Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

Ghi chép NHỚ VỀ HÀ QUẢNG

     NHỚ VỀ HÀ QUẢNG

4-TẾT Ở BIÊN CƯƠNG

Sắp đến Tết nguyên đán. Những ngày cuối năm âm lịch trời hanh khô nhưng rét đậm. Tiểu đoàn 3 chúng tôi nhận được lệnh tổ chức cho bộ đội ăn Tết nguyên đán trước. Trong những ngày Tết bộ đội sẽ lên chốt trực chiến canh gác, bảo vệ cho nhân dân đón Tết, vui xuân. Vậy là bốn năm rồi trong cuộc đời quân ngũ tôi đều ăn Tết tại đơn vị. Cái tết đầu tiên là ở Đại Từ, Thái Nguyên, tết thứ hai ở Tuyên Quang, tết thứ ba ở giữa rừng già Bắc Quang, Hà Giang và tết này thì ở chốn biên cương Hà Quảng, Cao Bằng. Gần Tết chúng tôi không còn ở nhà cô Huyền bên kia đường nữa mà được lệnh phân tán vào ở trong các dân sát chân núi đá.
Đơn vị tổ chức gói bánh chưng từ ngày 26 Tết. Dân bản chưa bận làm bánh tết nên rất đông các bà, các chị, các em gái kéo đến giúp bộ đội gói bánh. Thật là vui. Tôi trông thấy em Huyền đang cùng mấy chị em đãi gạo nếp, rửa cắt lá dong. Em Huyền đúng là “hoa khôi” của bản Nà Cháo như cánh lính vẫn nói với nhau. Trông cô gái nổi bật nhất đám thanh nữ. Bếp nấu bánh trưng được đặt ngay góc thửa ruộng cạn bên bờ suối. Đang là mùa khô nên chả cần che lợp gì. Chúng tôi sẽ cắt phiên nhau thường trực đun bánh cả đêm.
Thế nhưng khi nồi bánh nước chưa kịp sôi thì lại có lệnh báo động chiến đấu, các đơn vị cơ động lên trận địa. Trừ bộ phận hậu cần ở lại bản nấu bánh, nấu cơm đem lên trận địa còn tất cả chúng tôi nhanh chóng phóng về nhà lấy vũ khí trang bị, mang ba lô tập trung hành quân lên chốt. Các bộ phận hối hả chạy ra đường tập trung. Ở trung đội thông tin khi báo động chiến đấu có lẽ tôi là người “nhàn nhất”. Bởi vì khi có mệnh lệnh chiến đấu thì tiểu đội vô tuyến điện của tôi lập tức chia thành các tổ đài cơ động ngay xuống các đại đội để đảm bảo thông tin liên lạc. Tại cơ quan tiểu đoàn bộ chỉ còn một tổ đài phục vụ chỉ huy tiểu đoàn. Tôi lúc này trở thành tổ trưởng một tổ ba người. Tôi đeo súng khoác ba lô đi cuối đội hình của trung đội thông tin. Anh em các tiểu đội hữu tuyến đeo dây máy súng đạn lỉnh kỉnh leo lên điểm cao 505. Tôi gặp Hà Trung Lợi, tiểu đội trưởng hữu tuyến ở lưng dốc. Hà Trung Lợi là người Mường, quê ở Thanh Sơn, Phú Thọ. Vừa trông thấy tôi thằng Lợi đã hỏi ngay:
-Tao tưởng mày văn hay, chữ tốt nên ở lại bản làm nốt tờ báo tường “Mừng Xuân đón tết” cho trung đội ta cơ mà?
Tôi vừa thở vừa nói:
-Báo tường với báo tiếc làm cái mẹ gì nữa! Đánh nhau đến nơi rồi mày biết không?
