Thứ Năm, 13 tháng 1, 2022

Ghi chép NHỚ VỀ HÀ QUẢNG

      NHỚ VỀ HÀ QUẢNG

11-HUYẾT TRẬN SÓC GIANG (phần 1)

Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của bọn bành trướng Trung Quốc đã bước sang ngày thứ ba. Tiểu đoàn 3 của chúng tôi tuy đã bị thiệt hại nặng vẫn trụ vững, nhưng lực lượng của Đại đội 11 ở các chốt tiền tiêu phía cửa khẩu Bình Mãng còn rất ít. Khoảng 5 giờ sáng ngày 19-2, bọn địch chiếm mỏm ĐKZ, đến trưa cùng ngày thì chúng chiếm được phần lớn chốt cây đa thứ nhất của Đại đội 11. Tuy vậy, chúng cũng không thể tiến sang được chốt cây đa thứ hai vì vấp phải sự chặn đánh rất quyết liệt của bộ đội ta.
Tại chốt cây đa thứ nhất bộ đội đang đánh giáp la cà với quân địch và khẩn thiết yêu cầu tiểu đoàn cho pháo cối bắn trùm lên trận địa. Những người lính cuối cùng đã ngã xuống, hỏa lực cối 82 của Đại đội 12 bắn trùm lên những vị trí đang lúc nhúc quân bành trướng xâm lược.
Đến tối 19-2, chỉ huy tiểu đoàn quyết định rút lực lượng còn lại của Đại đội 11 về khu trường cấp 1+2 thị trấn Sóc Giang xây dựng trận địa phòng ngự. Như vậy là toàn bộ tuyến phòng ngự phía trước là các chốt cây đa thứ nhất, chốt cây đa thứ hai và mỏm ĐKZ đã lọt vào tay quân Trung Quốc xâm lược. Tuy vậy, tại mỏm 1 của chốt cây đa thứ nhất vẫn có tiếng súng bộ binh của quân ta kiên cường kháng cự. Đến đêm, khi các chiến sĩ trinh sát bò lên kiểm tra mới biết binh nhất, chiến sĩ Lý Mý Sùng, dân tộc Mông, quê ở Hà Giang vẫn bám trụ suốt cả ngày giữ vững mỏm 1 chốt cây đa thứ nhất. Nguyên do là bởi tối hôm trước một chiến sĩ khi lên gọi Lý Mý Sùng rút về chốt cây đa thứ hai đã bị trúng đạn hy sinh ngay gần đó. Không nhận được lệnh rút lui, Lý Mý Sùng một mình một khẩu súng máy, dù không được tiếp tế, không thức ăn nước uống gì vẫn cứ trụ lại đến cùng chiến đấu đẩy lui nhiều đợt tấn công của quân địch, giữ vững trận địa suốt ngày 19-2. Đến tối, các chiến sĩ trinh sát phải băng qua làn lửa đạn bò lên kéo chân gọi Lý Mý Sùng mới biết để rút về phía sau theo đơn vị.
Bọn địch đã hình thành thế bao vây chặt Tiểu đoàn 3 chúng tôi. Từ phía cửa khẩu Bình Mãng bộ binh, xe tăng quân giặc lúc nhúc tiến xuống đến gần khu vực bản Cốc Vường. Từ phía Đôn Chương pháo địch bắn dội lên. Bộ binh, xe tăng địch đã xuất hiện ở tuyến đường từ ngã ba Đôn Chương lên thị trấn Sóc Giang. Bọn địch cũng đã vượt qua được Nậm Lũng, Trường Hà tiến xuống đánh chiếm khu vực ngã ba Đôn Chương. Đơn vị pháo lựu 122 ở khu vực Cốc Sâu bị bọn địch đánh tập hậu từ ngã ba Đôn Chương lên phải kéo pháo ra mặt đường ngắm bắn xe tăng của chúng. Hết đạn họ đã phá hủy pháo rút lên dãy núi đất chiến đấu cùng bộ binh. Phía Mỏ Sắt, Thông Nông trinh sát báo về quân địch đang gấp rút hành quân ngược lên thị trấn Sóc Giang mà không gặp bất cứ sự chặn đánh nào.
Sau này chúng tôi mới biết dọc tuyến biên giới bọn địch phá đá làm đường đưa xe tăng lên núi. Khi pháo binh đang bắn dứt chúng đã thả trôi xe tăng sang đất ta. Xe tăng địch chạy vào thị trấn Thông Nông rồi ta mới biết nhưng không thông báo được cho các đơn vị tuyến sau vì đường dây thông tin bị cắt đứt. Những chiếc xe tăng quân địch bôi bùn đất che hai chữ “Bát-nhất”, cắm cờ đỏ sao vàng chạy xuống tận huyện lỵ Hòa An. Nhân dân hai bên đường còn tưởng là xe tăng quân ta diễn tập kéo ra xem. Đoàn xe tăng địch gặp lực lượng của Sư đoàn 346 phục kích chặn đánh tại Bản Sảy, xã Bế Triều, huyện Hòa An. Trận đánh ở Bản Sảy ngày 18-2 quân ta tiêu diệt 12 xe tăng, 150 tên địch. Đây chính là mũi tiến công của quân định thọc sâu vào vị trí chỉ huy của Sư đoàn 346 và tiến thẳng về thị xã Cao Bằng.
Tại điểm cao 505 ngay phía trên trận địa của Đại đội 10 xuất hiện lực lượng trinh sát đặc nhiệm sơn cước, thám báo của địch. Vậy là ba bên, bốn phía quân thù đang dồn đến. Thị trấn Sóc Giang như một ốc đảo chơ vơ giữa “biển người” của quân bành trướng xâm lược. Trong khi đó kể từ ngày 18-2, Tiểu đoàn 3 chúng tôi không còn nhận được bất cứ sự chi viện nào của cấp trên kể cả về lực lượng, hỏa lực và lương thực, đạn dược. Việc vận chuyển thương binh về phía sau cũng không thể thực hiện được nữa. Sở chỉ huy của trung đoàn và các trận địa pháo, các đơn vị ở phía sau đều bị bọn địch chia cắt tấn công dữ dội, phải chịu rất nhiều thiệt hại. Các đơn vị trực thuộc trung đoàn và phối thuộc đều bị bao vây cô lập phải độc lập chiến đấu rất quyết liệt với bọn giặc đông gấp bội, không thể chi viện cho nhau được nữa.
Không biết chúng tôi còn giữ được thị trấn Sóc Giang bao lâu nhưng chắc chắn là những ngày tiếp theo sẽ diễn ra những trận đánh vô cùng ác liệt. Giữa vòng vây trùng trùng lớp lớp của quân thù thế này chúng tôi khó có thể thoát ra, những người còn sống sót sau trận đánh cuối cùng cũng sẽ không còn đường rút lui. Nghĩ vậy nhưng tự dưng tôi cảm thấy không còn sợ hãi và lo lắng nhiều như những ngày đầu nữa. Hình như tất cả mọi người có mặt trong hang đều có cảm nhận và suy nghĩ như vậy. Có lẽ mọi người cũng như tôi đều nghĩ ngày mai nhất định mình sẽ quyết chiến một trận với bọn xâm lược và nhất định sẽ chết ở cái thị trấn miền biên ải này nên không ai còn thấy lo lắng sợ hãi nữa. Chúng tôi nhắc nhau sẽ bắn đến viên đạn cuối cùng nhưng sẽ để lại cho mình một quả lựu đạn cuối cùng.
