bãi cao. Sau khi đắp điếm mồ mả xong xuôi, cảm thương không muốn để tử nữ vô danh Nguyên Hãn bèn đặt cho nàng một cái tên là Duy để ghi lên bia mộ. Nguyên Hãn chắp tay cầu khấn: “Nàng phận bạc, gặp nạn thiệt thân! Ta chẳng cứu được người, chỉ đắp được cho nàng một nấm mồ. Về sau nếu ta có gặp sự rủi ro, quẫn bách mong nàng phù hộ…”.   
          Chuyện tưởng thế là thôi nhưng sau này khi đầu quân tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi, một trận bị giặc Minh vây hãm, dùng chó săn truy đuổi Nguyên Hãn phải chui trốn trong hốc cây bồ đề. Khi đàn chó săn đánh hơi sục đến Nguyên Hãn nhẩm khấn gọi tên người con gái chết trôi năm xưa. Bỗng đâu có một con cáo trắng từ trong hốc cây chạy vọt ra dụ đàn chó săn hung dữ đuổi theo. Nhờ vậy mà Nguyên Hãn thoát chết.   
           Lại nói thêm về thuở thiếu thời, Nguyên Hãn thường giúp cha mẹ làm ruộng, cuốc nương. Chàng vẫn thường cày cuốc ở khu gò đất hoang gần nhà. Một hôm, Nguyên Hãn đào được một thanh sắt dài, trông từa tựa như lưỡi gươm, đem về cất vào góc nhà. Đêm đến thấy ánh sáng lấp lánh từ thanh sắt toả ra. Đoán là báu vật, Nguyên Hãn giữ gìn cẩn thận, lựa những buổi đêm rỗi việc đem ra mài ở hòn đá lớn cạnh Vụng Tó. Hòn đá mài gươm mòn vẹt đi còn thanh sắt lộ hình lưỡi gươm sáng quắc và sắc như nước. Một lần đi bán dầu qua bến đò sông Phó Đáy đoạn qua làng Phú Hậu gặp lúc lão hàng chài kéo lưới từ dưới sông lên nhặt được cái chuôi gươm, Nguyên Hãn liền đổi ba gáo dầu dọc lấy cái chuôi đem về lắp vào lưỡi gươm vừa khít. Chàng thích lắm luôn đeo thanh gươm bên mình. Một tối Nguyên Hãn đi đặt đó đơm cá, nửa đêm kiểm tra các lờ, đó đều đầy tôm cá nhưng sáng ra thì đã rỗng không. Nghi có trộm, chàng liền để ý đi rình. Đêm sau từ chỗ nấp, chàng thấy có bóng người cao lớn lần tìm những lờ, đó của mình lấy tôm cá ra nhai sống. Nguyên Hãn ập đến rút gươm ra dọa. Trong đêm tối lưỡi gươm toả ra một thứ ánh sáng xanh lạnh sắc. Người kia hoảng sợ khụy xuống không chạy nổi. Thì ra đó là một con ma có dáng hình, mặt mũi kỳ quái. Con ma sợ hãi van nài:   
          - Ngài nhờ có gươm thần nên mới bắt được tôi. Nay nếu được tha tội, tôi xin biếu ngài một cái áo. Áo này có trăm cái cúc, nếu cài đủ sẽ có phép tàng hình, không ai nhìn thấy được.   
          Nguyên Hãn nhận cái áo. Quả là nó có thể giúp con người tàng hình. Chàng gọi nó là "ma y". Cái áo của con ma đã giúp Nguyên Hãn nhiều lần thoát nạn hiểm nghèo, lập công lớn, chém đứt lìa đầu tướng giặc Liễu Thăng trong trận đánh ở quan ải Chi Lăng sau này.   
          Khi Trần Nguyên Hãn mười tám tuổi thì cha mẹ đều chết. Nguyên Hãn dẫn hơn một ngàn quân lặn lội từ miền Sơn Đông, Lập Thạch(5) vào Lam Sơn, Thanh Hoá giúp Lê Lợi khởi binh lập nghiệp. Nguyên Hãn được Lê Lợi trọng dụng bởi tài năng quân sự xuất chúng, cầm quân bách trận, bách thắng, được giao trọng trách đứng đầu hàng quan võ, cùng ngồi trong trướng với chủ soái bàn việc kín… Khỏi phải nhắc lại những công danh của Trần Nguyên Hãn, bởi sự ấy mọi người đều rõ.     

