Thứ Hai, 25 tháng 4, 2022

Tạp văn CHUYỆN HOA PHONG LAN

 CHUYỆN HOA PHONG LAN

Tạp văn của Trọng Bảo
Sau khi hoàn thành công việc, sách đã in xong tôi trở về vườn quê với hoa phong lan. Một mùa hoa lan rừng đang bắt đầu nở tưng bừng nơi chốn vườn xưa. Ngắm hoa phong lan, tôi lại nhớ về thời chiến sĩ giữa rừng sâu. Ngày ấy, chúng tôi lao động làm doanh trại ở Văn Chấn, Yên Bái. Đại đội Thông tin 17, Trung đoàn 246 đóng quân dã ngoại ở các gia đinh công nhân lâm trường chè Trần Phú. Tôi và Hiên Giang Bảo ở nhà chị Thuyết, Đội sản xuất số 1. Chị chủ nhà cứ băn khoăn “Tại sao không cho hai chú ở hai gia đình khác nhau, ở cùng thế này gọi một người thì cả hai cùng thưa!”. Anh chủ nhà là cán bộ về nghỉ phép thì nói đùa: “Hai chú này giống như hai con dê, cùng tên tuổi, ở cùng nhau, luôn “húc nhau” nhưng vẫn thân thiết với nhau thế…”. Đúng như anh chủ nhà nhận xét. Hai thằng chúng tôi cùng tên, cùng tuổi, cùng nhập ngũ, cùng ở một tiểu đội, chỉ khác quê quán. Giang Bảo quê ở Thái Nguyên, còn tôi ở Vĩnh Phúc. Điểm khác thứ hai là tôi là người Việt, còn Giang Bảo là người Việt gốc Hoa. Ngày còn là tân binh chúng tôi cũng cùng ở đơn vị huấn luyện ở Đại Từ, Thái Nguyên, cách nhà Giang Bảo hơn một cây số. Mỗi khi được nghỉ, Giang Bảo hay nháy tôi: “Trọng Bảo ơi! Về nhà kiếm cái gì ăn đi!”. Thời ấy lính đói lắm. Mỗi khi được nghỉ tôi hay theo Giang Bảo về nhà. Bà mẹ Giang Bảo có cái gì ăn đều để phần chờ chúng tôi về. Khi thì vài củ sắn, bắp ngô, hai cái bánh bao hoặc hai nắm bột mỳ luộc. Nhà nghèo nhưng mỗi lần thấy chúng tôi về bà mẹ Giang Bảo vui lắm. Bà mẹ nghèo rưng rưng nhìn hai thằng lính chúng tôi chia nhau đồ ăn.
Khi đi lao động ở Yên Bái chỉ huy phân công hai chúng tôi ở cùng một nhà. Hai chúng tôi hay tranh luận, ý kiến luôn trái ngược nhau nhưng rất thân nhau. Chúng tôi có một điểm chung là đều thích hoa phong lan. Lính tráng lao động rất vất vả, ăn uống thì thiếu thốn. Chúng tôi làm việc suốt ngày đêm cuốc đất, san nền nhà, chặt nứa đan tranh lợp nhà, đan sạp làm giường ngủ. Những ngón tay đan tranh cà vào vỏ cây nứa nhiều đến nỗi các móng tay bị mòn thấu đến thịt chảy máu, rất đau phải dùng giẻ buộc lại để tiếp tục đan. Làm việc vất vả vậy nhưng hôm nào được nghỉ là chúng tôi lại rủ nhau đi tìm phong lan. Ngày ấy rừng già còn nhiều, phong lan cũng nhiều nhưng trên cây cao rất khó lấy. Một lần, tôi và Giang Bảo trèo lên một cái cây chết khô để lấy một giò lan rừng đang nở hoa rất đẹp. Lúc leo lên đã khó, lấy được lan rồi xuống còn khó hơn. Cái cây mục đung đưa khi gió mạnh như sắp đổ. Giang Bảo đạp vào một cành cây khô mục. Cành cây gãy nó ngã nhào xuống đám dây leo chằng chịt khiến tôi hoảng sợ quá. May mà nó không sao. Lần ấy lấy được khóm lan đẹp về ghép vào cành nhãn vườn chủ nhà. Đi rừng khai thác tre nứa, gỗ lấy được lan chúng tôi đều đem về ghép vào những cây nhãn trong vườn. Chị chủ nhà bảo: “Không chăm được đâu!”