Tình hình tạm lắng xuống tôi mới có chút thời gian để ghi chép tình hình trong ngày. Chút mực tím trong lọ penexlin sắp hết. May là tôi còn mấy cái bút chì vốn là “học cụ” được cấp để ghi và dịch điện huấn luyện chuyên ngành thông tin vô tuyến. Ánh sáng trong hang hơi tối nhưng tôi vẫn nhận ra chính trị viên Hoàng Quốc Doanh. Anh đang đi đi lại lại giữa hang vẻ suy tư. Khi tôi đang cắm cúi ghi chép thì có người vỗ nhẹ trên vai. Tôi ngẩng đầu lên nhận ra là chính trị viên Hoàng Quốc Doanh. Theo phản xạ của người lính tôi định đứng dậy trước người chỉ huy thì anh bảo:
- Viết gì thì cứ viết đi...
Đoạn, anh đi qua chỗ các thương binh đang nằm ngồi dựa vào vách hang. Anh hỏi chuyện một chiến sĩ bị thương vào tay, căn dặn mấy chiến sĩ vận tải vừa đi chuyển thương về. Giữa lúc đó thì trợ lý tham mưu tiểu đoàn Bùi Đức Thọ đến báo cáo. Chắc là có việc khẩn cấp nên chính trị viên Hoàng Quốc Doanh vội theo trợ lý tham mưu Thọ đi ra phía cửa hang chính.
Đêm 19-2, Tiểu đoàn 3 nhận được bức điện của chỉ huy Trung đoàn 246 qua tổ đài vô tuyến 2W: “Trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn 3 cơ động lực lượng, rút lui về phía nam cao điểm 505 tổ chức trận địa phòng ngự”. Đảng ủy tiểu đoàn lập tức tiến hành họp phiên bất thường ngay sau đó. Tham dự cuộc họp có đại úy Đàm Đình Ngữ, trung đoàn phó, tham mưu trưởng Trung đoàn 246 đang có mặt trực tiếp theo dõi chỉ huy chiến đấu tại Tiểu đoàn 3. Đảng ủy tiểu đoàn ra nghị quyết “xin được tiếp tục ở lại chiến đấu bảo vệ thị trấn Sóc Giang, ngăn chặn bước tiến của quân xâm lược Trung Quốc”. Quyết tâm ấy đã được báo cáo về trung đoàn ngay trong đêm cũng qua mạng thông tin vô tuyến điện 2W. Trung đoàn đồng ý với quyết định của Tiểu đoàn 3. Ngay sau đó liên lạc bằng vô tuyến điện 2W với chỉ huy trung đoàn cũng bị mất hẳn luôn.
Từ vị trí chỉ huy của Tiểu đoàn 3 cũng chỉ còn liên lạc với các đơn vị trực thuộc được bằng các máy vô tuyến điện sóng cực ngắn 884 của tiểu đội tôi là chủ yếu. Các tuyến đường dây lên các trận địa đã bị đạn pháo băm nát không khắc phục được nữa. Các chiến sĩ hữu tuyến và một số anh em tiểu đội truyền đạt được biên chế vào các bộ phận trực tiếp chiến đấu và tăng cường cho các đơn vị. Tổ đài vô tuyến điện đảm bảo thông tin cho Đại đội 11 của chiến sĩ Châu cũng đã được rút về hang huyện ủy. Do đó, tại sở chỉ huy tiểu đoàn bây giờ có hai máy 884 và ba chiến sĩ thông tin tương đối giỏi nên tôi thấy yên tâm hơn. Trung đội trưởng Phạm Hoa Mùi giao lại cho tôi ba khối pin dự trữ cuối cùng. Tôi giữ lại một khối cho máy vô tuyến ở sở chỉ huy tiểu đoàn, gửi cho tổ đài ở Đại đội 10 và Đại đội 12 mỗi tổ một khối pin dự trữ. Tôi căn dặn anh em phải hết sức tiết kiệm nguồn pin để luôn giữ vững liên lạc phục vụ chiến đấu.
Buổi sáng ngày 20-2, tự dưng trời hửng nắng. Tiếng đạn pháo, tiếng súng bộ binh cũng lắng đi một lát. Tôi chui ra bên ngoài cửa hang chính quan sát. Thị trấn Sóc Giang bỗng bình yên lạ thường. Bản Nà Nghiềng nằm gần điểm chốt của Đại đội 10 có nhiều cây cổ thụ nên xanh biếc. Mùa xuân đã đến rồi. Tiếng con suối chảy rì rào phía bên kia cánh đồng. Có một tiếng gà gáy từ dưới bản vọng lên... Thị trấn Sóc Giang nếu không có cảnh đổ nát hoang tàn, cây cối ám khói, những hố đạn pháo lỗ chỗ trên mặt đường thì chẳng ai nghĩ ở nơi này đang xảy ra một cuộc chiến tranh vô cùng khốc liệt.
Thị trấn Sóc Giang đã trở thành một “Tọa-độ-lửa” như chúng tôi đã gọi sau mấy ngày chiến tranh. Mọi hỏa lực của quân giặc đều tập trung rót lửa vào Sóc Giang. Không một thân cây, một ngôi nhà trong thị trấn còn nguyên vẹn. Kẻ thù đang bủa vây bốn phía. Mọi nòng súng của chúng đều hướng vào thị trấn Sóc Giang, nơi đang những người lính Tiểu đoàn 3 vẫn kiên cường bám trụ.
Khi trời chưa sáng hẳn, thị trấn có một khoảng thời gian yên hẳn tiếng súng. Có lẽ bọn địch đang điều động lực lượng, tổ chức hiệp đồng để đánh một trận quyết định vào thị trấn, quyết tiêu diệt gọn tiểu đoàn chúng tôi.
Cái khoảng lặng lúc này giống như giữa một vùng tâm bão. Thị trấn Sóc Giang đổ nát, cháy sém, khắp nơi còn vương khói lửa tựa như một người lính bị trọng thương vẫn kiên cường trụ vững và sẵn sàng lao vào một trận đánh quyết liệt mới.
Tôi quay lại chỗ cửa hang phụ, nơi bộ phận thông tin đang đặt máy vô tuyến điện. Hai bên thành hang các chiến sĩ trinh sát, thông tin, vận tải chưa phải đi làm nhiệm vụ và các thương binh đang tranh thủ ngồi dựa vào vách đá ngủ gà ngủ gật. Họ đã quá mệt mỏi, đói khát sau ba ngày chiến đấu ác liệt và suốt đêm đi chuyển thương, đào huyệt mai táng liệt sĩ, củng cố công sự trận địa. Nhìn những người đồng đội súng dựa vào vai ngủ ngồi trong lòng tôi bỗng thấy nôn nao khó tả. Bởi vì, chỉ sau một vài tiếng sau thôi trong số những người đồng đội ấy nhiều người tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại nữa. Và có thể chính tôi cũng sẽ không còn được gặp lại họ nữa?