Thằng Lợi chưa kịp hỏi thêm gì thì có tiếng người nói ngay phía sau lưng:
-Ai bảo là “đánh nhau đến nơi rồi”? Mà có đánh nhau thì tết đến, xuân về báo tường vẫn cứ phải làm, bánh vẫn cứ gói. Rõ chưa?
Tôi và thằng Lợi giật mình quay lại. Hóa ra đó là chính trị viên tiểu đoàn Hoàng Quốc Doanh đang đi ở phía sau. Anh Doanh nhìn chúng tôi rồi nói thêm:
-Mà hai thằng chúng bay liệu hồn đấy! Tao nghe nói là hai thằng chúng mày rất liều lĩnh, vô kỷ luật. Việc thằng Bảo hôm trước phóng xe mô tô lên cửa khẩu Bình Mãng tao còn chưa “hỏi tội” đâu đấy…
Tôi ấp úng:
-Vâng… vâng… em sẽ rút kinh nghiệm ạ…
-Hừ… - Chính trị viên tiểu đoàn Hoàng Quốc Doanh gườm gườm nhìn tôi rồi đi vượt lên phía trước đội hình hành quân.
Đến vị trí chỉ huy của tiểu đoàn trên đỉnh 505 chúng tôi nhanh chóng tìm chỗ đặt máy vô tuyến, căng dây an-ten rồi mở máy thông mạng liên lạc toàn tiểu đoàn rồi mới tìm chỗ dưới giao thông hào để ngủ nghỉ qua đêm trên chốt.
Mãi đến cuối buổi chiều hôm sau, khi tôi đang ngồi trong hầm lúi húi ghi chép thì Nguyễn Văn Đam, tiểu đội trưởng tiểu đội truyền đạt chạy đến thông báo lệnh của trung đội trưởng:
-Hạ cấp báo động rồi! Mày cho anh em lên vị trí tập trung của trung đội để hành quân trở về bản Nà Cháo nhé!
Tôi vội đứng dậy nói với thằng Đam:
-Thế thì tốt quá rồi! Tết nhất đến nơi rồi mà còn giở dói ra đánh nhau thì… mất cả tết.
Thằng Đam bảo:
-Có lẽ là bọn Trung Quốc nó cũng đang bận chuẩn bị ăn tết mày ạ! Ta với nó đều ăn tết âm lịch đấy.
Tôi nói với thằng Đam:
-Mẹ kiếp! Nó chủ động, mình thì bị động. Nó có biểu hiện gì khang khác một tý là ta lập tức lại phải lo đối phó, đề phòng. Cứ liên tục báo động chiến đấu, cơ động lên lên, xuống xuống trận địa mãi thế này thì cũng mất tết luôn đấy!
-Thì phải luôn cảnh giác, sẵn sàng chứ! Chúng ta đang ở ngay trước mũi súng của nó thế này mà... Thôi, hạ cấp báo động chúng ta cứ về bản ăn tết cái đã.
Khi chúng tôi hành quân về đến bản Nà Cháo thì các tổ đài vô tuyến đi tăng cường cho các đại đội cũng lục tục trở về. Chỉ riêng tổ đài tăng cường cho Đại đội Hỏa lực 12 tít trên Lũng Mật là chưa về đến Nà Cháo vì đường xuống núi rất dốc và xa. Vừa đặt ba lô xuống thì nhận được thông báo của hậu cần tiểu đoàn, tiểu đội phó Vũ Văn Tự vội gọi mấy chiến sĩ cùng đi nhận bánh chưng. Bộ đội ngày ấy khi tết đến ngoài số bánh chưng để lại liên hoan ăn tết chung tại nhà bếp thì mỗi người được chia một cái bánh mang về muốn ăn lúc nào thì ăn. Cái bánh chưng ấy coi như là quà tết của chiến sĩ. Tiểu đội phó Tự mang bánh trưng về rồi gọi tôi sang lấy bánh. Trời đã chập choạng tối. Nhìn đống bánh chưng xếp trên sàn nhà tôi liền hỏi:
-Sao lại có hai cái bánh chưng gì to thế hả?
-Không phải bánh đâu anh ạ! Đấy là hai tấm vải liệm. Hậu cần tiểu đoàn vừa mới cấp phát cho tiểu đội ta…
Tôi nhăn mặt làu bàu:
-Mấy thằng hậu cần tiểu đoàn chả ra làm sao… Tết nhất cấp bánh chưng lại cấp luôn cả vải liệm liệt sĩ nữa, ăn bánh mất cả ngon.
Thằng Tự vội phân bua:
-Không phải thế đâu anh ạ! Số vải liệm này họ đã cấp cho các bộ phận từ mấy hôm trước rồi. Tiểu đội ta do phân tán xuống các đơn vị nên chưa nhận. Hôm nay lên lấy bánh chưng họ đưa cho nên em nhận đem về luôn…
Nghe Tự nói như vậy tôi hỏi:
-Thế đã giao cho anh em nào giữ chưa?
-Chưa anh ạ! Thấy hai tấm vải liệm thằng nào cũng sợ, lảng hết. Không ai muốn giữ nó anh ạ!
Tôi bảo:
-Đó chỉ là những tấm vải mới tinh, việc gì mà sợ… Thôi, hai tấm vải liệm, tiểu đội trưởng, tiểu đội phó mỗi thằng chúng mình giữ một tấm…
Nói đoạn, tôi cầm cái bánh chưng và một tấm vải liệm xuống bậc thang đi về nhà ở của mình. Về đến nhà tôi mở tấm vải liệm ra gấp lại cho gọn. Đó là một tấm vải màu xanh mỏng hình chữ nhật gần giống cái vỏ chăn đơn nhưng người ta chỉ may kín hai cạnh liền kề nhau, để hở hai cạnh kia. Tấm vải có đính sẵn ba đoạn dây cũng làm bằng vải ở giữa và hai đầu. Khi khâm liệm chỉ cần đặt xác người vào gấp lại và dùng ba giải dây đó để buộc ngang bụng, buộc cổ và buộc chân là xong, rất nhanh gọn.
Khi tôi đang cho tấm vải liệm vào ba lô thì thằng Đam đến. Nó đưa cho tôi một nắm bìa cắt nhỏ chỉ bằng hai ngón tay và bảo:
-Đây là các mã số của anh em trong tiểu đội vô tuyến. Mày dặn mọi người nhớ là phải luôn để trong túi áo nhé!
Tôi hiểu, để phòng tình huống xấu xảy ra trong chiến đấu, mỗi người chúng tôi đều có một mã số riêng thêu trên nắp túi áo bên trái và in vào mảnh giấy bìa nhỏ bằng ba đầu ngón tay bỏ trong túi giấy bóng dán kín cho khỏi ướt. Bộ đội phải luôn để mảnh giấy ghi mã số riêng của mình trong túi quần, túi áo phòng khi ai hy sinh thì chôn theo để sau này còn xác định danh tính (Nếu không nhớ nhầm thì mã số của tôi ngày ấy là JA-01)…
Vậy là đón Tết ở biên cương phía Bắc này chúng tôi được cấp bánh chưng, vải liệm và mã số để đánh dấu mộ chí của mình… Một cái tết của người lính biên thùy thật là đặc biệt và mang một nỗi buồn ảm đạm, không ai mong đợi. Nhưng biết làm sao được? Chiến tranh là như vậy, không thể nào khác...
Cao Bằng - 1979
Hà Nội, 10-2021
Ghi chép của Trọng Bảo
Có thể là hình ảnh về thiên nhiên, cây và núi

Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2021

Ghi chép NHỚ VỀ HÀ QUẢNG

     NHỚ VỀ HÀ QUẢNG

3-CỬA KHẨU BÌNH MÃNG

Một hôm, tôi đang ngồi chuẩn bị giáo án huấn luyện bộ môn vô tuyến điện tại nhà ở thì có tiếng xe máy ùng ục rú lên ngay dưới sàn nhà. Tôi ra cửa nhà sàn ngó nhìn xuống thì thấy thằng Long và thằng Ký, lính truyền đạt của đại đội thông tin trung đoàn đang ngồi trên chiếc xe mô tô ba bánh sơn màu rêu xanh vẫn còn đang nổ máy. Thằng Long “ruồi” ngó lên nhận ra tôi liền gọi to:
-Bảo ơi! Mày đưa bọn tao lên cửa khẩu Bình Mãng nhé!
Tôi liền hỏi lại:
-Lên làm gì thế?
-Thì… bọn tao lên đây bao ngày rồi mà có biết biên giới, cửa khẩu thế nào đâu. Đưa chúng tao đi xem một tý…
Tôi nhảy xuống đất và nói:
-Tao cũng đã lên cửa khẩu lần nào đâu. Để tao dẫn chúng mày đi…
Thằng Ký cầm lái, thằng Long ngồi phía sau. Hai thằng bảo tôi ngồi vào thùng xe. Chúng tôi phóng xe lên hướng cửa khẩu Bình Mãng. Vừa đi chúng tôi vừa hỏi thăm nhau. Đã lâu lắm rồi chúng tôi mới gặp lại nhau. Tôi, thằng Long và thằng Ký vốn đều là lính của Đại đội Thông tin 17, Trung đoàn 246 từ thời còn đóng quân ở Đại Từ, Thái Nguyên. Hai thằng này là lính quân bưu còn tôi là lính 2W. Khi tôi về Tiểu đoàn 3 thì chúng nó vẫn ở trung đoàn. Hôm nay, hai thằng mang công văn, văn kiện của trung đoàn lên cho chỉ huy Tiểu đoàn 3. Xong việc bọn chúng chợt nhớ ra tôi đang ở Tiểu đoàn 3. Hai thằng tìm và rủ tôi cùng lên tham quan cửa khẩu biên giới. Lần đầu tiên được ngồi trên chiếc mô tô ba bánh phóng trên đường biên giới tôi vô cùng thích thú. Qua khỏi trường cấp 1+2 Sóc Giang thì chúng tôi gặp một toán nữ thanh niên xung phong đi rào biên giới về đang ngồi nghỉ bên đường. Thằng Ký cho xe đi chậm lại. Một cô gái to béo gọi to:
-Anh bộ đội lái xe bình bịch ơi! Anh cho xe đi chầm chậm thôi nhé kẻo “nhỏ nhẹ” như anh gió nó thổi bay mất đấy!
-Mà… bay luôn sang Trung Quốc mất thì không ai đền được đâu!
Một cô khác nói thêm. Cả bọn cười ré lên. Thằng Ký biết là các cô gái có ý châm chọc nó là một anh bộ đội còi, gió thổi bay. Thằng này thân hình đùng là khá gầy gò nhỏ bé. Khi nó cầm lái chiếc mô tô ba bánh cồng kềnh trông như đứa trẻ con cưỡi một chú trâu mộng. Thằng Ký nghe các cô gái trêu chọc không tỏ vẻ gì bực mình, tự ái. Nó liền giảm tốc độ, cua xe sát chỗ đám thanh niên xung phong đang ngồi nghỉ rồi nói to:
-Em ơi! “Đừng chê anh bé mà sầu/ Con ong nó đốt quả bầu cũng… sưng”… Khi nào hết chiến tranh chúng mình thử xem có đúng không nhé!
Đám thanh niên xung phong lại cười nghiêng ngả. Mấy cô đứng bật ngay dậy định nhào ra chặn chiếc xe. Thằng Ký vội tăng ga cho xe phóng lướt đi. Phóng qua bản Cốc Vường, chúng tôi đến bản Nà Sác. Trận địa phòng ngự của Đại đội 11 trên hai quả đồi đất có hai cây đa cổ thụ. Phía bên phải cánh đồng bản Nà Sác là dãy núi đá chạy liền một dải sang đất ta. Trên một mỏm núi đá ăn sâu vào cánh đồng Nà Sác là cái lô cốt Tàu Tưởng to lù lù với các lỗ châu mai đen sì trông như những con mắt cú vọ luôn nhòm ngó, soi mói xuống cánh đồng và từng ngôi nhà trong bản Nà Sác của ta.