. Nhưng lan rừng sức sống rất khỏe, chẳng cần chăm sóc vẫn phát triển tốt. Cũng tôi và Giang Bảo mải lấy hoa lan ven suối khi nước lũ bất ngờ đổ về đánh tan bè nứa trên Ngòi Lao, suýt nữa bị nước cuốn xuống vực. Cuối năm 1978, tình hình quan hệ hai nước Việt-Trung căng thẳng, Hoa kiều và người gốc Hoa chạy về nước. Giang Bảo được cho ra quân. Gia đình Giang Bảo không chạy về Trung Quốc mà vẫn ở lại Việt Nam. Do đó mà tôi và Giang Bảo không xảy ra tình huống “chĩa súng vào nhau” khi chiến tranh biên giới phía Bắc 2-1979 nổ ra. Sau chiến tranh biên giới tôi về Thái Nguyên ôn thi đại học Giang Bảo còn đến thăm. Vài năm sau đó Giang Bảo mất vì một căn bệnh hiểm nghèo.
Trở về vườn quê, ngắm hoa phong lan rừng tôi lại nhớ tới người bạn cũ cùng tên và bao nhiêu đồng đội từ thời chiến sĩ gian lao giữa rừng Yên Bái, Hà Giang. Về vườn quê tôi vẫn có thể trồng lan, hằng ngày làm việc trực tuyến qua Internet, hoàn thành công việc được giao và bắt đầu cho một sáng tác mới. Đó là viết cho xong cuốn tiểu thuyết “Hai nửa cuộc đời” viết về một nhân với hai nửa cuộc đời sáng - tối. Khi còn là người lính anh tỏa sáng trong chiến tranh với nhiều chiến tích. Nhưng nửa cuộc đời còn lại trong thời bình của anh là bóng tối. Trong chiến tranh kẻ thù ở phía trước mặt dễ nhận biết. Thời bình thì kẻ thù ở sau lưng, ở xung quanh và ở chính trong ta rất khó phân biệt. Chiến tranh với các mặt trận ác liệt, cam go nhưng làm nên anh hùng, còn thời bình lại là những "ma trận" của quyền lực, tham vọng và sự êm ái cám dỗ người ta sa ngã…
Hương hoa phong lan thơm miên man quá khiến tôi cũng quá lan man. Xin dừng bút tại đây để mời các bạn ngắm hoa phong lan đang nở ngập tràn trong vườn nhà tôi hôm nay…
Vĩnh Phúc, ngày 11/4/2022
Ảnh: Hoa lan rừng trong vườn nhà tôi.






Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2022

SÁCH ĐÃ IN XONG

    SÁCH ĐÃ IN XONG

Tiểu thuyết NĂM NGƯỜI CÙNG LÀNG - tác giả Trọng Bảo do Nhà xuất bản Văn học cấp phép xuất bản đã in xong cuối tháng 3-2022. “Năm người cùng làng” viết về thời hậu chiến. Đất nước trải qua bao năm tháng dài của các cuộc chiến tranh đầy đau thương, mất mát nhưng thời hậu chiến với những với những di chứng, nỗi đau của người lính, người dân còn dài hơn rất nhiều. Thời chiến đã khốc liệt song thời hậu chiến cũng không kém phần khốc liệt, gian lao. Có những điều phi lý tưởng chỉ xảy ra trong chiến tranh nhưng không ngờ lại đầy rẫy ở thời bình.