Sau ba ngày đọ sức quyết liệt với quân xâm lược đông đảo, Đại đội 11 bị đánh bật khỏi các chốt cây đa số một và cây đa số hai hướng cửa khẩu Bình Mãng. Ban chỉ huy đại đội hy sinh gần hết. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 11 bị thương vong quá nhiều phải rút lui về phòng ngự ở trường cấp 1+2 Sóc Giang, gần vị trí hang sở chỉ huy của tiểu đoàn. Đại đội 9 tiếp tục bảo vệ trận địa Kéo Nghìn và khu vực uỷ ban nhân dân huyện Hà Quảng. Đại đội 10 thì vẫn phòng ngự ở mỏm đồi đất bên dưới điểm cao 505 án ngữ con đường từ ngã ba Đôn Chương lên thị trấn huyện lỵ Hà Quảng.
Cả buổi sáng ngày 20-2, bọn địch từ hướng Đôn Chương nống lên tập kết ở phía các bản Cốc Sâu, Kép Ké. Bọn chúng bắn pháo và tổ chức hai đợt tấn công có tính chất thăm dò không ác liệt lắm vào trận địa của Đại đội 10.
Đài quan sát báo cáo phát hiện có nhiều bộ binh, xe tăng địch từ Đôn Chương đang tiếp tục hành tiến lên tập kết ở khu vực các bản Cốc Sâu, Kép Ké. Phía cửa khẩu Bình Mãng bộ binh và xe cơ giới Trung Quốc cũng đang tiến xuống. Hướng Mỏ Sắt bộ binh địch đã hành quân qua Quý Quân lên, áp sát bản Nà Cháo. Bọn lính đặc nhiệm sơn cước, thám báo xuất hiện tại điểm cao 505 phía trên các điểm chốt của Đại đội 10. Tại sở chỉ huy tiểu đoàn trong hang huyện uỷ giữa thị trấn Sóc Giang lúc này chỉ còn có thượng uý Hoàng Quốc Doanh, chính trị viên tiểu đoàn là người chỉ huy cao nhất. Tiểu đoàn trưởng Trần Tất Thiêm từ đêm hôm trước nói là đi kiểm tra đốc chiến các đơn vị đã rời khỏi vị trí chỉ huy của tiểu đoàn tại hang huyện ủy lên trận địa của Đại đội 12 hoả lực tít trên Lũng Vỉ. Lũng Vỉ ở trên dãy núi đá cao, vách núi dựng đứng, hiểm trở, chỉ có một lối mòn độc đạo lên núi, bọn địch chưa thể tấn công lên đấy được.
Bọn địch đã hình thành thế bao vây Tiểu đoàn 3 chúng tôi từ bốn phía. Liên lạc từ vị trí chỉ huy của tiểu đoàn với các đơn vị chỉ còn đảm bảo được nhờ các đài sóng cực ngắn 884 do tôi phụ trách. Mệnh lệnh chiến đấu của chỉ huy tiểu đoàn, báo cáo tình hình của các đơn vị đều được chúng tôi truyền đạt đầy đủ, thông suốt. Có nhiều lúc tôi cũng cuống cả lên vì tình hình khẩn cấp từ các hướng mà tôi trực tiếp nghe qua các máy vô tuyến 884 điện báo về. Trong khi đó, tiểu đoàn trưởng Trần Tất Thiêm từ mãi trên đỉnh núi đá cao cũng cứ liên tục điện về chỉ đạo hành động của các cán bộ tại hang huyện ủy. Tôi phải chạy đi chạy lại từ cửa hang phụ vào giữa hang để truyền đạt lại ý kiến của tiểu đoàn trưởng với chính trị viên Hoàng Quốc Doanh. Lúc đầu anh Doanh còn im lặng nghe với vẻ khó chịu. Sau thấy tôi cứ tiếp tục thông báo mãi ý kiến của tiểu đoàn trưởng từ trên núi truyền xuống anh nổi cáu quát:
- Mày không cần phải báo lại nữa! Ở trên núi thì biết mẹ gì tình hình đang diễn ra ở đây mà chỉ đạo... Im đi, để tao còn chỉ huy chiến đấu giữ trận địa…
Tôi hơi hoảng vì từ hôm chiến tranh xảy ra đến nay mới thấy chính trị viên tiểu đoàn Hoàng Quốc Doanh nổi cáu như vậy. Sau đó, biết là đã mắng oan tôi, lúc tình hình tạm lắng xuống anh Doanh đi đến vỗ vai tôi và nói nhỏ chỉ đủ cho tôi nghe:
- Lần sau, nghe ông ấy có ra lệnh và chỉ thị gì thì mày không cần phải báo cáo với tao nữa nhé!
Tôi nhìn anh khẽ đáp lại:
- Vâng ạ!
Anh Doanh gật đầu rồi bảo tôi:
- Mày lệnh ngay cho Đại đội 12 lấy phần tử chuẩn bị bắn là vị trí tập kết của bọn địch ở khu vực lò sấy thuốc lá bản Kép Ké nhé. Phải dập cho lũ Tàu khựa này mấy quả cối 82 để cảnh cáo bọn chúng!
Tôi lập tức thông báo cho Đại đội 12. Sau khi Đại đội 12 báo cáo chuẩn bị phần tử bắn xong anh Doanh lệnh cấp tập liền năm quả cối 82. Đài quan sát báo về đạn rơi trúng mục tiêu, quân địch nháo nhác, hoảng sợ...
Sau này gặp lại khi tôi hỏi về việc tại sao tiểu đoàn trưởng Thiêm không có mặt ở vị trí chỉ huy tiểu đoàn trong trận đánh ác liệt nhất ở “Tọa-độ-lửa” Sóc Giang ngày 20-2-1979, anh Doanh vẫn không trả lời một cách rõ ràng. Có lẽ anh không muốn nói ra một điều không hay về người đồng cấp của mình? Anh Doanh không nói nhưng tôi hiểu, chiến tranh sắt thép cũng còn phải chảy ra thành nước nữa là...
Cao Bằng - 1979
Hà Nội, 1-2022
Ghi chép của Trọng Bảo
Có thể là hình ảnh về 1 người và ngoài trời

Thứ Ba, 11 tháng 1, 2022

Ghi chép NHỚ VỀ HÀ QUẢNG

     NHỚ VỀ HÀ QUẢNG

10- VỀ HANG HUYỆN ỦY

Khoảng 1 giờ sáng ngày 18-2, chỉ huy tiểu đoàn và cơ quan tiểu đoàn bộ rời khỏi hang Ma Gà di chuyển về hang Huyện ủy. Thế trận đã thay đổi. Chỉ huy tiểu đoàn đã nắm được tình hình các hướng của mặt trận Cao Bằng.
Chỉ huy tiểu đoàn phải bỏ vị trí hang Ma Gà còn có một lý do khác. Đó là hang Ma Gà ở một ngọn núi nằm ở dãy núi đá kéo dài lên phía cửa khẩu Bình Mãng, nơi có đài quan sát và các hỏa điểm của quân bành trướng ăn rất sâu vào trong đất ta. Ngay phía sau ngọn núi có hang Ma Gà là địa phận xã Nà Sác. Khu vực các xã Nà Sác, Trường Hà là tuyến phòng ngự của Tiểu đoàn 2 cũng đang bị bọn bành trướng Trung Quốc tấn công rất ác liệt. Nếu phát hiện ra vị trí chỉ huy của Tiểu đoàn 3 bọn địch có thể sử dụng lực lượng sơn cước đặc nhiệm thọc sâu tập kích vào hang Ma Gà bất cứ lúc nào. Khi phòng tuyến của tiểu đoàn ở hướng biên giới là các chốt cây đa của Đại đội 11 bị chọc thủng thì khu vực bản Cốc Vường và hang Ma Gà sẽ bị bọn địch khống chế ngay.