          3- Một sáng, cũng phải đến hơn một năm sau ngày lập quốc, Hoàng đế thiết triều với dáng vẻ mệt mỏi. Những năm khởi nghiệp nếm mật, nằm gai, đói rét khiến nhà vua suy kiệt sức lực, lại buồn chuyện Quận vương(6) bậy bạ, lộng quyền, lo lắng bọn Văn Xảo(7) vốn gốc rễ Kinh Lộ sau này có chí khác. Giữa lúc đó thì Nguyễn Trãi dâng biểu tâu việc ghi danh các vị khai quốc công thần để lưu truyền muôn thuở. Liếc thấy tên Trần Nguyên Hãn được viết ở cột nhất, nhà vua chau mày. Khi Nguyễn Trãi lui xuống, nhà vua cầm cây bút lông chấm mực gạch một nét, xoá tên Trần Nguyên Hãn trong bản danh sách công thần. Nguyễn Trãi nhác thấy rùng mình, đổ mồ hôi hột, thấy như có cơn gió lạnh chạy dọc sống lưng. Trần Nguyên Hãn đứng ở xa thì bỗng tối tăm cả mặt mũi tựa có ngọn roi quất ngang mặt. Cố ngước lên nhìn nhà vua, Trần Nguyên Hãn kinh ngạc chợt nhận ra dung nhan thật của Hoàng đế Lê thái tổ. Giữa lúc ấy lại nghe như có tiếng nói vang vọng bên tai: “Đế Việt Vương chi tướng, bất khả đồng diệc lạc” (Nhà vua có tướng mạo giống như Việt Vương Câu Tiễn, không thể cùng hưởng yên vui, sung sướng được). Vậy nên mặc dù được Lê Lợi trọng dụng, Trần Nguyên Hãn vẫn có ý quy hưu. Trước việc Trần Nguyên Hãn cáo quan về vườn nhà vua mừng lắm, coi như bớt một mối lo hậu họa. Nhà vua hạ chiếu cho Trần Nguyên Hãn được từ quan về quê, đòi mỗi năm phải về kinh chầu một lần. Trần Nguyên Hãn và mấy quân thần xuống thuyền ngược dòng Nhị Hà theo lối cha mình ngày trước lên Hạc Trì. Hơn mười năm bôn ba chinh chiến, Trần Nguyên Hãn vẫn để vợ con ở Sơn Đông, Lập Thạch làm ruộng, ép dầu dọc…
           Về đến bến đò sông Lô thì Trần Nguyên Hãn gặp một cụ già tóc râu trắng như cước chặn lại hỏi:  
          - Gươm báu của ngài đâu rồi?    
          - Ta đã trao cho chủ soái để người cầm quân!   
          - Thế còn ma y?   
          - Cũng đưa để nhà vua lập nghiệp!   
          Cụ già nghe vậy lắc đầu thở dài không hỏi thêm nữa và buông áo để Trần Nguyên Hãn đi. Trần Nguyên Hãn đi vài bước quay lại đã không còn thấy cụ già đâu nữa. Trần Nguyên Hãn về làng xây phủ đệ, đóng thuyền đánh cá lại hay tụ tập bạn sơn tràng bàn việc điền viên. Bọn gian thần trong triều vốn căm ghét Trần Nguyên Hãn bởi bản tính cương trực nên mượn cớ ấy để dèm pha là tụ quân mưu phản khiến Lê Lợi thấy lòng dạ bất yên. Nhà vua hạ chiếu cho triệu Trần Nguyên Hãn về kinh. Khi nghe quan khâm sai truyền chỉ, lại thấy các lực sĩ xá nhân đao kiếm hầm hè đứng đen trên chiến thuyền đậu ở bến sông thì Trần Nguyên Hãn đã hiểu. Ngài dặn dò đám gia nhân việc hậu sự, từ biệt vợ con. Ra đến bến sông, Trần Nguyên Hãn ngửa mặt lên trời than rằng:   
          - Tôi với vua cùng mưu việc cứu dân, lập quốc, lòng trung không đổi! Nay khi việc lớn đã thành, nhà vua sớm quên chuyện đồng cam cộng khổ, lại mưu bức hại tôi. Xin trời cao thấu tỏ!   