Ở một cái làng nhỏ ven sông có năm người bạn cùng sinh một năm, cùng học với nhau cho đến hết lớp 10 (lớp cuối cấp 3 ở miền Bắc trước đây). Câu chuyện xoay quanh số phận của năm nhân vật ấy. Mỗi người một hoàn cảnh nhưng đều giống nhau ở một điểm là đều là những học trò nghịch như quỷ - nên còn gọi là nhóm "ngũ quỷ" làng Vực. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, ba người lên đường nhập ngũ vào miền Nam chiến đấu, một người đi thanh niên xung phong, chỉ có một người xuất ngoại du học ở nước ngoài. Hết chiến tranh, một người lính (nhân vật Thưởng) và cô thanh niên xung phong (nhân vật Nhiên) từ mặt trận trở về làng. Nhân vật Hiến đi học nước ngoài cũng đã trở về và thành danh là một cán bộ nhà nước.
Câu chuyện bắt đầu khi một trong hai liệt sĩ làng Vực đột ngột trở về làng. Đó là Vũ Phương. Hóa ra anh vẫn còn sống. Anh chỉ bị thương sọ não, bị thất lạc đơn vị chứ không chết. Vũ Phương trở về với một câu hỏi luôn luôn thường trực trong đầu: "Tao chết rồi à! Tại sao tao lại chết?". Sự trở về của người "liệt sĩ" khiến nhiều chuyện ở làng xáo trộn. Trước tiên là việc đi tìm "chứng nhận là người còn sống" của Vũ Phương. Hóa ra là không đơn giản bởi một bộ máy chính quyền quan liêu, nhũng nhiễu, nhiều thủ tục nhiêu khê.
Hành trình để từ một "liệt sĩ" trở lại làm một người còn sống của Vũ Phương thật gian nan, phiền phức. Nhiều sự trớ trêu khác cũng xuất hiện kể từ khi “người chết” sống lại. Người mẹ già ốm yếu đã bao năm rồi nhận tiêu chuẩn tiền tuất hàng tháng của gia đình liệt sĩ, nhận vài viên thuốc giá rẻ miễn phí ở trạm y tế xã nay phải trở về làm một người dân bình thường, không còn những đãi ngộ ấy nữa. Một "liệt sĩ" từ cõi chết trở về luôn được đám trẻ tung hô là “anh hùng” như Vũ Phương giờ phải gian nan kiếm sống mưu sinh giống như số phận của bao nhiêu người lính thời hậu chiến. Nhưng dù gian nan, vất vả họ vẫn giữ gìn được phẩm giá và nhân cách của mình, không bao giờ sa ngã trước cám dỗ của tiền bạc. Nhân vật Thưởng trở về từ mặt trận B3-Tây Nguyên. Anh bị sốt rét và nhiễm chất độc da cam, không lấy vợ, thay mẹ chèo đò chở khách sang sông. Đứa con nuôi (cái Sương) chính là con đẻ của người yêu cũ lén bỏ lại trên thuyền cho anh nuôi để không vướng bận khi xuất ngoại với người chồng ngoại quốc. Anh Thưởng đã phải gian nan nuôi nấng cái Sương. Nhưng anh đã có được niềm vui hạnh phúc khi đứa con gái nuôi lớn khôn, học giỏi. Cái Sương suýt nữa bị ông chủ cưỡng hiếp và đẩy vào cạm bẫy của một đường dây buôn bán đưa người ra nước ngoài. Cái đường dây tội lỗi ấy do vợ chồng ông chủ doanh nghiệp trá hình mà người vợ lại chính là người yêu cũ của anh Thưởng, mẹ đẻ của cái Sương lập ra. Người mẹ buôn người ấy đã nhận ra con gái của mình khi cái Sương để lại giấy tờ trong túi xách khi chạy thoát ra khỏi động quỷ. Người gác cổng doanh nghiệp ấy cũng là một người lính cũ ở mặt trận B3 đã cứu cái Sương. Sau vụ ấy người cựu chiến binh gác cổng bị mất việc trong khi vợ ốm yếu, con nhiễm chất độc da cam. Nhưng bản lĩnh của người lính chiến vẫn thể hiện qua câu nói của ông: "Mất việc thì mất, tôi cóc cần! Hôm ấy, nếu biết thằng giám đốc định hại con bé thì tôi đã đạp cửa xông vào đâm luôn cho nó một nhát. Mẹ kiếp! Đi tù thì đi tù, chiến tranh, bom đạn còn chẳng sợ, sợ đéo gì nhà tù!".