Chúng tôi nhanh chóng băng qua con đường chạy qua thị trấn Sóc Giang để tránh đạn pháo địch. Nhà cửa trong thị trấn tan hoang, đầy những hố đạn, cây cối đổ ngổn ngang. Cửa hàng bách hóa bị cháy rụi, đổ nát. Hiệu sách thị trấn bị pháo địch bắn tan tành, sách vở bay trắng xóa cả mặt đường.
Về đến hang huyện ủy, chúng tôi nhanh chóng triển khai mạng thông tin vô tuyến và hữu tuyến đảm bảo cho chỉ huy tiểu đoàn chỉ huy chiến đấu. Hang huyện ủy nằm trên một mỏm núi độc lập nhỏ nhoi trơ trọi giữa thị trấn Sóc Giang. Đây là một cái hang làm nơi sơ tán của cơ quan Huyện ủy huyện Hà Quảng tránh phi pháo địch từ bên kia biên giới bắn sang. Xung quanh mỏm núi hang huyện ủy là tuyến đường quốc lộ lên cửa khẩu và các tuyến đường dân sinh. Hang huyện ủy không có các ngóc ngách, nó giống như một cái ống cống thẳng đuột, thông thống giữa lưng chừng núi. Cửa chính của hang hướng ra phía cánh đồng bản Nà Nghiềng, đối diện với đồn công an vũ trang. Ngay phía dưới cửa hang chính là nhà bưu điện, bên trái là khu chợ thị trấn. Đứng từ cửa hang chính có thể quan sát được trận địa của Đại đội 10, khu đồn công an vũ trang và các bản Cốc Sâu, Kép Ké nằm cạnh đoạn đường chạy xuôi về phía ngã ba Đôn Chương. Lối lên cửa chính của hang được xây thành các bậc đá rất dễ đi. Cửa hang phụ hướng lên phía biên giới. Lối lên cửa hang phụ dốc đứng, rất khó cơ động lên xuống nhưng có nhiều bụi cây, dây leo rậm rạp nên tương đối đảm bảo bí mật. Khi chiến tranh xảy ra, cơ quan huyện ủy Hà Quảng đã sơ tán rút hết về phía sau. Bộ phận thông tin chúng tôi trèo lên hang theo lối cửa phụ. Tổ đài vô tuyến của tiểu đội tôi đặt ở phía cửa phụ dễ triển khai mắc dây an-ten không bị ảnh hưởng địa hình lại ở trên cao và định hướng tương đối tốt về các tổ đài của các đơn vị. Chỉ sau ít phút, mạng liên lạc bằng vô tuyến điện trong tiểu đoàn đã được nối thông. Anh em trong tiểu đội tôi đang ở các đơn vị tranh thủ hỏi thăm, động viên nhau vài câu ngắn gọn để tiết kiệm nguồn pin của máy vô tuyến. Tôi thấy yên tâm vì các chiến sĩ của mình đã trụ vững, đảm bảo thông tin liên lạc và tham gia chiến đấu cùng các đơn vị.
Đêm đã về khuya. Pháo địch vẫn bắn sang nhưng thưa hơn...
Bọn địch tuy bị đánh bật khỏi chốt cây đa thứ nhất nhưng lực lượng của chúng vẫn rất mạnh. Trong khi đó phía tiểu đoàn chúng tôi đã bị thiệt hại nặng, đạn dược, lương thực cạn dần. Sự chi viện của trung đoàn rất hạn chế. Ngoài một xe đạn lúc chập tối, chúng tôi không nhận thêm được sự tiếp viện nào nữa. Chúng tôi được biết, tất cả các đơn vị của trung đoàn đều đã tham chiến. Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 bị thiệt hại nặng. Các đơn vị trong trung đoàn không thể chi viện được cho nhau. Trước tình hình đó, chỉ huy tiểu đoàn lệnh cho các bộ phận, các đại đội phải hết sức tiết kiệm đạn dược. Hỏa lực chủ yếu của Tiểu đoàn 3 là cối 82 và 12ly7. Lượng đạn cối 82 chỉ còn có vài trăm viên. Ngày đầu tiên chỉ huy và cánh lính Đại đội 12 hỏa lực tưởng cứ bắn thả cửa rồi sẽ có tiếp viện nên khi thấy bọn địch tiến ào ào dưới cánh đồng bản Nà Sác đại đội trưởng, trung úy Nông Đình Bào liền lệnh bắn cấp tập, bắn sang cả phía bên kia biên giới làm cháy một kho xăng dầu của địch. Ngọn lửa khói cháy kho nhiên liệu của bọn địch mịt mù khu cửa khẩu suốt mấy ngày liền sau đó.
Sau khi nghe Đại đội 12 báo cáo còn chưa đầy 200 viên đạn cối 82, trợ lý quân khí tiểu đoàn Cao Thành Văn báo cáo trong kho chỉ còn gần 100 viên đạn cối 82 và không đủ liều phóng, ngòi nổ tiểu đoàn trưởng Thiêm lập tức bảo tôi:
- Thông tin vô tuyến điện khẩn ngay! Thông báo cho Đại đội 12 khi có mệnh lệnh của chỉ huy tiểu đoàn mới được bắn và bắn đúng số lượng như chỉ thị! Rõ chưa?
Chính trị viên tiểu đoàn Hoàng Quốc Doanh thì căn dặn chúng tôi:
- Chúng ta còn rất ít đạn dược. Nhưng chúng ta sẽ kiên quyết chiến đấu với bọn xâm lược đến viên đạn cuối cùng. Song tất cả mọi người nhớ là phải để lại cho mình quả lựu đạn cuối cùng. Hiểu không?
Chúng tôi đều hiểu lời dặn dò của chính trị viên tiểu đoàn. Dù chết cũng không để sa vào tay quân giặc. Tiểu đoàn 3 chúng tôi chiến đấu trong vòng vây trùng điệp của quân bành trướng chỉ có người chết và bị thương, không có người bị quân địch bắt.
Mọi người trong hang huyện ủy khẩn trương chuẩn bị cho cuộc chiến đấu ngày mai và những ngày tiếp theo. Lời dặn dò của chính trị viên Hoàng Quốc Doanh về việc phải để lại cho mình quả lựu đạn cuối cùng, không được để địch bắt cứ luôn ám ảnh trong tâm trí tôi. Trong lúc chuẩn bị chiến đấu ấy thì Nguyễn Xuân Hòa, nhân viên thống kê chính trị tiểu đoàn đã đưa cho tôi một quả lựu đạn mỏ vịt nhãn hiệu US của Mỹ. Quả lựu đạn ấy luôn luôn ở bên tôi cho đến khi kết thúc cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc. Nó chưa phải dùng đến tuy đã một lần rút chốt khi bộ phận của tôi bị bọn giặc đuổi theo sát sau lưng ở thung lũng Táp Ná, Thông Nông.
Gần sáng ngày 18-2, Thượng úy Hoàng Quốc Doanh, chính trị viên tiểu đoàn đến chỗ tổ đài vô tuyến của chúng tôi ở cửa hang phụ hỏi:
- Máy vô tuyến điện chuyển về đây có đảm bảo liên lạc với các hướng có ổn không?