Trạm kiểm soát cửa khẩu của công an vũ trang là ngôi nhà cấp bốn nằm nằm trơ chọi giữa cánh đồng, cách đường biên vài mét. Mặt tiền của ngôi nhà nhìn ra đường, đầu đốc hướng về phía biên giới. Phía bên kia biên giới là khu nhà cao tầng. Trung Quốc xây nhà sát đường biên giới, hết phần đất của họ. Biên giới giữa hai nước ở giữa cánh đồng này chỉ là con mương nước nhỏ rộng độ một mét. Chúng ta đã rào kín cửa khẩu và đoạn biên giới trên cánh đồng bản Nà Sác. Hàng rào biên giới có ba lớp. Phía trước là rào bằng tre nứa, tiếp sau là lớp rào dây thép gai và chông tre, chông sắt.
Thằng Ký lái chiếc xe mô tô ba bánh đến sát biên giới rồi vòng lại tạt vào đỗ ở giữa sân trạm kiểm soát của công an vũ trang (sau này Công an vũ trang đổi tên thành Bộ đội Biên phòng). Trạm kiểm soát của công an vũ trang đã rút phần lớn lực lượng về phía sau kể từ khi tình hình biên giới bắt đầu căng thẳng. Tại trạm chỉ còn một tổ canh gác ban ngày, ban đêm thì bí mật lui về phía sau đề phòng bọn Tàu lẻn sang tập kích bất ngờ. Một chiến sĩ công an vũ trang đưa chúng tôi vào trạm. Anh dẫn tôi vào căn phòng đầu nhà hướng sang phía Trung Quốc. Bức tường trong phòng phía biên giới được xây dày gần một mét bằng bê tông cốt thép, có các ô cửa sổ gần giống như lỗ châu mai. Căn nhà làm trạm kiểm soát biên giới này xây dựng đã lâu, từ khi hai nước Việt - Trung còn là anh em, đồng chí hữu hảo. Hóa ra ngay khi tình hữu nghị còn rất mặn nồng, cùng phe XHCN như thế mà ta vẫn phải cảnh giác, đề phòng. Bức tường đầu đốc của trạm kiểm soát biên giới này sẽ là “chiến lũy, lá chắn” tạm thời khi bị tấn công bất ngờ bằng súng bộ binh hạng nhẹ.
Sau khi tham quan cửa khẩu Bình Mãng, chúng tôi chia tay các chiến sĩ công an vũ trang quay về. Thằng Ký và thằng Long đưa tôi về đến đầu bản Nà Cháo thì quay xe ngược trở lại thị trấn Sóc Giang để về đơn vị. Tôi vừa về đến nhà ở của tiểu đội thì thấy trung đội trưởng Phạm Hoa Mùi đang đứng đợi. Vừa nhìn thấy tôi Mùi đã nói ngay:
-Sao chúng mày liều thế! Dám nghênh ngang phóng xe mô tô lên tận sát biên giới. Lỡ bọn Trung Quốc từ trên lô cốt Tàu Tưởng nó ngứa mắt bắn cho một loạt thì tan xác hết. Chỉ huy tiểu đoàn đang cáu lắm. Các ông ấy cho gọi mày lên để tường trình đấy. Mày liệu mà giải thích, hiểu không?
Tôi lo lắng thập thõm bước qua con đường nhỏ lên nhà chỉ huy tiểu đoàn. Tôi hiểu việc tự ý lên biên giới là sai và nguy hiểm, không khéo phen này sẽ bị kỷ luật như chơi. Tôi bước vào nhà chỉ huy. Chính trị viên tiểu đoàn, thượng úy Hoàng Quốc Doanh gườm gườm nhìn tôi. Nhưng anh chưa kịp nói gì thì có chuông điện thoại. Nghe xong điện thoại anh vội bảo tôi: “Về đơn vị ngay, nhanh lên! Có lệnh của trung đoàn, báo động chiến đấu…”.
Cao Bằng - 1979
Hà Nội, 10-2021
Ghi chép của Trọng Bảo
Ảnh: Cửa khẩu Sóc Giang - Bình Mãng (Hà Quảng, Cao Bằng) hiện nay.
Có thể là hình ảnh về ngoài trời

Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2021

Ghi chép NHỚ VỀ HÀ QUẢNG

     NHỚ VỀ HÀ QUẢNG

2-“PÂY HÁNG” SÓC GIANG

Lên biên giới, toàn đơn vị vừa huấn luyện vừa tổ chức xây dựng trận địa phòng ngự. Công việc khẩn trương nên chúng tôi chỉ loanh quanh tập bắn súng bộ binh ở đám ruộng gần bờ suối hoặc huấn luyện nghiệp vụ thông tin ở gò đất đầu bản Nà Cháo. Khi triển khai huấn luyện đảm bảo thông tin liên lạc vô tuyến điện tiểu đội tôi triển khai các tổ đài xuôi về hướng xã Quý Quân. Mãi đến một ngày chủ nhật được nghỉ, lại đúng phiên chợ tôi quyết định đi chơi chợ Sóc Giang. Từ bản Nà Cháo lên chợ thị trấn Sóc Giang chỉ hơn cây số.
Tôi gọi chiến sĩ Hoàng Quy, người dân tộc Tày, quê ở huyện Thông Nông, Cao Bằng cùng đi. Dọc đường lên thị trấn Sóc Giang chúng tôi gặp nhiều bà con dân tộc từ dưới Mỏ Sắt, Quý Quân lên, từ trên Lũng Vài, Lũng Vỉ xuống chợ. Họ ngồi nghỉ ở đầu dốc gần bản Nà Nghiềng. Qua bản Nà Nghiềng thì tới chợ Sóc Giang. Tôi chào bà con. Một chị chào lại rồi hỏi:
-Các chú bộ đội cũng “pây háng” Sóc Giang à?
Tôi vội kéo tay thằng Quy:
-Chị ấy bảo gì thế?
-Chị ấy hỏi anh là “cũng đi chợ Sóc Giang à?”
Thì ra tiếng Tày “pây háng” tức là đi chợ. Tôi vội đáp:
-Vâng! Chúng em cũng đang “pây háng” Sóc Giang đây…
Các bà, các chị cùng cười. Một bà nói:
-Các chú có mua rau, mua thịt thì chúng tôi bán cho. Ở chợ giá 20 đồng thì đồng bào chỉ lấy của bộ đội 16 đồng thôi…
-Vâng ạ!
Sau này tôi mới hiểu. Hóa ra từ ngày có bộ đội lên giữ chốt có một quy định không thành văn ở chợ Sóc Giang là giá cả các mặt hàng bán cho bộ đội phải rẻ hơn bán cho khách hàng khác ít nhất là 20%. Không ai bảo ai mọi người buôn bán ở chợ đều thực hiện đúng theo như vậy. Bộ đội hỏi mua không một ai từ chối bán. Ở chợ tôi mua hai cái bánh sừng bò làm bằng gạo nếp nương khá ngon giá bốn đồng bà cụ bán hàng chỉ lấy ba đồng rưỡi.
Chợ Sóc Giang ngày ấy là những dãy nhà làm bằng gỗ nghiến, lợp ngói máng khá vững chắc. Trong chợ ngoài mấy hàng tạp hóa còn lại chủ yếu là các mặt hàng nông, lâm thổ sản, các loại bánh do đồng bào địa phương làm. Có vài phản thịt lợn, vài quán bán phở, đồ ăn luôn tại chợ. Phiên chợ vùng cao thường là như thế. Người Mông trên núi cao xuống chợ thường có cả vợ, cả chồng. Khi người vợ đi mua bán hàng thì anh chồng vào quán rượu. Lâu lâu bạn bè gặp nhau “không say, không về”. Nhưng