Trong năm người cùng làng người thành đạt nhất là nhân vật Hiến. Hiến được ông chú ruột là cán bộ cấp to nâng đỡ. Hiến đã tích cực hỗ trợ ông chú trong việc loại bỏ nhiều "địch thủ" để vươn lên với những thủ đoạn vô cùng tinh vi, hèn hạ. Trong đó có món "đòn văn nghệ", dùng văn nghệ để ám sát đối thủ chính trị của mình. Thằng Hiến thì tìm cách "bẫy" cấp trên trực tiếp của mình để đoạt chức trưởng phòng, vươn lên làm phó giám đốc sở công nghiệp tỉnh. Con đường công danh của nó rộng mở tưởng là thênh thang, mỹ mãn. Nhưng luật đời nhân quả. Bọn tham ô, tham nhũng, khó tránh khỏi lưới trời lồng lộng. Khi biết số mình đã tận, thằng Hiến đã lặng lẽ trở về làng Vực để gieo mình kết thúc cuộc đời ở dòng sông quê nhà, nơi nó từng vẫy vùng tắm mát một thời tuổi trẻ.
Các nhân vật khác trong tiểu thuyết “Năm người cùng làng” như mẹ con chị Hường bán rau, lão Vận quét chợ, ông Nghĩa, thằng Nhân "thợ xây", cụ thủ từ Đền Vực. Họ là những nhân vật phụ trong tiểu thuyết nhưng cũng có những số phận, những mối liên hệ gắn với các nhân vật chính trong nhóm "ngũ quỷ" làng Vực nơi vùng trung du nghèo khó…
Tôi xin được chân thành cảm ơn Nhà xuất bản Văn học, cảm ơn những người làm công tác biên tập, làm sách đã giúp cho cuốn tiểu thuyết này ra đời. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc tiểu thuyết “Năm người cùng làng” của Trọng Bảo.
Hà Nội, tháng 3-2022
TRỌNG BẢO
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'TRỌNG BẢO Năm cùng mười Liểu thuyết làng vh NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC'

Thứ Năm, 24 tháng 2, 2022

CHUYỆN SAU CHIẾN TRANH

     CHUYỆN SAU CHIẾN TRANH

Chuyện sau chiến tranh tôi đã viết, chuyện khắc phục hậu quả, bình xét, khen thưởng, rồi những góc khuất của cuộc chiến. Đầu năm 2021, tôi có dịp lên Cẩm Khê, Phú Thọ thăm lại người chỉ huy cũ của mình là Đại tá Hoàng Quốc Doanh, nguyên chính trị viên Tiểu đoàn 3, người đã chỉ huy trận đánh quyết tử tại thị trấn Sóc Giang ngày 20-2-1979. Ông rất vui khi gặp lại chiến sĩ cũ của mình. Tôi và ông cùng ôn lại những ngày chiến trận năm xưa. Ngoài 80 tuổi rồi mà giọng ông vẫn sang sảng. Trong câu chuyện ông vẫn còn bức xúc về việc sau chiến tranh người hèn nhát lại được thăng hàm, bổ nhiệm chức vụ, rồi chuyện có một đơn vị “nhanh nhẹn” nhận vơ chiến công của Tiểu đoàn 3 để được khen thưởng cao. Ông còn kể thêm cả chuyện khi về nghỉ hưu được bầu là đại biểu đi dự đại hội đảng bộ huyện đã đứng lên kiên quyết phản đối, đòi gạt bỏ hai vị cán bộ chủ chốt địa phương ra khỏi danh sách đề cử vào ban chấp hành mới vì không xứng đáng. Tính cách của ông vẫn thế, thẳng thắn, bộc trực, kiên quyết như ngày nào còn là người chỉ huy chiến đấu của chúng tôi.