Tôi đáp:
- Báo cáo thủ trưởng! Máy vô tuyến điện đặt ở trên cao lưng chừng núi thế này liên lạc rất tốt. Chỉ lo là loại máy vô tuyến điện sóng ngắn 884 này của ta do Trung Quốc chế tạo, chúng hiểu rất rõ tính năng nên mở máy ra là chúng phá sóng, gây nhiễu…
Chính trị viên Doanh có vẻ lo lắng. Nhưng tôi hiểu anh tin ở tôi qua ngày đầu tiên tôi đảm bảo thông tin cho chỉ huy tiểu đoàn. Trước khi quay trở vào trong hang anh còn căn dặn tôi thêm:
- Mày phải hết sức cố gắng đảm bảo mạng liên lạc bằng vô tuyến điện nhé! Mất liên lạc lúc này là mất chốt, là thất bại đấy, là… chết hết đấy, hiểu không?
- Vâng ạ! Em sẽ cố gắng ạ!
Chính trị viên Hoàng Quốc Doanh trở vào trong hang. Hầu như suốt đêm các cán bộ chỉ huy tiểu đoàn không ngủ bàn phương án chiến đấu cho ngày hôm sau và thay nhau đi kiểm tra việc chuẩn bị chiến đấu của các đơn vị. Tiểu đoàn phó Nguyễn Quang Cương và chính trị viên phó tiểu đoàn Bùi Đức Hòe đã trực tiếp xuống các điểm chốt kiểm tra và chỉ huy chiến đấu. Tôi ôm súng gục đầu lên ba lô cố chợp mắt lấy một lát nhưng không tài nào ngủ được. Gần sáng, trời càng lạnh. Gió thổi ù ù qua hang lạnh. Tôi chui ra ngoài cửa hang phụ trèo lên một mỏm đá nhìn lên hướng biên giới. Phía cửa khẩu Bình Mãng tiếng đạn pháo của địch chốc chốc lại rộ lên, tiếng động cơ xe cơ giới của chúng gầm rú vọng về rất rõ.
Sắp sáng rồi. Ngày chiến đấu ác liệt thứ hai sắp bắt đầu. Chắc tiểu đoàn lúc này có nhiều người cũng không ngủ như tôi. Trong lòng tôi cứ thấy nôn nao. Mới qua một ngày giao chiến với kẻ thù mà bao chuyện xảy ra. Mất mát, hy sinh đã đành nhưng lòng dũng cảm, sự hèn nhát cũng đã bắt đầu lộ diện.
Một chùm đạn pháo từ phía bên kia biên giới bắn sang rơi xuống thị trấn Sóc Giang và mỏm núi hang huyện ủy. Những tảng đá to trên đỉnh núi trúng đạn pháo lớn vỡ toác lăn xuống ầm ầm. Tôi vội lao ngay vào trong cửa hang vớ lấy tổ hợp máy vô tuyến chụp lên đầu. Các đơn vị bắt đầu báo cáo tình hình về chỉ huy tiểu đoàn…
Tờ mờ sáng 18-2, bọn địch lại bắt đầu tổ chức tấn công lên trận địa chốt của Đại đội 11. Quyền đại đội trưởng, thiếu úy Trần Hữu Hoàn chỉ huy đơn vị chiến đấu kiên quyết bảo vệ trận địa, đẩy lùi các đợt tấn công của địch. Việc thiếu úy Hoàn thay thế trung úy Tuân chỉ huy Đại đội 11 giúp các cán bộ, chiến sĩ thấy vững tin, yên tâm hơn. Ngay từ tối hôm trước lãnh đạo, chỉ huy tiểu đoàn qua thông tin vô tuyến điện đã đề nghị trung đoàn cách chức vụ đại đội trưởng của trung úy Tuân vì bỏ vị trí chỉ huy của đại đội, tự ý rút lên một hang đá ở mỏm núi bên phải chốt cây đa thứ nhất. Trung đoàn không đồng ý. Đến sáng ngày 18-2 thì liên lạc qua vô tuyến điện với trung đoàn không thực hiện được nữa. Chính trị viên tiểu đoàn Hoàng Quốc Doanh sau khi trao đổi với tiểu đoàn trưởng đã quyết định điều động trung úy Tuân về cơ quan tiểu đoàn bộ và giao cho thiếu úy Trần Hữu Hoàn quyền Đại đội trưởng Đại đội 11. Thiếu úy Trần Hữu Hoàn là một người chỉ huy chiến đấu rất mưu trí, dũng cảm.
Ngày 18-2, rút kinh nghiệm ngày đầu tiên, bọn địch tổ chức tấn công liên tục vào các điểm chốt của Đại đội 11. Một ngày, các cán bộ, chiến sĩ Đại đội 11 và trung đội 3 của Đại đội 10 lên tăng cường phải gồng mình đương đầu với 8 đợt tấn công của bọn địch. Bọn bành trướng Trung Quốc ỉ vào lợi thế quân đông và hỏa lực mạnh tạo sức ép liên tục để phá vỡ tuyến phòng ngự của ta. Đại đội 11 bị thiệt hai nặng. Đến đầu giờ chiều, chỉ huy Đại đội 11 báo cáo về chốt cây đa thứ nhất lại lọt vào tay quân thù. Chỉ huy tiểu đoàn lệnh cho Đại đội 11 kiên quyết chiến đấu giữ bằng được chốt cây đa thứ hai, ngăn chặn không cho bọn địch phát triển xuống thị trấn Sóc Giang. Đến tối, bọn địch tạm ngừng tấn công cụm lại ở chốt cây đa thứ nhất. Đại đội 11 báo cáo: “Ta tiêu diệt khoảng 150 tên địch, bắn cháy 2 xe tăng của chúng. Trung đội trưởng Lê Hồng Giang chiến đấu rất dũng cảm, tiêu diệt được một chiếc xe tăng quân địch. Bảy đồng chí hy sinh, trong đó có chính trị viên phó Nguyễn Mộng Lân, đại đội phó Diệp Văn Năm”.
Bức điện của Đại đội 11 làm cho không khí trong hang huyện ủy lắng xuống, nặng nề, u ám. Quân xâm lược bị thua đau nhưng chúng ta cũng bị thiệt hại và hy sinh quá lớn. Trung úy Nguyễn Mộng Lân là học viên Trường Sĩ quan Chính trị mới từ trung đoàn bổ sung về Đại đội 11 tối hôm qua, chưa đầy một ngày anh đã hy sinh.