phiên chợ Sóc Giang giờ thì hơi khác thường. Không còn cảnh những người đàn ông khi tan chợ vẫn còn say nghiêng ngả, nằm la liệt ở chợ, nằm ngủ dọc đường hoặc nắm đuôi ngựa để leo dốc lên núi. Không khí chiến tranh đang từ phía bên kia biên giới tràn sang. Người đi chợ mua bán nhanh để còn về bản lo đưa trẻ con đi sơ tán, thanh niên trai tráng lên rào biên giới, đi đào hầm giúp bộ đội.
Sau khi lướt một vòng chợ tôi đi tham quan thị trấn. Bên kia con đường trục lên cửa khẩu Bình Mãng là cửa hàng bách hóa và hiệu sách, đi lên hướng biên giới là trường cấp 1+2, xuôi về phía ngã ba Đôn Chương là cửa hàng thực phẩm. Cơ quan huyện ủy Hà Quảng ở dưới chân một mỏm núi gần chợ Sóc Giang. Gần đó là nhà bưu điện huyện. Trụ sở UBND huyện Hà Quảng thì ở mãi mé bên kia đường, sát gần chân dãy núi đá.
Đang lang thang ở thị trấn Sóc Giang thì bất ngờ tôi gặp thằng Tâm. Nguyễn Công Tâm quê ở Thái Bình, cùng lớp lính nhập ngũ đợt tháng 2-1975 như tôi, cũng đeo quân hàm hạ sĩ cũ mốc meo và chức vụ tiểu đội trưởng, đầu binh cuối cán giống như tôi. Hiện thằng Tâm là quân của Đại đội 10. Lâu rồi chúng tôi mới gặp lại nhau, Nguyễn Công Tâm mừng quá cứ nắm chặt tay tôi. Nó vui mừng báo tin:
-Tao vừa nhận được thư nhà xong. Vợ tao có thai rồi, sau Tết mới sinh. Hôm nào vợ tao sinh báo tin lên chúng mình gặp nhau, tao khao nhé!
Tâm lấy vợ đã lâu. Hai vợ chồng xa cách ít gặp nhau. Trước khi lên biên giới đi tập huấn tiểu đội trưởng Tâm mới tranh thủ về thăm nhà nên giờ đã có tin vui. Nhìn nét mặt quá đỗi vui mừng của nó tôi bảo:
-Tao sẽ chờ ăn khao đấy nhé!
Tâm vẫn chưa hết vui mừng. Nó bảo:
-Hay là bây giờ tao với mày vào chợ Sóc Giang làm bát phở với vài chén rượu ăn mừng trước đã nhé!
Tôi vội từ chối vì khả năng “kin lẩu” (uống rượu) rất kém và đã hẹn với thằng Quy gặp nhau ở cổng chợ để cùng trở về đơn vị, cuối buổi chiều còn có công việc. Sau Tết nguyên đán tôi gặp lại thằng Tâm. Nó tỏ ra rất sung sướng khi báo tin vợ đã sinh con trai, hẹn tôi đến ngày chủ nhật 17-2 gặp nhau ở chợ Sóc Giang để ăn khao. Nhưng bữa “ăn khao” ấy của thằng Tâm và tôi không bao giờ còn thực hiện được nữa…
Cao Bằng -1979
Hà Nội, 10-2021
Ghi chép của Trọng Bảo
Ảnh: Chợ phiên Sóc Giang hiện nay.
Có thể là hình ảnh về ngoài trời
Bạn, Ngô Quang Hà, Lão Vọng và 53 người khác
23 bình luận
6 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