Ngày ấy, sau khi bọn xâm lược rút lui về bên kia biên giới chúng tôi trở lại Sóc Giang. Việc đầu tiên là chiếm lĩnh lại trận địa, củng cố công sự, hầm hào và truy quét bọn tàn quân. Tuy được tiếp tế nhưng lính tráng vẫn còn thiếu đói lắm. Một hôm đi truy lùng bọn tàn quân địch, tiểu đội trưởng Hà Trung Lợi và mấy chiến sĩ phát hiện có một con chó hoang đang chạy ở khe núi liền nổ súng bắn với ý định lấy thịt ăn. Khi chạy đến chỗ con chó bị bắn chết thấy mồm nó vẫn đang ngậm một bàn tay người, không thằng nào dám đem về làm thịt nữa. Chúng tôi lấy được một cây bắp cải dưới chân chốt đem về bóc ra thấy cũng có mấy đốt xương ngón tay người chết. Một buổi tối trời mưa rào, ếch nhái kêu râm ran. Tôi khoác chéo khẩu AK sau lưng cầm đèn pin ra cánh đồng bên trái bản Nà Nghiềng. Tôi tóm được khá nhiều ếch đang ôm nhau trong mùa sinh sản. Một đôi ếch rất to ôm nhau nhảy xuống một cái hố. Tôi liền nhảy xuống cái hố khua tay mò bắt ếch. Tôi kinh hãi khi mùi tử khí bốc lên và tay mình chạm vào một bộ xương người. Có một xác chết không biết là ta hay địch, hay dân thường đang nằm dưới hố nước… Tôi kể lại những chuyện này muốn nói về sự khốc liệt, kinh khủng của cuộc chiến tranh năm ấy.
Mãi mười lăm năm sau (1994), tôi mới có dịp trở lại thăm thị trấn Sóc Giang. Chỉ tiếc là do điều kiện công tác nên tôi chỉ đến được khu vực hang Huyện ủy, bây giờ là đồn biên phòng Sóc Giang, đi qua các bản Cốc Sâu, Kép Ké, Cốc Vường, Nà Sác, lên cửa khẩu Bình Mãng, không sang được bản Nà Nghiềng, xuống được bản Nà Cháo. Hà Quảng, Sóc Hà, Sóc Giang bây giờ đã thay đổi rất nhiều, vết tích chiến tranh đã mờ phai. Khi đi qua thị trấn Sóc Giang tôi ước mong tại đây có một tấm bia (nhỏ thôi) ghi lại chiến công oanh liệt của Tiểu đoàn 3 và nhân dân Hà Quảng trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tổ quốc năm 1979.
Cũng đúng sau mười lăm năm, khi làm báo, tôi có dịp đi công tác qua đất nước Trung Hoa. Máy bay “tăng-bo” tại Bắc Kinh. Khi còn đang ở Hồng Kông, chúng tôi được trưởng đoàn thông báo: “Hiện chúng ta đang phản đối việc Trung Quốc xây dựng các công trình ở quần đảo Hoàng Sa nên khi qua Bắc Kinh ta sẽ về nghỉ tại cơ quan tùy viên quốc phòng và đại sứ quán Việt Nam”. Tôi nghĩ: “Phản đối họ gay gắt thế thì ai còn đón tiếp nữa?”. Nhưng khi đến Bắc Kinh tôi đã thấy một đoàn xe ô tô rất sang ra tận chân cầu thang máy bay đón. Đoàn Bộ Quốc phòng nước ta được Bộ Quốc phòng Trung Quốc đón về khách sạn nghỉ ngơi và đi tham quan thành phố. Tuy không phải là thăm chính thức nhưng Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Trì Hạo Điền vẫn tổ chức tiếp và chiêu đãi trọng thị Bộ trưởng Quốc phòng nước ta. Tôi và anh phóng viên Truyền hình quân đội được đón vào nhà khách của họ trước. Khi hai chúng tôi đến đã thấy trong phòng khách rộng có rất đông các phóng viên Trung Quốc. Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc cũng đã đến trước và đang ngồi ở ghế bành trên bục rất xa. Tôi và anh phóng viên Truyền hình quân đội vội lấy máy quay phim, máy ảnh đứng vào giữa đám đông các phóng viên. Đột nhiên, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc đứng dậy. Ông đi xuống rẽ đám phóng viên trong nước đến bắt tay tôi và anh phóng viên Truyền hình quân đội ta. Tôi và anh phóng viên Truyền hình quân đội rất ngạc nhiên. Đến lúc ngồi vào bàn tiệc chiêu đãi, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc lại nói:
- Trong đoàn Việt Nam đi thăm Triều Tiên lần này chỉ có hai thành viên là khác với đoàn đã sang thăm Trung Quốc vừa qua!