Đêm ngày 18-2, chuẩn úy Lê Hồng Giang lại dẫn bộ đội lên đánh chiếm lại chốt cây đa thứ nhất. Lợi dụng sương mù, bọn địch đang xây dựng trận địa, Lê Hồng Giang giao cho một cán bộ tiểu đội phụ trách trung đội rồi một mình một súng bò lên đỉnh điểm chốt cây đa thứ nhất. Anh đã bất ngờ nổ súng giữa lòng địch. Quân địch bị đánh bất ngờ không biết quân ta từ phía nào mà đối phó, chúng bắn loạn xạ trúng cả vào nhau. Trung đội của Lê Hồng Giang lợi dụng tình hình đó đánh thốc lên giành lại trận địa. Hai ngày qua, chấp hành mệnh lệnh của tiểu đoàn, chuẩn úy Lê Hồng Giang đã hai lần dẫn đơn vị tập kích lên tái chiếm chốt cây đa thứ nhất. Trước đó, trong buổi sáng 18-2, khi bọn địch tổ chức tấn công liên tục vào trận địa của Đại đội 11 và khu vực do trung đội của Lê Hồng Giang phòng ngự. Xe tăng quân địch thường đi sau lực lượng bộ binh của chúng bắn thẳng vào các tuyến phòng ngự, gây ra nhiều thương vong khiến cho bộ đội ta có chiến sĩ hoang mang, lo sợ. Trước tình hình đó, Lê Hồng Giang quyết tâm phải tiêu diệt bằng được xe tăng của địch. Do xe tăng của chúng luôn chạy ở phía sau bộ binh nên rất khó tiếp cận để bắn. Xe tăng chúng cứ vừa tiến vừa bắn vào công sự trận địa của gần đến chân chốt thì quay vòng trở lại núp sau lực lượng bộ binh. Phương châm chỉ đạo và chiến thuật “lấy người thay vũ khí, vũ khí quý hơn người” kiểu này của bọn bành trướng thật là lạ. Lê Hồng Giang đã ôm súng chống tăng lăn xuống chân đồi. Anh nằm lẫn vào đống xác chết của quân giặc. Chờ cho bộ binh địch tràn qua, chiếc xe tăng địch tiến lại gần, Lê Hồng Giang nhỏm dậy bắn liền hai quả đạn B41 tiêu diệt một xe tăng và nhiều bộ binh địch. Trúng đạn địch bị thương vào tay, Giang vẫn bò trở về được trận địa của quân ta.
Ngày hôm sau, trung đội của Lê Hồng Giang cùng các chiến sĩ Đại đội 11 tiếp tục chiến đấu bảo vệ chốt cây đa thứ nhất. Khi quân địch tràn lên anh vẫn kiên cường chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Lê Hồng Giang bị thêm nhiều vết thương và bị đất đá vùi lấp ngất đi. Khi tỉnh dậy thì một mắt anh đã bị mù, một chân bị gãy, vết thương hôm trước ở cánh tay trái bị vỡ ra, máu chảy nhiều nên tê dại hẳn đi. Trận địa đã lắng im tiếng súng. Chỉ còn một mình Giang giữa đội hình quân giặc. Suy nghĩ đầu tiên của anh là phải tìm về đơn vị. Lợi dụng bóng đêm và sương mù dày đặc Giang bò lết đi từng đoạn một. Đói khát và đau đớn nhiều lần anh ngất xỉu đi. Tỉnh dậy Giang lại dùng cánh tay phải còn lành lặn lết người bò đi. Gặp một thân cây chuối to, Giang đã phải bò không biết bao nhiêu vòng xung quanh gốc nó dùng răng gặm tước dần từng lớp bẹ, cho đến khi tới cái nõn của cây chuối ăn lấy sức bò tiếp đi tìm đơn vị. Với quyết tâm và nghị lực phi thường anh đã chiến thắng. Lê Hồng Giang đã gặp được một chiến sĩ dân tộc Mông tên là Mù A Sảng cõng tìm về đơn vị.
Ngày thứ hai của cuộc chiến tranh, bọn giặc với số lượng quân đông gấp bội và sự chi viện tối đa của các loại hỏa lực mạnh vẫn không thể chọc thủng được tuyến phòng ngự của Tiểu đoàn 3 từ hướng biên giới. Lực lượng của ta chống chọi với hai trung đoàn của địch chỉ là một đại đội và một trung đội tăng cường. Giữ vững được trận địa nhưng chúng tôi đều hiểu rằng những gì ác liệt nhất, gian khổ hy sinh nhiều nhất đang còn chờ những người lính Tiểu đoàn 3 ở những ngày tiếp theo…
Cao Bằng-1979
Hà Nội, 1-2022
Ghi chép của Trọng Bảo
Ảnh: Mỏm núi đá vôi độc lập giữa thị trấn Sóc Giang. Lưng chừng núi (chỗ vệt trắng) là hang Huyện ủy, nơi vị trí chỉ huy Tiểu đoàn 3 trong những trận đánh ác liệt với quân Trung Quốc xâm lược tháng 2-1979.
Có thể là hình ảnh về thiên nhiên và núi

Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2022

Ghi chép NHỚ VỀ HÀ QUẢNG

      NHỚ VỀ HÀ QUẢNG

LTG: Sau một thời gian phải tập trung để hoàn thành cuốn tiểu thuyết mới và trở về quê chăm sóc, hồi phục lại vườn phong lan rừng sau nhiều tháng giãn cách phong tỏa vì dịch Covid-19, từ hôm nay tôi xin trở lại với những ghi chép “NHỚ VỀ HÀ QUẢNG”. Sắp đến đến kỷ niệm 43 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc 2-1979, Nhà bia Tưởng niệm các liệt sĩ Trung đoàn 246 hy sinh tại hang Bản Giới (Hà Quảng, Cao Bằng) cũng sắp hoàn thành. Mong ghi chép này sẽ là một nén hương tưởng nhớ tới những người đồng đội đã ngã xuống ở biên cương năm ấy (TRỌNG BẢO).
9- TRẬN ĐẦU GIAO CHIẾN
Lúc đó là khoảng 5 giờ sáng ngày 17-2-1979. Trời còn mù mịt sương đêm.
Xe tăng và bộ binh Trung Quốc tràn qua biên giới. Bọn địch chia làm ba mũi tấn công sang chốt cây đa thứ nhất của Đại đội 11. Mũi chính diện gồm xe tăng và bộ binh vượt qua cửa khẩu Bình Mãng dọc theo bờ suối, mũi thứ hai từ triền núi đá tràn xuống, mũi thứ ba từ bản Nà Sác đánh lên.