          Khấn xong cười ha hả mà bước xuống thuyền. Đám quan binh lấm lét nhìn Trần Nguyên Hãn. Thuyền ra đến giữa sông thì neo lại. Quan khâm sai bảo: 
          - Hoàng đế ghi nhớ công lập quốc nên cho ngài được chết toàn thây!
          Đoạn sai tứ nhị lực sĩ trói Trần Nguyên Hãn lại. Nguyên Hãn mặt không biến sắc đứng im mặc cho bọn lực sĩ xông lại bắt trói. Đám lực sĩ dùng dây thừng xiết cổ để giết chết Trần Nguyên Hãn. Chúng ra sức kéo hai đầu dây. Vòng dây thừng thít chặt cổ mà Trần Nguyên Hãn mãi vẫn không chết. Ngài vẫn cười ha hả mà nói:  
          - Ta là con cháu của thần giao long làm sao giết nổi?   
          Đám quan quân, lực sĩ vung gươm đao định chém, Trần Nguyên Hãn bảo:   
          - Để ta tự trầm!   
          Nói xong, Trần Nguyên Hãn vùng vẫy, dây trói đứt lả tả. Ngài vẫn cười ha hả nhưng nước mắt thì lại trào ra giàn giụa đỏ tươi như máu. Bỗng giông gió nổi lên mù mịt. Cả một đoạn sông Lô ầm ầm tiếng sét nổ, sóng nước cuồn cuộn, thuyền bè chao đảo, tôm cá nhao lên. Đám quan quân triều đình vô cùng hoảng loạn. Trần Nguyên Hãn bước ra mạn thuyền gieo mình xuống dòng sông sâu.    
          Một lúc sau, trời trở lại quang quẻ, sóng nước bình yên. Quan quân triều đình trông thấy một con giao long đang từ từ chìm xuống đáy sông. Sóng nước trào lên ngầu đỏ rực.  
          Khi Trần Nguyên Hãn nhảy xuống sông tự vẫn cũng là lúc vua Lê đang ngồi cùng đám cận thần uống rượu. Nâng ly rượu lên định uống, nhà vua chợt kinh hãi nhìn thấy ly rượu của mình đỏ rực màu máu. Nhà vua lập cập buông rơi cái ly. Ly rượu vỡ tan, màu đỏ máu tràn loang trên nền điện. Hoàng đế buột miệng thốt lên: “Ta chót nghe theo lời sàm tấu vu cáo đã gây nên họa lớn cho Nguyên Hãn mất rồi!...”.    

          4- Đêm đã về khuya. Sương lạnh ngưng tụ thành giọt rơi lộp bộp ngoài sân. Câu chuyện của cụ thủ từ Đền Thượng vẫn còn dài. Tôi lặng lẽ ghi chép và cảm nhận sự linh nghiệm như vẫn còn hiện hữu. Ngoài bến Đông Hồ sóng sông Lô vỗ vào bờ đều đều tạo nên những âm thanh day dứt mãi đến muôn đời.
          Cụ thủ từ chợt ngừng câu chuyện và bảo tôi: “Thôi chú đi nghỉ đi! Mai là ngày chính giỗ Tả Tướng quốc Trần Nguyên Hãn, nghe nói Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ về thắp hương cùng dân làng Sơn Đông tưởng nhớ người xưa. Hai vị danh tướng ấy hai thời đại khác nhau, âm dương cách biệt nhưng hình như có sự đồng cảm với nhau đấy chú ạ...".
                                                          
                                                                          
Lập Thạch, 12-2006
                                                                                      
-------------------------------------------------
 Chú thích truyện ngắn dã sử Bến sông xưa
(1)- Trần Án, bố Trần Nguyên Hãn.
(2)- Đặng Thị Hoàn, mẹ Trần Nguyên Hãn.
(3)- Thuộc khu vực núi Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
(4)- Tức Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn, nhân vật trong truyện ngắn dã sử này.
(5)- Thuộc tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
(6)- Thái tử Tư Tề, do tính khí ngông cuồng sau bị phế xuống làm thứ dân.
(7)- Tức Phạm Văn Xảo, người nổi tiếng văn thơ và tài năng quân sự ở Thăng Long.