Thì ra, họ nắm rất chắc về thành phần của đoàn ta. Anh Toàn, ở Văn phòng Bộ Quốc phòng ngồi cạnh ghé tai tôi khẽ nói nhỏ: “Kiểu này có khi họ biết rõ cả chuyện hai anh em mình hồi năm 1979 đã từng đánh nhau với họ ở biên giới phía Bắc đấy!”. Tôi gật đầu khẽ đáp: “Có lẽ thế anh ạ!”. Tôi và anh Toàn là hai thành viên thay thế hai người trong đoàn đã đi thăm Trung Quốc tháng trước. Họ hiểu rõ về mình như vậy, lại chung đường biên giới với nước mình nên dù hiện nay đã quan hệ hữu hảo, biên giới bộ đã cắm mốc, phân định rõ ràng, nhưng chủ quyền đất nước thì bất cứ thời điểm nào cũng không thể không cảnh giác, sẵn sàng...
Hà Nội, ngày 23/2/2022
TRỌNG BẢO
Ảnh chụp ở Bắc Kinh-Trung Quốc 1994.
Có thể là hình ảnh về 3 người, mọi người đang đứng và ngoài trời

NHỮNG NGÀY GIAN KHỔ

     NHỮNG NGÀY GIAN KHỔ

Những này chiến đấu ác liệt tại thị trấn Sóc Giang tôi chưa bao giờ thấy hoảng sợ, hoang mang vì xung quanh mình luôn có người chỉ huy như chính trị viên tiểu đoàn Hoàng Quốc Doanh. Tôi chấp hành mọi mệnh lệnh của anh và luôn thấy yên tâm. Nhưng tôi thấy hoang mang, lo lắng, bi quan thực sự khi bị “cắt đuôi” lạc khỏi đội hình trong đêm vượt qua Thông Nông sang huyện Nguyên Bình. Hôm đó đã gần sáng, sương mù còn mù mịt dày đặc, cách một hai mét không nhìn rõ nhau. Lúc đơn vị vượt qua đường quốc lộ thì bộ phận đi sau đội hình cơ quan tiểu đoàn bộ của tôi không bám được bị “cắt đuôi”, lạc đường. Chúng tôi đi loanh quanh mãi trong một thung lũng nhỏ mà không xác định được đội hình đi phía trước đang ở hướng nào? Khi trời sáng dần, tiếng xe cơ giới của quân địch gầm rú nghe rất rõ, rất gần. Tôi và số anh em bị lạc cụm lại trong một hẻm núi. Tôi cố bình tĩnh nói với anh em:
- Theo kế hoạch đã phổ biến thì chúng ta phải vượt qua đường quốc lộ mới sang được dãy núi ở hướng huyện Nguyên Bình. Bây giờ, chúng ta phải xác định tuyến đường từ thị xã Cao Bằng lên huyện lỵ huyện Thông Nông để vượt qua.
- Nhưng hướng có đường quốc lộ là hướng nào! Hay là đợi khi trời sáng hẳn chúng ta hãy đi?
Một chiến sĩ nêu ý kiến. Tôi bảo:
- Đợi khi trời sáng hẳn thì bọn Trung Quốc sẽ phát hiện ra chúng ta ngay rất nguy hiểm. Chúng ta đang ở rất gần một điểm chốt của chúng nó đấy, phải đi ngay bây giờ mới kịp. Cứ nhằm hướng có tiếng động cơ xe tăng, xe cơ giới của bọn địch mà tiếp cận thì nhất định sẽ tìm ra con đường lên thị trấn Thông Nông.