Những chiếc xe tăng nhãn hiệu “Bát-nhất” bò lổm ngổm như lũ cua trên cánh đồng. Hàng ngàn tên giặc bành trướng đen đặc, lúc nhúc như một đám giòi bọ bu bám dưới chân các điểm chốt của Đại đội 11. Bọn chúng hò hét tràn lên trận địa của ta. Tiếng kèn còi xung trận của bọn Tàu ò e, tiếng súng râm ran khắp cánh đồng. Đạn pháo từ bên kia biên giới vẫn bắn sang rất dữ dội. Đất đá, khói bụi bay mù mịt. Nguy hiểm nhất là bọn địch ở trên mỏm núi cao phía trên trận địa của Đại đội 11. Bọn chúng dùng súng 12ly7, cối 60 dội lửa trực tiếp xuống đầu bộ đội ta. Mỏm núi đá này ăn sâu vào đất ta, có hệ thống các lô cốt rất kiên cố. Theo hiệp định phân định biên giới giữa Pháp và nhà Thanh trước đây thì đoạn biên giới chỗ cửa khẩu Bình Mãng có mỏm núi đá cao rất sâu vào đất ta này lại thuộc địa phận Trung Quốc. Lẽ ra mỏm núi này phải là lãnh thổ của Việt Nam mới đúng. Từ trên mỏm núi ấy bọn địch đặt đài quan sát và các ổ hỏa lực mạnh có thể khống chế toàn bộ các điểm chốt cây đai thứ nhất, chốt cây đã thứ hai cho đến tận các bản Cốc Vường, bản Kéo Nghìn. Các chiến sĩ Đại đội 11 vận động dưới chiến hào sâu lút đầu người vẫn có thể bị trúng đạn bắn tỉa của bọn địch từ trên cao bắn xuống…
Tiểu đoàn trưởng Thiêm lệnh cho Đại đội 11 nổ súng kiên quyết chặn đánh quân xâm lược, bảo vệ trận địa... Tình hình căng thẳng. Bọn Trung Quốc tấn công rất dữ dội. Tiểu đoàn trưởng Trần Tất Thiêm là người rất nóng tính vừa ra lệnh vừa văng tục quát mắng cấp dưới ầm ĩ. Chính trị viên tiểu đoàn Hoàng Quốc Doanh thì điềm tĩnh hơn nhưng cũng rất kiên quyết khi chỉ huy bộ đội. Bộ phận đảm bảo thông tin liên lạc của chúng tôi là những người bị quát mắng nhiều nhất vì liên quan trực tiếp đến việc truyền đạt mệnh lệnh của chỉ huy tiểu đoàn với các đơn vị. Các chiến sĩ hữu tuyến điện phải lao ra khỏi hang nối đường dây đứt liên tục vì đạn pháo. Tiểu đội truyền đạt cũng thay nhau chạy lên trận địa chốt cây đa của Đại đội 11. Hạ sĩ Nguyễn Văn Đam, tiểu đội trưởng truyền đạt mang mệnh lệnh lên chốt cây đa trúng đạn địch hy sinh. Chiến sĩ đài vô tuyến điện ở sở chỉ huy là người dân tộc Mông bị thủ trưởng quát mắng sợ cuống cả lên nói không thành lời. Tôi phải trực tiếp cầm tổ hợp máy vô tuyến những lúc tình hình chiến sự ác liệt để đảm bảo thông tin liên lạc. Cứ thế, đơn vị báo cáo về, lệnh của tiểu đoàn xuống các đại đội được truyền qua mạng thông tin vô tuyến điện của tiểu đội tôi luôn thông suốt.
Đại đội 11 là đơn vị đầu tiên của Tiểu đoàn 3 nổ súng chặn đánh bộ binh và xe tăng của quân xâm lược Trung Quốc. Các khẩu đội cối 82 và 12ly7 của Đại đội 12 ở trên Lũng Mật, Lũng Vỉ đã tích cực chi viện rất hiệu quả cho Đại đội 11 giữ chốt. Ngay buổi sáng ngày 17-2, Đại đội 11 đã bắn cháy 2 xe tăng, tiêu diệt gần 300 tên địch, giữ vững được trận địa. Bọn địch mấy lần bị đẩy lui xuống cánh đồng. Tin chiến thắng báo về khiến mọi người ở sở chỉ huy tiểu đoàn rất phấn khởi.
Qua máy vô tuyến, chỉ huy Đại đội 11 báo cáo rõ thêm tình hình: “Trung đội phó Trần Xuân Ngọc xuống tận bụi tre dưới chân chốt sát con đường từ cửa khẩu xuống phục kích đón bắn xe tăng địch. Khi những chiếc xe tăng lao tới anh bắn cháy một chiếc. Chiếc xe tăng bị bắn cháy ngay giữa đội hình bộ binh của chúng khiến quân địch hoảng loạn. Trần Xuân Ngọc đã hy sinh khi chuẩn bị bắn quả đạn thứ hai”. Chiếc xe tăng của quân xâm lược Trung Quốc do Trần Xuân Ngọc bắn cháy cũng là chiếc đầu tiên do Tiểu đoàn 3 tiêu diệt. Trần Xuân Ngọc quê ở xã Đại Đình, huyện Tam Dương, Vĩnh Phúc. Ngọc nhập ngũ tháng 11-1976, là chiến sĩ của tiểu đội tôi khi còn đường ở Hà Giang. Ngọc đã có vợ và một con, tính tình hiền lành, ít nói, rất cần cù chịu khó trong công việc hằng ngày.
Sau đợt tấn công đầu tiên của địch một số cán bộ, chiến sĩ Đại đội 11 hy sinh và bị thương. Anh em bị thương được đưa ngay về tuyến sau. Từ trên hang Ma Gà tôi nhìn thấy có cả mấy cô gái dân quân các bản Cốc Sâu, Kép Ké cùng với bộ đội lên tuyến trước chuyển thương.
Khoảng 8 giờ sáng, bọn địch tổ chức đợt tấn công mới vào trận địa của Đại đội 11. Hỏa lực các loại của địch bắn rất ác liệt vào các chốt cây đa và mỏm ĐKZ. Hỏa lực địch chưa ngớt bộ binh và xe tăng của chúng đã tràn sang trận địa của ta. Chỉ huy Đại đội 11 điện về tiểu đoàn báo cáo: “Địch đang tấn công rất dữ dội vào trận địa. Đồng chí chuẩn úy Dương Đình Hà, chính trị viên phó đại đội hy sinh. Quân địch đã chiếm được mỏm ĐKZ và phần lớn chốt cây đa thứ nhất. Đại đội 11 xin hỏa lực bắn vào mỏm ĐKZ và phía trước điểm chốt cây đa thứ nhất...”. Chỉ huy Đại đội 11 chưa báo cáo xong thì đường dây lại bị đứt. Tôi nghe tiếng tiểu đoàn trưởng Thiêm nói như quát vào tổ hợp:
- A lô... a lô Đại đội 11... Đại đội 11 đâu...?
Các chiến sĩ hữu tuyến lại vội đeo máy vác cuộn dây lao xuống cánh đồng. Tôi vội bấm công tắc tổ hợp máy vô tuyến gọi Đại đội 11. Tiếng chiến sĩ Châu vang lên rành rọt trong tai nghe truyền đạt báo cáo tình hình của chỉ huy Đại đội 11: “Đại đội 11 xin pháo bắn vào chốt cây đa thứ nhất và mỏm ĐKZ”. Khi tôi báo cáo lại, tiểu đoàn trưởng Thiêm quát:
- Bắn vào đâu! Bắn vào đâu? Hỏi lại xem Đại đội 11 xin hỏa lực bắn vào đâu rõ chưa?
Tôi lập tức hỏi lại và vẫn nhận được báo cáo và yêu cầu khẩn cấp của chỉ huy Đại đội 11: “Quân địch đã chiếm được phần lớn chốt cây đa thứ nhất, hiện nhiều tên đã lao xuống tuyến công sự thứ hai rồi. Đại đội 11 đang chiến đấu rất quyết liệt nhưng chưa đẩy lùi được quân địch vì chúng quá đông. Xin tiểu đoàn cho pháo bắn vào chính giữa cây đa thứ nhất...”.
Sau khi chỉ huy tiểu đoàn hội ý chớp nhoáng, tiểu đoàn trưởng Trần Tất Thiêm lệnh cho tôi:
- Gọi ngay cho Đại đội 12, thông báo chuẩn bị phần tử bắn: “Chốt cây đa thứ nhất của Đại đội 11”.