Cách xác định con đường của tôi là chính xác nhưng rất nguy hiểm vì sẽ phải vượt qua đoạn đường mà bọn địch đang hành quân, rất có thể sẽ bị chúng phát hiện và tiêu diệt. Không ai thông thạo địa hình khu vực này. Chúng tôi không đủ sức và đủ đạn để mở đường máu rút lui. Nhưng không còn cách nào khác. Khi sương mù vẫn còn dày đặc, chúng tôi quyết định cơ động về hướng có nhiều tiếng động cơ của xe tăng, xe cơ giới của bọn địch đang gầm rú.
Chúng tôi lặng lẽ bám theo nhau đi ngay dưới chân điểm chốt của bọn lính Trung Quốc đang phòng ngự.
Đúng như tôi dự đoán, chúng tôi đã tìm ra con đường quốc lộ từ thị xã Cao Bằng đi qua Mỏ Sắt lên thị trấn huyện Thông Nông. Nhưng bọn địch đang hành quân trên đường. Những chiếc xe tăng, xe chở quân nối đuôi nhau chạy xuôi về hướng Hòa An và thị xã Cao Bằng. Bọn địch đã đánh chiếm được huyện Thông Nông không gặp sự kháng cự nào đáng kể của quân ta. Bộ phận của chúng tôi chia thành các tốp nhỏ, mỗi tốp ba, bốn người chờ khi một đoàn xe hay một đội hình hành quân của bọn địch đi qua là lao sang bên kia đường. Tốp vượt sang được bên kia đường sẽ trụ lại ở địa hình có lợi yểm hộ cho anh em vượt sau. Tôi đi ở tốp cuối cùng suýt nữa thì bị bọn địch phát hiện. Tưởng bọn địch đã đi qua hết, chúng tôi liền vượt sang đường. Một chiếc xe vận tải của địch bị chết máy hay là bọn chúng dừng lại làm gì đó ở dưới đoạn suối ngầm khuất sau quả đồi nhỏ bất ngờ nổ máy lao đến. Ánh đèn pha rọi sáng trưng rõ cả mặt đường lổm ngổm sỏi đá. Mấy anh em chúng tôi vội đổ người lăn xuống rãnh mương đầy cây gai xấu hổ bên đường trước khi ánh đèn pha xe ô tô của bọn Trung Quốc rọi đến chỗ vừa vượt qua. Tôi úp mặt xuống lòng mương lạnh lẽo nằm im nhưng nòng súng ghếch lên sẵn sàng nhả đạn nếu bị địch phát hiện. Khi chiếc xe chở bọn lính Tàu khuất sau khúc cua chúng tôi mới bật dậy đi tiếp.
Tất cả các tốp đã vượt qua đường. Chúng tôi nhanh chóng cơ động đến chân dãy núi và lẩn vào các khe đá, hốc đá leo ngược lên con đường mòn dốc đứng. Cả bọn lên đến lưng chừng núi an toàn. Nhìn xuống con đường vẫn thấy các đoàn xe cơ giới của địch hành quân. Khi trời sáng hẳn tôi kiểm tra lại đội hình hành quân có tất cả mười bốn người. Trong số đó chỉ có hai chiến sĩ thuộc trung đội thông tin và ba, bốn người thuộc cơ quan tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 3. Số còn lại là anh em thuộc các đơn vị khác của trung đoàn tôi không biết tên. Tất cả mọi người đều quần áo bẩn thỉu, mặt mũi lấm lem, hốc hác, bơ phở, đầu tóc rối bù. Có người bị thương băng còn quấn trên đầu. Người có súng, người thì không, ba lô đeo sau lưng lép kẹp. Mấy người còn không có cả ba lô, chỉ có bộ quần áo mỏng manh cùng khẩu súng hết đạn khoác trên vai. Tôi hỏi:
- Trong số anh em ở các đơn vị khác có ai quân hàm từ trung sĩ trở lên không?
- Anh hỏi để làm gì thế?
Tôi bảo:
- Hỏi để biết! Tôi quân hàm hạ sĩ. Nếu trong số anh em có ai quân hàm cao hơn, từ trung sĩ trở lên thì sẽ là người chỉ huy chung của bộ phận chúng ta!