Tôi lập tức báo ngay cho Đại đội 12 hỏa lực. Chỉ huy và các chiến sĩ ở đài quan sát của Đại đội 12 vô cùng sửng sốt hỏi lại tiểu đoàn xem chỉ thị bắn vào đâu? Tôi phải nhắc lại mệnh lệnh của tiểu đoàn trưởng thêm một lần nữa. Tình huống lúc này trở nên vô cùng căng thẳng, nguy hiểm. Đại đội 12 chuẩn bị phần tử bắn xong, tiểu đoàn trưởng Trần Tất Thiêm và chính trị viên Hoàng Quốc Doanh lại bảo tôi điện hỏi lại Đại đội 11 thêm một lần nữa cho thật chắc chắn rồi mới hạ lệnh cho Đại đội 12 bắn cấp tập cối 82 vào điểm chốt cây đa thứ nhất. Ngay sau đó chúng tôi nhận được điện chỉ huy Đại đội 11 báo về “Đạn cối của ta bắn rất chính xác, quân địch chết rất nhiều”. Đại đội 11 đề nghị hỏa lực tiếp tục bắn thêm vào chốt cây đa thứ nhất để đẩy lui bọn chúng xuống dưới cánh đồng bản Nà Sác...
Gần trưa ngày 17-2, đường dây lên chốt của Đại đội 11 được nối thông. Tiếng chuông máy điện thoại reo lên giòn giã trong hang. Tiểu đoàn trưởng Trần Tất Thiêm lập tức chộp ngay lấy máy gọi cho chỉ huy Đại đội 11. Giọng nói của tiểu đoàn trưởng Thiêm bớt gay gắt và có vẻ xúc động:
- A lô! Đại đội 11, anh Tuân đấy hả? Bọn địch đã chiếm được chốt cây đa thứ nhất và mỏm ĐKZ, nhưng chúng cũng đã bị thiệt hại nặng... Các anh phải nhanh chóng xốc lại đội hình đơn vị, kiên quyết không cho địch phát triển sang chốt cây đa thứ hai... Phải chặn đứng bọn chúng lại... Rõ chưa?
Không biết đầu dây bên kia đại đội trưởng Tuân báo cáo lại tình hình như thế nào, chỉ nghe thấy tiểu đoàn trưởng Trần Tất Thiêm nói to, giọng anh đanh lại:
- Mất một tấc đất lúc này là có tội với Tổ quốc và nhân dân đấy! Đại đội 11 phải cố gắng cầm cự đến tối. Ta sẽ tổ chức phản công lấy lại bằng được các vị trí đã mất! Rõ chưa?
Tiểu đoàn trưởng đặt máy điện thoại. Nét mặt anh có vẻ lo lắng. Do chưa nắm được tình hình của các hướng và cũng chưa thể lường hết diễn biến của chiến tranh nên việc để mất trận địa, mất đất vào tay quân xâm lược ngay trong ngày đầu tiên của cuộc chiến là một vấn đề rất nghiêm trọng đối với tiểu doàn chúng tôi. Ai cũng thấy vô cùng lo lắng, bức xúc, nhất là những người chỉ huy tiểu đoàn. Các cán bộ trong hang chỉ huy tiểu đoàn đứng ngồi không yên khi Đại đội 11 để mất chốt tiền tiêu. Tình hình càng trở nên căng thẳng hơn khi đến khoảng 11 giờ bọn địch hầu như đã chiếm được toàn bộ điểm chốt cây đa thứ nhất và mỏm ĐKZ. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 11 phải co cụm về chốt cây đa thứ hai. Họ đã phải chiến đấu rất quyết liệt mới ngăn chặn được quân bành trướng dùng chiến thuật “biển người” để tràn lên gốc đa thứ hai. Chốt cây đa thứ hai đang chìm ngập trong lửa đạn. Chỉ huy Đại đội 11 đề nghị tiểu đoàn chi viện khẩn cấp. Tiểu đoàn trưởng Trần Tất Thiêm, chính trị viên tiểu đoàn Hoàng Quốc Doanh trao đổi với nhau phương án phản kích để lấy lại chốt cây đa thứ nhất.
Giữa lúc chỉ huy tiểu đoàn đang bàn phương án chiến đấu thì từ phía biên giới có tiếng máy bay địch. Chính trị viên Hoàng Quốc Doanh hạ lệnh cho các bộ phận ngụy trang cửa hang và tăng cường quan sát, cảnh giới. Anh bảo tôi điện cho các đại đội sẵn sàng bắn máy bay địch bay thấp. Nhưng máy bay địch không xuất hiện, chúng bay ở phía bên kia đường biên. Giữa lúc đó thì chuẩn úy Nguyễn Văn Thanh, trung đội trưởng trung đội vận tải của tiểu đoàn xuất hiện vào trong hang báo cáo:
- Trung đội vận tải đã chuyển hết tất cả số đạn AK, đạn đại liên, đạn B41 và đạn cối ra khỏi bản Cốc Vường!
- Tốt lắm! - Chính trị viên Hoàng Quốc Doanh nói và hỏi thêm: - Bọn địch bắn rát thế anh em có ai việc gì không?
- Báo cáo chính trị viên không ạ!
- Được! Đồng chí cho anh em nghỉ một lát sau đó tiếp tục nhận nhiệm vụ rõ chưa?
- Rõ! - Trung đội trưởng Thanh đáp rồi chào và quay ra khỏi hang.
Bọn bành trướng tiếp tục tổ chức các đợt tấn công mới hòng chiếm toàn bộ chốt của Đại đội 11, mở thông con đường tiến quân xuống thị trấn Sóc Giang. Nhưng bọn chúng đã vấp phải sức kháng cự kiên cường của quân ta phải bật trở lại. Xác quân xâm lược nằm ngổn ngang trên sườn đồi chốt cây đa thứ hai.
Đến chập tối, bọn địch mới tạm chấm dứt một ngày tấn công dữ dội vào các chốt tiền tiêu của Tiểu đoàn 3. Chúng chiếm được mỏm ĐKZ và chốt cây đa thứ nhất. Bọn chúng thu quân nhưng vẫn nã pháo rất ác liệt vào chốt cây đa thứ hai và các trận địa của ta. Chỉ huy tiểu đoàn quyết định điều Trung đội 3 của Đại đội 10 do chuẩn úy, trung đội trưởng Lê Hồng Giang chỉ huy lên phối thuộc cùng Đại đội 11 tổ chức phản công chiếm lại điểm chốt cây đa thứ nhất. Khoảng 10 giờ đêm ngày 17-2, trung đội trưởng Lê Hồng Giang dẫn trung đội đánh thốc lên đỉnh đồi chiếm lại chốt cây đa thứ nhất, hất bọn bành trướng xâm lược xuống cánh đồng bản Nà Sác. Bọn địch bỏ chạy tán loạn để lại nhiều xác chết.
Đó là diễn biến của ngày đầu tiên Tiểu đoàn 3 chúng tôi giao chiến với quân Trung Quốc xâm lược để bảo vệ Hà Quảng, bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu...
Cao Bằng - 1979
Hà Nội, 1-2022
Ghi chép của Trọng Bảo
Ảnh: Hạ sĩ Nguyễn Văn Đam, Tiểu đội trưởng Truyền đạt, Trung đội Thông tin Tiểu đoàn 3 hy sinh ngày 17/2/1979 tại trận địa chốt cây đa cửa khẩu Bình Mãng, Hà Quảng.
Có thể là hình ảnh đen trắng về người, trẻ em và đang đứng