Mấy anh em thuộc các đơn vị khác đều nói:
- Bọn em đều là binh nhất, binh nhì, chiến sĩ cả thôi. Chúng em xin chấp hành sự chỉ huy của anh!
Tôi nói:
- Vậy thì theo quy định của quân đội tôi sẽ là người chỉ huy chung. Anh em phải chấp hành mệnh lệnh của tôi. Tất cả chúng ta bây giờ là một tiểu đội, sống chết, đói no có nhau, khi chiến đấu sát cánh bên nhau. Chúng ta sẽ hành quân đi tìm đội hình của tiểu đoàn, trung đoàn.
- Vâng! Chúng em sẽ đi theo anh, chấp hành mệnh lệnh của anh.
Các chiến sĩ đáp. Tôi tổ chức lại đội hình, đảm bảo người có vũ khi, người không có vũ khí đi gần nhau, khi chạm địch thì bảo vệ, hỗ trợ được cho nhau. Lựu đạn và đạn súng bộ binh còn lại chia cho nhau. Đoạn, tôi dẫn các chiến sĩ tiếp tục cuộc hành quân trong vòng vây của quân thù. Chúng tôi lang thang trên triền những dãy núi đá vôi trơ trụi. Đói khát. Gian khổ. Giá rét. Kiệt sức. Rồi chạm địch, có người hy sinh, có người lại bị thất lạc tiếp. Tôi và số anh em còn lại ngày đi, đêm nghỉ. Có lúc thì đêm đi, ngày ẩn nấp trong các khe núi, hang đá tránh bị quân địch phát hiện, có thời cơ thì lần xuống suối lấy nước, vào nhà dân các bản gần chân núi, nơi dân đang sơ tán tìm kiếm, xin lương thực. Những bắp ngô, bó quả đỗ tương phơi khô xin được của dân bản chúng tôi tẽ lấy hạt tìm cách rang chín làm lương khô chia nhau ăn lấy sức hành quân. Nhiều bản bà con cho các bó lúa nhưng chúng tôi không lấy vì trên đường hành quân không làm cách nào thành gạo để nấu cháo, nấu cơm. Một lần qua chỗ bọn địch vừa rời đi chúng tôi nhặt được một túi củ cải phơi khô nhưng không dám ăn sợ bị bỏ thuốc độc. Bọn xâm lược Trung Quốc này cũng nghèo. Anh em thu được ba lô của chúng không tìm thấy một miếng lương khô hay thứ gì ăn được?
Chúng tôi cứ quanh quẩn mãi mà không tìm được đường ra khỏi huyện Thông Nông vì tuyến đường độc đạo sang Nguyên Bình có bọn địch chốt chặn. Đến khi gặp được bộ phận của Đại đội 11 của trung úy Tuân thì chúng tôi chỉ còn bảy người. Dưới sự chỉ huy chung của trung úy Tuân chúng tôi cùng dân quân tổ chức phòng ngự tại thung lũng Táp Ná, Thông Nông. Tại đây tôi đã phải uống bát nước pha thuốc phiện để trị bệnh tiêu chảy cấp khi bị bọn địch truy đuổi sát sau lưng. Anh em dân quân Táp Ná chia ngọt sẻ bùi và sát cánh chiến đấu cùng bộ đội.
Sau mấy lần cử các tổ vượt vòng vây đi tìm tiểu đoàn không thành công, bị quân địch bắn chết, hoặc khi họ vượt được ra ngoài vòng vây rồi không quay lại nữa, trung úy Tuân quyết định giao nhiệm vụ cho tôi dẫn một tổ tiếp tục lên đường đi tìm đội hình của Tiểu đoàn 3. Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ và được chỉ huy tiểu đoàn giao cho đi trước cùng trinh sát đưa đơn vị quay trở lại thị trấn Sóc Giang…
Hà Nội, ngày 22/2/2022
TRỌNG BẢO
Có thể là hình ảnh về 2 người, mọi người đang đứng và ngoài trời